Nguyễn Văn Đôn – K45C4
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài “Giải pháp marketing nhằm
nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm nước rửa chén của công ty TNHH
Winmark Việt Nam trên địa bàn Hà Nội”.
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại những mặt tích cực và mặt hạn chế.
Một trong những ưu điểm của nền kinh tế thị trường là quy luật đào thải. Chính mặt
tích cực này đã làm cho nền sản xuất luôn luôn vận động theo chiều hướng đi lên.
Hiện nay, tất cả các công ty luôn phải cạnh tranh với nhau khốc liệt và các đối thủ
cạnh tranh liên tục thay đổi chính sách nhằm thu hút khách hàng về phía mình. Mỗi
một loại hàng hoá, người tiêu dùng nói chung đứng trước rất nhiều sự lựa chọn khác
nhau về chủng loại và nhãn hiệu hàng hoá, đồng thời nhu cầu của khách hàng cũng
ngày càng phong phú đa dạng. Do đó khách hàng có quyền lựa chọn những hàng hóa
có sức hấp dẫn nhất nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu và lợi ích của mình.
Đứng trước môi trường cạnh tranh gay gắt như vậy, các công ty phải làm gì để
tồn tại và chiến thắng? Các công ty thành công không thể làm việc theo cảm hứng và
thờ ơ trước nhu cầu của khách hàng cũng như đối thủ cạnh tranh, mà họ xem
Marketing là một triết lý toàn công ty chứ không chỉ là chức năng riêng biệt. Tất cả
các nhân viên của họ đều hướng theo khách hàng và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của họ.
Tuy vậy muốn thu hút được khách hàng thì cần phải có chiến lược định vị nhằm tạo ra
sự khác biệt hơn hẳn so với đối thủ cạnh tranh. Đồng thời phải luôn theo dõi từng cử
động của đối thủ cạnh tranh để có những phản ứng kịp thời. Các công ty này không thể
làm ngơ trước một chiến dịch quảng cáo, một chương trình khuyến mãi hay một sản
phẩm mới được cải tiến được tung ra thị trường, mà các đối thủ cạnh tranh được theo
dõi một cách sát sao và có chiến lược, chiến thuật cần thiết và hơn hẳn nhằm dành thế
chủ động. Vì vậy các công ty cần định rõ những điểm mạnh, điểm yếu của mình nhằm
định vị và khách biệt hoá tạo lợi thế cạnh tranh, song song với việc tìm ra những điểm
yếu, những kẽ hở của đối thủ cạnh tranh để tấn công và né tránh.
Các nhà sản xuất hóa chất tẩy rửa hiểu rõ ai cũng có thể làm được nước rửa
chén nhưng không phải ai cũng bán tốt được sản phẩm của mình. Thị trường nước rửa
chén diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt và tất yếu sẽ đào thải không khoan nhượng với
Việt Nam trên địa bàn Hà Nội”.
3. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước
Sức cạnh tranh của sản phẩm đối với một doanh nghiệp là nền tảng vững vàng
để phát triển, thực hiện được các mục tiêu chiến lược.Do vậy xây dựng và hoàn thiện
2
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là vấn đề được các doanh nghiệp rất quan tâm.
Nhận thấy được tính cấp thiết của đề tài,trường Đại học Thương Mại đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu liên quan có thể kể đến như sau:
“Giải pháp marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm – mặt hàng kinh
doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà” – Sinh viên Vương Mỹ Hạnh – Khoa Kinh
doanh thương mại – 2006
Luận văn đã đưa ra được một số lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm của công
ty kinh doanh và một số giải pháp marketing cơ bản để nâng cao sức cạnh tranh đặc
biệt là định vị lại thị trường mục tiêu, tuy nhiên nội dung chưa sâu, các giải pháp còn
ít và nhiều hạn chế…
“Một số giải pháp marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm sữa bột
Vinamilk” – Sinh viên Vũ Bích Thủy – Khoa kinh doanh thương mại – 2006
Luận văn đã đưa ra được một số lý luận về sức cạnh tranh khá đầy đủ và cũng đã đưa
ra được một số giải pháp marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm tuy
nhiên nhiều giải pháp còn xa vời, thiếu thực tế…
“Một số giải phấp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại ngân hàng
TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank” – Sinh viên Tống
Bạch Hùng – Khoa kinh doanh thương mại – 2006
Luận văn đã đưa ra được một số lý luận về sức cạnh tranh của sản phẩm và một số giải
pháp marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm tuy nhiên còn thiếu một
số vấn đề về lý luận và giải pháp còn nông, chưa thực sự đột phá.
Ngoài những luận văn tiêu biểu trên còn có những đề tài nghiên cứu khác, tuy nhiên
chưa có đề tài nào nghiên cứu về giải pháp marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh
sản phẩm rửa chén của công ty TNHH Winmark Việt Nam tại Hà Nội. Do đó đề tài
marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm nước rửa chén tại
công ty TNHH Winmark Việt Nam.
• Về khách hàng: đối tượng đề tài hướng tới là khách hàng tổ chức như
quán café, nhà hàng, khách sạn nhỏ, quán cơm… tại địa bàn Hà Nội
6. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: về phương pháp luận chung, khóa luận sử dụng phương
pháp duy vật biện chứng; về phương pháp luận riêng, khóa luận sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế như phương pháp thống kê, mô
tả, phân tích, so sánh, tổng hợp…khóa luận có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý
luận và điều tra thực tế thông qua phỏng vấn và khảo sát trong và ngoài công
ty.
Về phương phápnghiên cứu cụ thể: khóa luận có sử dụng một số phương pháp
như phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn giải,
phương pháp logics…
Về phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
4
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
• Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
− Đối tượng điều tra: khách hàng và nhà quản trị
− Quy mô: 20 khách hàng và 1 giám đốc, 1 nhân viên
- Phương pháp phiếu điều tra trắc nghiệm: Phương pháp này được thực hiện trên
cơ sở xây dựng phiếu điều tra trắc nghiệm, sau khi đã tiến hành phát phiếu điều
tra xong, cần tiến hành tổng hợp nhanh chóng, chính xác nhằm đảm bảo thông
tin cho vấn đề cần nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn : Phương pháp phỏng vấn là phương pháp hữu hiệu
được áp dụng cùng phương pháp điều tra trắc nghiệm khi phương pháp điều tra
trắc nghiệm không thể thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết. Đối tượng phỏng
vấn là nhà quản trị công ty nhằm làm rõ hơn về vấn đề giải pháp marketing
nhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm nước rửa chén của công ty.
• Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
công ty kinh doanh.
Chương 3: Phân tích các kết quả nghiên cứu về thực trạng giải pháp marketing nhằm
nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm nước rửa chén của công ty TNHH Winmark Việt
Nam.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất với vấn đề giải pháp marketing nhằm nâng cao sức
cạnh tranh sản phẩm nước rửa chén của công ty TNHH Winmark Việt Nam.
6
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao sức cạnh
tranh của công ty kinh doanh
2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về sức cạnh tranh và nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm
2.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh
Bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh một
loại hàng hoá nào đó trên thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Đây là một
điều tất yếu và là đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị trường.
Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá tư
bản chủ nghĩa. Khái niệm cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới nhiều góc
độ khác nhau trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế xã hội.
Theo Marx “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư
bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Còn theo cuốn từ điển kinh doanh (xuất bản 1992 ở Anh), cạnh tranh trong
cơ chế thị trường được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình định giữa các nhà kinh
doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”.
Như vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa
các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong việc giành giật thị trường và khách
hàng và các điều kiện thuân lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực
chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giũa các chủ thể tham gia
thị trường.
cạnh tranh không lành mạnh sẽ dấn tới có những mốt làn ăm vi phạm pháp luật
như trốn thuế, lậu thuế, làm hàng giả, buôn bán trái phép những mặt hàng mà Nhà
nước và pháp luật nghiêm cấm.
Đối với doanh nghiệp:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt động kinh
doanh trên trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững.
Để tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh cụ
thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô. Họ cạnh tranh để
giành những lợi thế về phía mình, cạnh trạnh để giành giật khách hàng, làm cho
khách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với
thì hiếu, như cầu người tiêu dùng nhất. doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của
khác hàng kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm
theo với mức giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại và phát
triển. Do vậy cạnh tranh là rất quan trọng và cấn thiết.
8
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu
từ việc nghiên cứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào?
sản xuất cho ai? Nghiên cứu thì trường để doanh nghiệp xác định được nhu cầu thị
trường và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứ không sản xuất những gì
mà doanh nghiệp có. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phảo đưa ra các sản phẩm
có chất lượng cao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn. Muốn vậy các doanh
nghiệp phải áp dụng những thành tựư khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất
kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề cho công
nhân, cử cán bộ đi học để nâng cao trình độ chuyên môn. Cạnh tranh thắnglợi sễ
tạo cho doanh nghiệp một vị trí xứng đáng trên thị trường tăng thêm uy tín cho
doanh nghiệp. Trên cơ sở đó sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản
xuất xã hội, tạo đà phát triển mạnh cho nền kinh tế.
Đối với ngành:
Hiện nay, đối với nền kinh tế nói chung và đối với ngành da giầy nói riêng,
quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp. Do vậy, các
Doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành giật những ưu thế và
lợi thế cho mình.
Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh:
• Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức đơn giản của
cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủ lớn để tác
động đến giá cả thị trường. Nhóm người mua tham gia trên thị trường này chỉ
có cách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thị trường được tự do
hình thnàh, giá cả do thị trường quyết định.
• Cạnh tranh không hoàn hảo: đây là hình thức cạnh tranh phổ biến trên thị
trường mà ở đó Doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chi phối được giá cả
của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mại các dịch vụ trong và
sau khi bán hàng. Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh mà phần lớn các
sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc
tính khác nhau dù xem xét chất lượng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là
không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều. Cạnh tranh không
hoàn hảo có 2 loại:
− Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ thể có ảnh
hưởng lớn, có thể ép tất cả các đối tác của mình phải bán hoặc mua sản phẩm
của mình với giá cao và những người này có thể làm thay đổi giá thị trường. Có
hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và độc quyền mua. Độc
quyền bán là trên thị trường có ít người bán và nhiều người mua. Còn độc
quyền mua thì ngược lại có nhiều người mua và ít người bán.
10
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
− Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số ngành sản
xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất. Lúc này cạnh tranh sẽ xẩy ra giữa
một số lực lượng nhỏ các Doanh nghiệp. Do vậy, mọi Doanh nghiệp phải nhận
thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà
còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ khác trên thị trường.
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
xuất, sự sáng tạo Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao
chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất.
• Nguồn tài chính
Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng kinh doanh cũng như là chỉ
tiêu hàng đầu để đánh giá quy mô của doanh nghiệp. Bất cứ một hoạt động
đầu tư, mua sắm trang thiết bị hay phân phối, quảng cáo đều phải được
tính toán dựa trên thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp
có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có khả năng trang bị các dịch vụ hoàn hảo,
đảm bảo chất lượng, hạ giá thành, giá bán sản phẩm, tổ chức các hoạt động
quảng cáo khuyến mại mạnh mẽ nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm.
• Nguồn lực vật chất kỹ thuật
Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuậthiện đại cùng với đội ngũ nhân viên
kinh nghiệm phù hợp với quy mô của doanh nghiệp chắc chắn sẽ nâng cao
khả năng cạnh tranh của sản phẩm lên rất nhiều. Với một cơ sở vật chất tốt
thì chất lượng sản phẩm - dịch vụ được đảm bảo. Chất lượng tốt giúp cho
doanh nghiệp tận dụng được công suất tối đa qua đó giảm chi phí, từ đó khả
năng chiến thắng cho sản phẩm của doanh nghiệp sẽ là rất lớn. Ngược lại
không một sản phẩm nào lại có khả năng cạnh tranh cao khi mà được sản
xuất bởi những máy móc cũ kỹ, lạc hậu.
• Bộ máy quản lý lãnh đạo
Bộ máy quản lý của doanh nghiệp tác động một các tổng hợp tới hiệu quả
hoạt động sản xuất nói chung cũng như khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp nói riêng. Bộ máy quản lý doanh nghiệp cũng có tầm quan trọng như
bộ óc con người, muốn chiến thắng được đối thủ trong cuộc cạnh tranh đòi
hỏi doanh nghiệp phải nhạy bén, chủ động trước tình huống thị trường, phải
đi trước các đối thủ trong việc đáp ứng các nhu cầu mới Tất cả những hoạt
động đó đều phụ thuộc vào bộ máy quản lý của doanh nghiệp.
• Chiến lược marketing
Chiến lược marketing của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng tới sức cạnh tranh
− Nhóm nhân tố kinh tế: Đây là những nhân tố quan trọng nhất của môi
trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi một nền kinh tế phát
triển với tốc độ cao sẽ kéo theo sự tăng thu nhập cũng như khả năng thanh
toán của người dân cũng tăng lên do vậy nhu cầu hay sức mua của nhân dân
cũng sẽ tăng lên. Mặt khác nền kinh tế phát triển mạnh có nghĩa là khả năng
tích tụ và tập trung tư bản lớn như vậy tốc độ đàu tư phát triển sản xuất kinh
doanh sẽ tăng lên. Đây chính là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển.
Doanh nghiệp nào có khả năng nắm bắt được những cơ hôị này thì chắc
chắn sẽ thành công và khả năng cạnh tranh cũng tăng lên.
− Nhân tố chính trị và pháp luật: Chính trị và pháp luật là nền tảng cho phát
triển kinh tế cũng như là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động sản
13
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
xuất kinh doanh trên thị trường. Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi
trường thuận lợi đảm bảo sự bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh
tranh và cạnh tranh có hiệu quả. Mặt khác chúng cũng có thể đem lại những
trở ngại, khó khăn thậm chí là rủi ro cho các doanh nghiệp. Ta có thể lấy ví
dụ như các chính sách về xuất nhập khẩu về thuế, các khoản nộp ngân sách,
quảng cáo, giá là những yếu tố tác động trực tiếp kìm hãm hay tạo điều kiện
để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
• Độc quyền: độc quyền là yếu tố tác động mạnh tới sự cạnh tranh của sản
phẩm cũng như các doanh nghiệp, khi có độc quyền xảy ra sẽ gây khó khăn
cho các sản phẩm khác cùng loại, các sản phẩm này có thể bị loại bỏ trước
sức cạnh tranh mạnh của các sản phẩm độc quyền.
2.3. Phân định nội dung nghiên cứu về giải pháp marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh
sản phẩm của công ty kinh doanh
2.3.1. Các nhân tố cấu thành sức cạnh tranh của sản phẩm
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được hiểu là những lợi thế của sản phẩm đó
so với các đối thủ cạnh tranh được thực hiện trong việc thoả mãn đến mức cao
nhất các yêu cầu của thị trường.Vì vậy có thể nói rằng cả các yếu tố như, chất
doanh nghiệp cần phải có những biện pháp hợp lý nhằm tiết kiệm chi phí hạ
thấp giá thành của sản phẩm. Từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
2.3.1.3. Chất lượng dịchvụ
Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá là ''biện pháp nghèo nàn'' nhất vì nó làm
giảm lợi nhuận thu được, mà ngược lại, cùng một loại sản phẩm, chất lượng
sản phẩm và dịch vụ nào tốt đáp ứng được yêu cầu thì người tiêu dùng cũng
sẵn sàng mua với một mức giá có cao hơn một chút cũng không sao, nhất là
trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đang trong giai đoạn phát
triển mạnh, đời sống của nhân dân được nâng cao rất nhiều so với trước thì
chất lượng sản phẩm và dịch vụ phải đua lên hàng đầu.
− Vận chuyển&Thời gian: sản phẩm có thời gian vận chuyển tới khách hàng
từ khi quyết định mua hàng càng nhanh sẽ có sức cạnh tranh cao hơn, ngoài
ra một số sản phẩm còn có chính sách miễn phí vận chuyển, lắp đặt…
− Phương thức thanh toán: các công ty thường đầu tư vào hệ thống thanh toán
sao cho nhanh gọn, an toàn, đa dạng để thu hút khách hàng.
− Dịch vụ sau bán: các hỗ trợ cho khách hàng sau khi mua sản phẩm cũng
giúp tạo được uy tín và nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm.
2.3.1.4. Mạng lưới tiêu thụ
Là một yếu tố quan trọng giúp đưa sản phẩm tới tay khách hàng, một sản
phẩm có mạng lưới tiêu thụ rộng lớn, mật độ cao sẽ có thể nâng cao năng
lực cạnh tranh cho sản phẩm đó với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
khác.
2.3.1.5. Tiềm lực tài chính
15
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
Khi doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh, nhiều vốn thì sẽ có đủ khả
năng cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác khi họ thực hiện được các
chiến lược cạnh tranh , các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ như khuyến mại giảm
giá…
2.3.1.6. Hoạt động bán, tiếp thị
16
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
một vài lĩnh vực nào đó và để đảm bảo hiệu quả thì phải phân nhỏ sự lựa
chọn này thành nhiều lĩnh vực
• Tỷ suất lợi nhuận: được tính bằng lợi nhuận/ tổng số vốn bỏ ra, đây là chỉ
tiêu tổng hợp phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như sản
phẩm và nó thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh trên thị trường rất
gay gắt, ngược lại nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh
rất thuận lợi.
Công thức tính: Lợi nhuận/doanh thu
• Doanh thu:Là số tiền doanh nghiệp thu được từ hoạt động bán hàng hóa,
dịch vụ, doanh thu là nhân tố tạo nên lợi nhuận từ đó giúp đánh giá năng lực
cạnh tranh của sản phẩm, một điểm cần lưu ý là những đánh giá chỉ đúng
khi doanh thu tăng lên do sản lượng bán chứ không phải do giá cả tăng, có
thể so sánh doanh thu của doanh nghiệp với ĐTCT và doanh thu giữa các
năm.
• Năng suất lao động: được tính bằng sản lượng(doanh thu)/ tổng số công
nhân, năng suất lao động càng cao phản ánh doanh nghiệp càng có khả năng
giảm chi phí do đó năng lực cạnh tranh càng cao trên thị trường.
• Chi phí sản xuất: có thể xem xét chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm, từ
đó so sánh với mặt bằng chung, nếu doanh nghiệp hạ thấp được chi phí sản
xuất một đơn vị sản phẩm sẽ tạo điều kiện hạ giá thành và sẽ nâng cao được
sức cạnh tranh cho sản phẩm.
• Tỷ lệ chi phí marketing/tổng doanh thu: Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh
thu cho phép doanh nghiệp đánh giá được liệu một đồng chi phí marketing
bỏ ra thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm.
Việc xác đinh được tỷ lệ này giúp cho các nhà lãnh đạo biết được những
nhu cầu của thị trường, bằng các biên pháp so sánh giữa các năm có thể đưa
ra được các mức chi phí marketing bỏ ra sao cho hợp lý trên cơ sở tối đa
đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu
dùng và sau khi tiêu dùng. Hay nói cách khác nâng cao chất lượng sản phẩm
là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại mẫu mã, bền hơn và tốt hơn,
giúp cho khách hàng thu được nhiều lợi ích hơn từ sản phẩm.
• Mở rộng chủng loại, đa dạng hóa sản phẩm: nâng cao sức cạnh tranh cho
một sản phẩm, điều cần thiết phải làm đó là đa dạng hóa chủng loại sản
phẩm đó cho phù hợp với nhu cầu cá biệt của khách hàng hiện nay. Các
chủng loại sản phẩm mới có thể được tạo ra bằng cách như thay đổi khối
lượng, thể tích, một số đặc tính mới…
• Hiện đại hóa sản phẩm: các sản phẩm bước vào thị trường một thời gian, đi
gần hết chu kỳ sống sẽ ít nhiều bị suy giảm sức cạnh tranh do các sản phẩm
18
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
khác ngày càng nhiều, hoàn thiện hơn vì thế cần phải làm mới sản phẩm để
nâng cao sức cạnh tranh, một số cách có thể kể tới như thêm một số đặc
tính, công năng, thay đổi thiết kế bao bì…
• Quyết định nhãn hiệu, bao bì: hiện nay các sản phẩm ngoài có chất lượng
tốt thì yếu tố nhãn hiệu, bao bì cũng rất quan trọng, một sản phẩm có nhãn
hiệu nổi tiếng, đã được khẳng định và có hình thức bao bì đẹp mắt tiện lợi sẽ
có sức cạnh tranh mạnh so với các sản phẩm khác.
2.3.3.2. Giải pháp về giánhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm
Tùy thuộc vào phân khúc thị trường và chiến lược giá mà doanh nghiệp
chọn, doanh nghiệp có một số chính sách định giá sau:
• Chính sách giá thấp: là chính sách định giá thấp hơn thị trường để thu hút
khách hàng về phía mình, chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm
lực vốn lớn, phải tính toán chắc chắn và đầy đủ mọi tình huống rủi ro có thể
xảy ra với doanh nghiệp khi áp dụng.
• Chính sách giá cao: là chính sách định giá cao hơn giá thị trường, chính
sách này áp dụng cho doanh nghiệp có sản phẩm độc quyền hay dịch vụ độc
quyền không bị cạnh tranh.
vận hành ổn định hiệu quả, sớm khắc phục các mâu thuẫn trong kênh giúp
hoạt động phân phối được nhanh chóng và tăng sức cạnh tranh cho sản
phẩm.
2.3.3.4. Giải pháp về xúc tiến thương mạinhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm
• Quảng cáo: tăng cường quảng có sản phẩm trên các phương tiện thông tin
như báo, đài, Internet…giúp cho sản phẩm của công ty dễ nhận biết hơn, tuy
nhiên cũng cần cân nhắc tới chi phí bỏ ra cho hoạt động này.
• Khuyến mại: sản phẩm cần có nhiều chương trình khuyến mại từ đó có thể
giúp tăng doanh số bán hàng và cũng là yếu tố rất quan trọng giúp tăng năng
lực cạnh tranh cho sản phẩm
• Bán hàng cá nhân: trong các công cụ xúc tiến, bán hàng cá nhân là công cụ
khá hiệu quả giúp cho nhân viên của công ty có thể trực tiếp gặp khách hàng
và bán sản phẩm của mình, đây là một công cụ rất hiệu quả với các thị
trường cạnh tranh mạnh, khi các ĐTCT đã phân phối sản phẩm kín khắp
ngõ ngách thị trường.
• Marketing trực tiếp: công ty có thể tiến hàng marketing trực tiếp với khách
hàng thông qua việc bán hàng qua catalogue, email…
• Quan hệ công chúng: công ty có thể tham gia các sự kiện, tài trợ cho các
chương trình để nâng cao hình ảnh của mình từ đó giúp tăng độ nhận biết
của sản phẩn và nâng cao sức cạnh tranh.
Ngoài ra nên đầu tư vào dịch vụ sau bán hàng – đây là yếu tố quan
trọng làm tăng uy tín cho doanh nghiệp cũng như mặt hàng giúp nâng cao
năng lực cạnh tranh cho sản phẩm.
20
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
Chương 3: Phân tích các kết quả nghiên cứu về thực trạng giải pháp
marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm nước rửa chén của
công ty TNHH Winmark Việt Nam
3.1. Đánh giá tổng quan tình hình kinh doanh của công ty
3.1.1. Giới thiệu khái quát về công ty
- Đào tạo các kỹ năng về bán hàng, quản lý và lãnh đạo cho doanh nghiệp.
- Đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực kinh doanh chất lượng cao cho các tập đoàn
đa quốc gia.
- Nhập khẩu và phân phối các loại hương liệu.
3.1.1.3. Cơ cấu, tổ chức bộ máy của công ty
Hiện nay, công ty hoạt động đang mở rộng quy mô và hoạt động ổn định với 3
phòng chính:
21
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
- Phòng kinh doanh (20 người):
• Số lượng: 20 người trong đó có 1 giám đốc bán hàng, 6 quản lý bán hàng
khu vực, 6 giám sát bán hàng và một số chức danh khác.
• Trình độ, độ tuổi: tốt nghiệp đại học trở lên đối với giám đốc bán hàng và đại
học, cao đẳng với các cấp quản lý dưới, có độ tuổi từ 25 – 35.
• Chức năng, nhiệm vụ: Tìm kiếm và ký kết đơn hàng với khách hàng, mở
rộng thị trường kinh doanh, duy trì quan hệ kinh doanh với khách hàng ,
tham mưu cho giám đốc chiến lược, xây dựng kế hoạch kinh doanh dài hạn
và ngắn hạn…
- Phòng sản xuất (10 người): Chịu trách nhiệm về khâu sản xuất các sản phẩm của
công ty, nghiên cứu và đề xuất với ban giám đốc các dòng sản phẩm phù hợp
với xu thế tiêu dùng của khách hàng.
- Phòng kế toán (5 người): Xây dựng kế hoạch tài chính cho công ty, giám sát
việc sử dụng vốn của công ty, thu hồi nợ, thanh toán tiền hàng, tổng hợp kết quả
hoạt động kinh doanh của công ty…
Sơ đồ 1: Bộ máy quản lý tại công ty
( Nguồn: Phòng nhân sự )
3.1.2 Tình hình sản xuất kinh doanh
3.1.2.1. Mặt hàng kinh doanh
22
Nguyễn Văn Đôn – K45C4
Tỷ lệ
%
Chênh lệch
Tỷ lệ
%
Doanh
thu thuần
4.560.736.47
0
5.701.768.7
33
6.863.215.8
83
1.141.032.2
63
125,02
1.161.447.1
50
120,37
Giá vốn
hàng bán
3.636.539.41
2
4.533.848.6
81
5.693.327.9
86
897.309.269 124,67
1.159.479.3
05
-17.000.761 94,29 17.842.224 106,35
Lợi
nhuận từ
HĐKD
484.734.907 624.107.229
753.675.38
9
139.372.322 128,75 129.568.160 120,76
Lợi
nhuận
trước
thuế
TNDN
484.734.907 624.107.229
753.675.38
9
139.372.322
128,75
%
129.568.160
120,76
%
Chi phí
TTNDN
121.183.727 156.026.807
173.216.37
2
34.843.080
128,75
%
rộng thêm danh mục sản phẩm kinh doanh, như vậy công ty cần xem lại các chiến
lược và chính sách đề ra và cần có các chiến lược mới phù hợp hơn với điều kiện hiện
tại.
3.1.3. Quy mô thị trường nước rửa chén Rell
• Tình hình thị trường nước rửa chén ở Hà Nội
Thị trường nước rửa chén tại Hà Nội có quy mô rất lớn, là nơi tập trung của rất nhiều
các sản phẩm nước rửa chén trong đó phải kể tới nhưSunlight, Mỹ Hảo với rất nhiều
loại mặt hàng tẩy rửa, đây là hai đối thủ mạnh và chiếm thị phần lớn nhất tại Việt
Nam, và theo sau là rất nhiều các sản phẩm khác như Rell, Red Star…Đây là thị
trường có sự cạnh tranh rất mạnh.
• Một số ĐTCT chính trên địa bàn Hà Nội
Các đối thủ cạnh tranh của Winmark phải kể tới Sunlight và Mỹ Hảo với rất nhiều loại
mặt hàng tẩy rửa, đây là hai đối thủ mạnh và chiếm thị phần lớn nhất tại Việt Nam,
chúng có ưu điểm là danh mục sản phẩm đa dạng, có chất lượng tốt, uy tín và có kiểu
dáng mẫu mã đẹp cùng với các tính năng nổi trội và có hệ thống phân phối rộng khắp
trên khắp các hệ thống bán lẻ cả nước. Tuy nhiên nhược điểm của hai đối thủ cạnh
tranh mạnh này là có mức giá khá cao, ít khuyến mại hơn các dòng sản phẩm giá rẻ.
• Tỷ trọng sản phẩm nước rửa chén Rell so với tổng sản phẩm của công ty
Bảng 3: Các mặt hàng kinh doanh của công ty và giá bán
Đơn vị tính: VNĐ
TT Tên sản phẩm Đơn vị (can )
Giá sản
phẩm
Tỷ trọng
1 Nước rửa chén Rell 5 l 68.000
50%
2 Nước rửa chén Rell 1l 20.000
3 Nươc lau sàn nhà Rell 5 l 68.000
4 Nước lau sàn nhà Rell 1l 20.000
5 Nước lau kính Rell 5 l 68.000