ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH VÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHẢP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Hà Nội – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH VÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHẢP
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60 22 90
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thanh Xuân
Hà Nội – 2013
MỤC LỤC
i
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Bên cạnh những
tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, các tín ngưỡng dân gian… còn xuất
hiện nhiều loại hình tôn giáo mới, các “đạo lạ”. Những năm gần đây, hoạt
động của các tín đồ, tổ chức tôn giáo diễn ra hết sức phong phú, đa dạng và
phức tạp. Điều này tạo nên những khó khăn nhất định trong công tác quản lý
tôn giáo cũng như giữ gìn an ninh, trật tự xã hội tại các địa phương.
Ở Việt Nam hiện nay, tín ngưỡng, tôn giáo đã trở thành nhu cầu tinh
thần của một bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân trong đó có cả cán bộ,
có Việt Nam.
Hoạt động thực tiễn cho thấy một số chính quyền địa phương, cán bộ
có trách nhiệm chưa nhận thức, quán triệt đầy đủ những chủ trương, chính
sách của Nhà nước về tôn giáo từ đó dẫn đến những thiếu sót trong việc xử lý
các sự việc liên quan đến hoạt động tôn giáo.
Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, công cuộc đổi mới do Đảng ta
lãnh đạo diễn ra sâu rộng trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hóa,
xã hội. Trong lĩnh vực tôn giáo, quan điểm về tự do tôn giáo từ khi lập quốc
cho tới nay vẫn luôn nhất quán và ngày càng được cụ thể hóa rõ ràng hơn.
Trên thực tế, tình hình chính trị - xã hội trong và ngoài nước luôn có những
tác động đến tình hình tôn giáo trong nước. Vì thế những quan điểm của Đảng
đối với công tác quản lý nhà nước về các hoạt động tôn giáo cũng cần phải
đổi mới và tăng cường hơn nữa nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Thêm vào đó, công cuộc cải cách hành chính đặt ra nhiều vấn đề về hệ
thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động tôn giáo, trình tự thủ tục hành chính
2
trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo và bộ máy quản lý các
hoạt động trong công tác quản lý tôn giáo là hết sức cần thiết. Việc nghiên
cứu và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn
giáo sẽ là tư liệu hữu ích góp phần hoàn thiện các quy định, điều luật liên
quan tới hoạt động tôn giáo.
Chính vì tính thời sự của tình hình tôn giáo ở Việt Nam và vai trò quan
trọng không thể thiếu của hoạt động quản lý nhà nước đối với tôn giáo nên
học viên đã chọn đề tài: “Quản lý hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay:
Thực trạng và giải pháp”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tôn giáo và vấn đề công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động
tôn giáo là đề tài được các nhà khoa học hết sức quan tâm nghiên cứu. Trong
thời gian qua, nhất là từ sau Đổi mới, chủ đề này các học giả quan tâm nghiên
cứu và đề cập trong nhiều tài liệu, các công trình, đề tài khoa học khác nhau.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với các
hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm
góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học xây dựng chính sách đối với tôn giáo
cũng như nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nói trên, luận văn cần giải quyết các
nhiệm vụ:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với các hoạt
động tôn giáo.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý các hoạt động tôn giáo ở nước
ta hiện nay.
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt
động tôn giáo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý nhà nước đối với
các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam.
4
Phạm vi nghiên cứu chính của đề tài là hoạt động quản lý tôn thời
kỳ đổi mới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và của Đảng ta về tôn giáo. Đồng thời, luận văn dựa trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử.
Bên cạnh đó, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp phân tích, tổng hợp, xử lý số liệu,…
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng rõ cơ sở lý luận cho công tác quản lý
nhà nước về tôn giáo.
- Khái quát diện mạo tôn giáo và tình hình quản lý các hoạt động tôn
Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của
chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý.
Thứ hai, mục tiêu quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt
động, vận hành cho phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước.
Nói đến quản lý trước hết là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới đối tượng
quản lý. Sự tác động này không mang tính chất đơn lẻ, tự phát mà nó mang
tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng. Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là xu
hướng cho đối tượng quản lý hoạt động.
Như vậy, quản lý chính là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ
thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý
đã đặt ra từ trước.
1.1.1.2. Quản lý nhà nước
6
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội thông
qua sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi
hoạt động của con người. Hoạt động quản lý nhà nước do tất cả các cơ quan
nhà nước tiến hành nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã
hội.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính
quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật của cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân
các cấp).
1.1.2. Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
1.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử - xã hội tồn tại lâu đời song cũng
như nhiều khái niệm, khái niệm tôn giáo cũng được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau. Trong các văn bản luật quản lý về tôn giáo, khái niệm này hiện
nay vẫn còn bỏ ngỏ.
Thuật ngữ tôn(g) giáo – religion có nguồn gốc từ tiếng La tinh là
thể chế, có tổ chức nhưng thực ra tôn giáo còn bao hàm cả sự sùng kính trong
tâm khảm con người: “Nhắc đến tôn giáo thì lên tưởng đến đền miếu nguy
nga, nhà thờ cao lớn đồ sộ, và tất cả những phương tiện vật chất có thể chế, có
tổ chức; không ngờ rằng, các tôn giáo vật chất có hình thức ấy, đều bắt nguồn
từ tinh thần không có ý thức. Cái danh từ religion này, ý nghĩa của nó không
đơn thuần chỉ tổ chức có thể chế, mà còn bao hàm tất cả sự sùng kính trong
tâm khảm con người”[9.52].
Ở Việt Nam, bên cạnh khái niệm tôn giáo, người Việt còn sử dụng các
thuật ngữ khác như đạo, tín ngưỡng,…để chỉ các hình thức tâm linh của mình.
“Đạo” có nguồn gốc từ Trung Quốc dùng để chỉ “con đường”, cách
thức đưa con người đạt tới niềm tin vào cái thiêng liêng, siêu nhiên. Theo
8
nghĩa rộng, đạo có thể bao gồm cả một số hình thức tín ngưỡng và tôn giáo
(đạo Phật, đạo Công giáo, đạo Mẫu, ). Theo nghĩa hẹp hơn, thuật ngữ đạo
dùng để chỉ một số hình thức tín ngưỡng phát triển có xu hướng trở thành tôn
giáo sơ khai hay là tôn giáo dân gian (đạo thờ ông bà, đạo Mẫu, ).
Tín ngưỡng là thuật ngữ thường xuyên được sử dụng để nói về một
hình thức tâm linh. Tín ngưỡng là sự ngưỡng mộ, tin tưởng vào một thực thể
nào đó; chỉ niềm tin, tự do lương tâm nói chung. Có rất nhiều quan điểm khác
nhau khi bàn về thuật ngữ “tôn giáo” và “tín ngưỡng”. Theo quan điểm truyền
thống, tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn so với
tôn giáo, dùng để chỉ các tôn giáo sơ khai. Quan điểm khác lại đồng nhất giữa
tôn giáo và tín ngưỡng, gọi chung là tôn giáo nhưng có sự phân biệt giữa các
hình thức tôn giáo như: tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo dân tộc, tôn giáo thế
giới.
Ta có thể phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng dựa trên các khía cạnh sau:
Nội
dung
Tín ngưỡng Tôn giáo
Về mặt
Nghi lễ
thờ
cúng
- Nghi lễ thờ cúng còn phân tán,
chưa thành quy ước chặt chẽ.
- Thường đơn giản, không mang
tính bắt buộc.
- Mang tính chất dân gian, sinh
hoạt của dân gian, gắn với đời
sống nông nghiệp.
- Nghi lễ thờ cúng chặt chẽ.
- Không mang tính dân gian, có
chăng chỉ là biến dạng theo kiểu
dân gian hóa.
Như vậy, đạo, tín ngưỡng, tôn giáo đều là những thuật ngữ chỉ ý thức
tâm linh của con người dựa trên cơ sở niềm tin, là cách thức con người giải
thích thế giới, chuẩn bị cho mình một cuộc sống phía sau cái chết,… Tuy
nhiên, khi nhắc đến một số tôn giáo hoàn chỉnh không thể không nói tới
những yếu tố căn bản cấu thành nên một tôn giáo bao gồm: niềm tin tôn giáo,
tổ chức tôn giáo, hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo, tín đồ tôn giáo.
• Niềm tin tôn giáo
Niềm tin tôn giáo là đặc điểm chung của tín ngưỡng và tôn giáo, là yếu
tố tiên quyết đối với bất kỳ tôn giáo, tín ngưỡng nào. Bởi lẽ nó là nền tảng
đầu tiên và trên cơ sở đó các yếu tố khác của tôn giáo như tín đồ, tổ chức tôn
giáo, giáo lý, luật lệ, lễ nghi, được hình thành.
Niềm tin tôn giáo là trạng thái tâm lý đặc biệt của chủ thể nhận thức,
thể hiện sự tin tưởng, ngưỡng mộ, sùng bái của chủ thể nhận thức vào một
thực thể siêu việt như Thần, Phật, Thượng đế, Niềm tin tôn giáo mang tính
thiêng liêng, cao cả. Nó được hình thành trên cơ sở tình cảm tôn giáo, những
xúc cảm, rung động, sùng kính trước các biểu tượng tôn giáo.
và những điều răn dạy, kiêng kị. Trong hệ thống lễ nghi thì hoạt động thờ
cúng là yếu tố cơ bản, là sự hiện thực hóa ý thức tôn giáo.
11
Luật lệ, lễ nghi tôn giáo là phương tiện tác động trực tiếp vào tư tưởng,
tình cảm của con người. Thông qua nghi thức thờ cúng, các tổ chức tôn giáo
biến ý thức tôn giáo thành những hình thức tình cảm cụ thể trong ý thức con
người. Hệ thống nghi lễ có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự thống nhất
của các tín đồ. Nhưng mặt khác, nghi lễ tôn giáo cũng dễ dàng trở thành yếu
tố mang tính bảo thủ, thường gắn với thói quen, truyền thống, tập tục của các
nhóm, cộng đồng trong xã hội.
• Lực lượng quần chúng tin theo tôn giáo (tín đồ)
Tín đồ là thành phần không thể thiếu của bất kỳ tôn giáo nào. Họ là
những người cùng theo một tôn giáo, được tổ chức tôn giáo thừa nhận và tự
nguyện tuân thủ theo giáo lý, giáo luật, giáo lễ cũng như chịu sự quản lý,
hướng dẫn về mặt tín ngưỡng của giáo hội. Ở Việt Nam, tín đồ tôn giáo được
mỗi tôn giáo gọi theo cách riêng của mình: Phật giáo gọi tín đồ là Phật tử,
Công giáo gọi là giáo dân (tín hữu), Tin lành gọi là tín hữu, Hồi giáo gọi là tín
đồ,…
Hoạt động tôn giáo
Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo (2004) định nghĩa: “Hoạt động
tôn giáo là việc truyền bá, thực hành các giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ
chức của tôn giáo”. Nói cách khác hoạt động tôn giáo gồm 3 mặt: truyền đạo,
hành đạo, quản đạo và một số hoạt động khác do tổ chức, cá nhân tôn giáo
thực hiện nhằm phục vụ cho hoạt động tôn giáo.
Truyền bá giáo lý, giáo luật (truyền đạo) là việc tuyên truyền những lý
lẽ về sự ra đời, về luật lệ của tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm
tin tôn giáo của các tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôn giáo được các tín đồ
thực hiện. Đối với những người chưa phải tín đồ tôn giáo, hoạt động truyền
đạo giúp họ hiểu, tin và theo tôn giáo. Thông qua đó, các tôn giáo có thể mở
rộng ảnh hưởng và phát triển tín đồ.
khuôn khổ của pháp luật.
- Phát huy được những mặt tích cực, khắc phục được những hạn chế,
tiêu cực trong tôn giáo đối với quá trình phát triển xã hội.
- Xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng và bảo vệ
tổ quốc.
- Tăng cường được vai trò của Nhà nước trong việc điều chỉnh các
hoạt động tôn giáo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo.
Để thực hiện mục tiêu trên, chúng ta cần thực hiện một số nội dung chủ
yếu sau:
Một là, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự
do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn
giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn
khổ pháp lý, bình đẳng trước pháp luật.
Hai là, Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết
dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo. Bởi lẽ tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ
còn tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc.
Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng. Công tác vận động quần chúng phải động viên được các đồng bào nêu
cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc, thông qua
14
việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo
đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng
bào các tôn giáo.
Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Hiện
nay, các tôn giáo có hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, phân bố ở
mọi vùng miền, địa phương trong cả nước. Vì thế, sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cấp, các ngành trong công tác quản lý tôn giáo là điều không thể bỏ qua.
Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là phương pháp tác động trực tiếp của chủ thể
quản lý lên khách thể quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính buộc đối tượng
quản lý phải phục tùng. Trong hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo,
phương pháp này hết sức cần thiết.
Biểu hiện hành chính trong việc thực hiện phương pháp này là ban
hành các quy định pháp luật (luật, pháp lệnh, các văn bản pháp quy,…), ban
hành các quyết định quản lý (đơn phương, một chiều, bắt buộc,…) cụ thể để
làm công cụ quản lý và xử lý các vụ việc trong thực tiễn quản lý xã hội về
tôn giáo.
Việc sử dụng phương pháp hành chính trong quản lý nhà nước đối với
các hoạt động tôn giáo xuất phát từ những yêu cầu bảo vệ độc lập và chủ
quyền đất nước, đặt lợi ích của dân tộc, của xã hội lên trên hết. Cách thức tác
động của phương pháp này vào quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh thể hiện ở
các hình thức:
16
Một là, cho phép: Chủ thể tham gia quan hệ xã hội thuộc đối tượng
pháp luật quản lý về hoạt động tôn giáo điều chỉnh được phép thực hiện
những hành vi nhất định.
Hai là, bắt buộc: Chủ thể tham gia quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều
chỉnh của pháp luật về hoạt động tôn giáo phải thực hiện những hành vi nhất
định. Chẳng hạn như, tổ chức giáo hội muốn tổ chức đại hội đồng, bắt buộc
phải làm đơn xin phép các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo có thẩm
quyền.
Ba là, đăng ký và thông báo: Chủ thể tham gia quan hệ xã hội thực hiện
các hoạt động tôn giáo sau khi đăng ký hoặc thông báo với chính quyền các
cấp về nội dung hoạt động. Ví dụ: đăng ký thành lập hội đoàn, thông báo sửa
chữa cơ sở thờ tự…
Bốn là, cấm đoán: Biện pháp này thực hiện khi các cá nhân, tổ chức tôn
giáo hoạt động tôn giáo trái với pháp luật gây ra hậu quả nghiêm trọng, hoặc
Quản lý nhà nước đối với tôn giáo là quá trình dùng quyền lực nhà
nước của cơ quan chức năng theo quy định của Pháp luật để tác động, điều
chỉnh, hướng dẫn các quá trình mà tôn giáo và các hành vi hoạt động tôn giáo
của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật đạt được những
mục tiêu cụ thể của Nhà nước. Néi dung qu¶n lý nhµ níc ®èi víi ho¹t ®éng
t«n gi¸o gåm nhiÒu lÜnh vùc cô thÓ nh sau:
+ Về công nhận các pháp nhân tôn giáo;
18
+ Về quá trình xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự;
+ Về chương trình hoạt động thường xuyên và đột xuất;
+ Về quá trình đào tạo chức sắc;
+ Về quá trình sản xuất, lưu thông đồ dùng việc đạo;
+ Về một số việc thuộc hành chính đạo;
+ Về các hoạt động từ thiện – xã hội;
+ Xử lý các khiếu tố, khiếu nại liên quan đến tôn giáo và vi phạm chính
sách tôn giáo;
+ Xét duyệt các hoạt động quốc tế và đối ngoại tôn giáo;
+ Đấu tranh chống lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo;
Những nội dung quản lý trên mang tính phổ quát ở mọi nơi, song từng
thời gian nội dung nào là trọng tâm, trọng điểm cần được dự báo (có kế
hoạch) để áp dụng biện pháp quản lý thích hợp, chủ động và có hiệu quả.
1.1.2.5. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta đã kế thừa và phát huy sáng tạo trong
bối cảnh mới nhằm giải quyết các vấn đề tôn giáo hiện nay. Điều này thể hiện
trong những nguyên tắc nền tảng cho việc xây dựng đường lối, chính sách tôn
giáo, cụ thể là:
- Nhà nước tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và
tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng
về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo hay
1.2.1. Việt Nam là quốc gia có đời sống tôn giáo đa dạng, phong phú
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, đa tín ngưỡng với sự hiện diện
của các tôn giáo lớn trên thế giới, tôn giáo nội sinh, tín ngưỡng bản địa và các
hình thức tôn giáo mới. Cho tới nay ở Việt Nam đã có 37 tổ chức tôn giáo
được Nhà nước công nhận của các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Tin
Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tứ Ân hiếu nghĩa, Tịnh Độ cư
sĩ Phật hội, Baha’i, Giáo hội Phật đường Nam tông Minh sư đạo, Minh Lý
đạo tam tông miếu, đạo Bà la môn, Những tôn giáo trên hoạt động theo
pháp luật, được Đảng và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sinh hoạt
tôn giáo ổn định.
Các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam thu hút sự quan tâm của
đông đảo người dân Việt. Theo ước tính, năm 2012 ở Việt Nam có khoảng
80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có khoảng trên 20 triệu
tín đồ, chiếm khoảng 25% dân số. Cụ thể là Phật giáo có khoảng 10 triệu tín
đồ [73, tr.104], Công giáo có hơn 6 triệu tín đồ [73, tr.226], Cao Đài có
khoảng 2,5 triệu tín đồ [73, tr.368], Phật giáo Hòa Hảo có khoảng 1,4 triệu tín
đồ, Tin Lành có khoảng 1,2 triệu tín đồ [73, tr.300] và Hồi giáo có khoảng 75
ngàn tín đồ [73, tr.460].
Bên cạnh đó, các hình thức tín ngưỡng dân gian là một phần không thể
thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt. Các hoạt động tín ngưỡng hòa
quyện, giao thoa với các hoạt động tôn giáo tạo nên đời sống tâm linh vô cùng
phong phú, độc đáo và đậm đà bản sắc dân tộc.
Ở Việt Nam tồn tại nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau, căn cứ vào
hình thức, đối tượng thờ cúng, có thể phân chia các loại hình tín ngưỡng cụ
thể như sau:
21
- Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên (gia tộc, dòng họ, quốc gia), Tô tem
giáo.
- Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng.
- Tín ngưỡng vòng đời người (nghi lễ sinh đẻ, nghi lễ cưới xin, thờ