SKKN Một số giải pháp đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT
QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH"
1
LỜI NÓI ĐẦU
Đổi mới phương pháp dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông nói chung và
giáo dục THPT nói riêng là vấn đề được đặt ra và thực hiện từ nhiều năm nay . Để thực
hiện vấn đề này, đã có nhiều những hình thức và biện pháp dạy học được triển khai như:
dạy học nêu vấn đề, tổ chức các hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học… Những biện
pháp và hình thức đó, trong quá trình thực hiện, đã góp phần thúc đẩy đổi mới phương
pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học
sinh. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học, bên cạnh các biện pháp, hình
thức dạy học như trên thì việc đổi mới KT - ĐG kết quả học tập của học sinh là vô cùng
quan trọng. KT - ĐG là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học. Đó là một yêu
cầu khách quan đối với việc phát triển lí luận dạy học nói chung cũng như phương pháp
dạy học địa lí nói riêng. Đánh giá được xem là công cụ quan trọng chủ yếu xác định năng
lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy học. Đổi mới KT - ĐG sẽ tạo động lực
thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng, bảo đảm thực
hiện mục tiêu giáo dục.
Vậy, thế nào là đổi mới KT - ĐG ? KT - ĐG như thế nào để nâng cao hiệu quả giảng
dạy, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục? KT - ĐG trong môn Công nghệ bậc THPT
như thế nào để đảm bảo mục tiêu bộ môn? Đó là những câu hỏi lớn mà cá nhân tôi cũng
chưa có lời giải cụ thể. Nhưng, xuất phát từ thực tế giảng dạy, dưới đây, tôi xin trình bày
những kinh nghiệm của bản thân trong việc KT - ĐG kết quả học tập của học sinh, theo
2
cá nhân tôi, những biện pháp và hình thức kiểm tra như vậy đã có tác dụng tích cực đến
các hoạt động dạy học của giáo viên chất lượng học tập của học sinh.
Những kinh nghiệm mà tôi trình bày sau đây chỉ mang tính chất cá nhân, do đó sẽ
khó tránh khỏi suy nghĩ chủ quan và chắc sẽ có nhiều điểm chưa phù hợp, vì vậy rất

đổi cách học của học sinh.
Từ thực trạng trên, để việc KT - ĐG đạt hiệu quả tốt hơn và để đáp ứng được mục tiêu
giáo dục, tạo nên sự công bằng trong đánh giá tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài:
‘‘Đổi mới cách KT - ĐG kết quả học tập môn Công nghệ bậc THPT ’’
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Ở bậc THPT, việc học môn Công nghệ là môn học có nhiều kiến thức mới mẻ và mang
tính chất khoa học. Đặc thù của môn học công nghệ là môn học khó truyền đạt đối với
giáo viên, khó làm đối với học sinh. Là môn học có rất nhiều kiến thức mới, trừu tượng
mang tính công nghiệp. Chính vì lý do đó mà phân phối chương trình của Bộ giáo dục và
đào tạo đã dành cho khối 12 là 35 tiết, khối 11 là 52 tiết.
4
Chính vì vậy việc đổi mới KT- ĐG là vấn đề cần thiết hiện nay. Vì nó đánh giá được
học sinh có thể hiểu và nhớ được những kiến thức cơ bản của môn học, chủ yếu là nhớ ý
nghĩa theo hệ thống kiến thức của chương trình. Đánh giá được việc áp dụng kiến thức để
giải quyết tình huống cụ thể, sự độc lập sáng tạo của học sinh. Đánh giá được động cơ,
hứng thú, thái độ học tập của học sinh.
3. KẾT QUẢ CẦN ĐẠT.
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về dạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư
cách, trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống
lao động, tham gia bảo vệ tổ quốc”. Trong các trường THPT hiện nay, việc dạy học
không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà còn dạy học như thế nào. Đổi mới phương pháp dạy
học là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học. Đổi
mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung
chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến KT - ĐG kết quả dạy học.
KT - ĐG có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo. Kết quả của KT - ĐG
là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo duc. Nếu KT - ĐG
sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại to lơn trong việc sử dụng
nguồn nhân lực. Vậy đổi mới KT - ĐG trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và

là cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.
Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra với nghĩa là nhằm
thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá và nhận xét.
Trong giáo dục, kiểm tra có các hình thức như kiểm tra thường xuyên (kiểm tra hàng
ngày), kiểm tra định kì (kiểm tra hết chương, hết phần ) và kiểm tra tổng kết (kiểm tra
cuối học kì).
Kiểm tra là theo dõi, sự tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được
những thông tin cần thiết cho việc đánh giá.
Kiểm tra có 3 chức năng bộ phận liên kết, thống nhất, thâm nhập vào nhau và bổ sung
cho nhau đó là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh.
Về mặt lý luận dạy học, kiểm tra có vai trò liên hệ nghịch trong quá trình dạy học. Kiểm
tra biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá trình học của trò để từ
đó có những quyết định cho sự điều khiển tối ưu của cả thầy lẫn trò. Học sinh sẽ học tốt
7
hơn nếu thường xuyên được kiểm tra và được đánh giá một cách nghiêm túc, công bằng
với kỹ thuật cao và đạt kết quả tốt.
b. Khái niệm đánh giá
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa
vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề
ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao
chất lượng và hiệu qủa công việc. Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, đánh
giá là nhận xét bình phẩm về giá trị. Theo từ điển Tiếng Việt của Văn Tân thì đánh giá là
nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật.
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và xử lý kịp thời,
có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục. Căn cứ vào mục tiêu dạy học,
làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp theo. Cũng
có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ
thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh. Đánh
giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính.
Như vậy đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ học sinh.

tạo cơ hội cho học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ
của mình, khuyến khích động viên việc học tập.Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để
9
nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phân đấu
không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Như vậy, KT - ĐG không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng,
điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực trạng và
điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
b. Ý nghĩa của việc KT - ĐG
KT - ĐG có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo viên và đặc biệt là đối với
cán bộ quản lí.
* Đối với học sinh:
- Việc KT - ĐG có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời những thông tin "liên hệ
ngược" giúp người học điều chỉnh hoạt động học.
- Về giáo dưỡng chỉ cho học sinh thấy mình đã tiếp thu điều vừa học đến mức độ nào,
còn thiếu sót nào cần bổ khuyết.
- Về mặt phát triển năng lực nhận thức giúp học sinh có điều kiện tiến hành các hoạt động
trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức, tạo
điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức để giải
quyết các tình huống thực tế.
- Về mặt giáo dục học sinh có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập, có ý chí vươn lên
đạt những kết quả cao hơn, cũng cố lòng tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự
giác, khắc phụ tính chủ quan tự mãn.
* Đối với giáo viên:
10
- Việc KT - ĐG học sinh cung cấp cho giáo viên những thông tin "liên hệ ngược ngoài",
qua đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh lại mục tiêu, lựa chọn phương pháp và nội dung
trọng tâm trong quá trình giảng dạy.
- KT - ĐG kết hợp với việc theo dõi thường xuyên giúp cho giáo viên nắm được một cách
cụ thể và khá chính xác năng lực và trình độ mỗi học sinh trong lớp, từ đó có biện pháp

12
4. Bản chất của KT - ĐG.
Trong dạy học, KT - ĐG là một vấn đề hết sức phức tạp, nếu không cẩn thận dễ dẫn đến
sai lầm. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học nhất thiết phải đổi mới, cải cách KT - ĐG,
sử dụng kỹ thuật ngày càng tiên tiến, có độ tin cậy cao, bên cạnh đó còn có công cụ KT -
ĐG cho học sinh để họ tự đánh giá kết quả lĩnh hội kiến thức của bản thân mình, từ đó
điều chỉnh uốn nắn việc học tập của bản thân.
Như vậy, việc KT - ĐG của người dạy phải khuyến khíchvà thúc đẩy được sự tự KT -
ĐG của người học. Hai mặt này phải thống nhất biện chứng với nhau. KT - ĐG phải có
tác dụng làm cho học sinh thi đua học tốt với chính mình chứ không phải để ganh đua với
người khác.
5. Các tiêu chuẩn về nhận thức áp dụng cho bài KT - ĐG.

Có 6 tiêu chuẩn về quá trình nhận thức được áp dụng cho KT - ĐG: đó là các mức độ
nhận thức đi từ thấp đến cao của hoạt động tư duy.
- Biết (còn gọi là nhớ lại):đây là khả năng thấp nhất trong lĩnh vực kiến thức.
- Hiểu: là kỹ năng học sinh hiểu được vấn đề họ biết, có khả năng áp dụng những kiến
thức đã biết vào việc giải quyết những vấn đề mới.
- Ứng dụng: là khả năng vận dụng các kiến thức quy luật, khái niệm, định luật… nhằm
giải quyết những vấn đề cụ thể. Học sinh có khả năng tư duy tốt sẽ vận dụng kiến thức
tốt.
- Phân tích: là khả năng tách ra từng phần để nghiên cứu, để tìm hiểu rõ đối tượng hay
hiện tượng. Phân tích còn là sự phân biệt các dấu hiệu, các đặc tính riêng biệt của đối
tượng hay hiện tượng đó theo một hệ thống nhất định.
13
- Tổng hợp: Là kỹ năng kết hợp các yếu tố riêng biệt để rút ra những cái chung, các bản
chất nhất của đối tượng hay hiện tượng, tức là những dấu hiệu trong một tổng thể phân
tích và tổng hợp có sự liên kết mật thiết với nhau là hai mặt của một quá trình tư duy
thống nhất, nó có tác dụng quan trọng trong việc lĩnh hội các khái niệm khoa học.
- Đánh giá: Có thể coi là mức độ cao nhất của sự phát triển các kỹ năng về trí tuệ. Dựa

- KT - ĐG là quá trình tiến hành, có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của các mục
tiêu đề ra. Vậy, phải xác định rõ mục tiêu KT - ĐG là gì.
- Khi KT - ĐG phải chọn mục tiêu KT - ĐG rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu hiện
dưới dạng những điều có thể quan sát được.
- Khi KT - ĐG giáo viên phải biết nó là phương tiện để di đến mục đích, chứ bản thân
không phải là mục đích. Mục đích KT - ĐG là để có nhưng quyết định đúng đắn, tối ưu
nhất cho quá trình dạy học.
- KT - ĐG bao giờ cũng gắn với việc học tập của học sinh, nghĩa là trước tiên phải chú ý
đến việc học tập của học sinh. Sau đó mới kích thích sự nỗ lực học tập của học sinh, cuối
cùng mới KT - ĐG bằng điểm số.
15
- KT - ĐG bao giờ cũng đi kèm theo nhận xét để học sinh nhận biết những sai sót của
mình về kiến thức kỹ năng, phương pháp để học sinh nghiên cứu, trao đổi thêm kiến
thức.
- Qua những lỗi mắc phải của học sinh, giáo viên cần rút kinh nghiệm để phát hiện ra
những sai sót trong quá trình dạy và KT - ĐG của mình để thay đổi cách dạy sao cho phù
hợp với học sinh.
- Trong KT - ĐG nên sử dụng nhiều phương pháp và hình thức khác nhau nhằm tăng độ
tin cậy và chính xác.
- Lôi cuốn và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình KT - ĐG.
- Giáo viên phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi để KT - ĐG giúp học sinh định
hướng khi trả lời.
- Phải dựa trên những cơ sở của phương phá dạy học mà xem xét kết quả của một câu trả
lời, của một bài kiểm tra, kết hợp với chức năng chẩn đoán hoặc quyết định về mặt sư
phạm.
- Trong các câu hỏi xác định về mặt định lượng, giáo viên thông qua các câu hỏi yêu cầu
học sinh giải thích bằng lời để xác định rõ nhận thức của học sinh.
- Phương pháp và cách thức tiến hành KT-ĐG phải diễn ra trong hoàn cảnh thoải mái,
học sinh cảm thấy tự nguyện, không lo lắng hay sợ sệt.
- Không nên đặt những câu hỏi mà bản thân giáo viên không thể trả lời một cách chắc

- Phát triển tư duy và nâng cao tính tự lực, tích cực của học sinh.
4. Hạn chế
Không phải lúc nào cũng tìm được đối tượng quan sát phù hợp với nội dung học tập.
5. Một số lưu ý
- Đối với môn Công nghệ đối tượng quan sát của HS không chỉ là tranh ảnh, mẫu vật, mô
hình mà còn là các đoạn phim, các dụng cụ thực tế trong sinh hoạt hàng ngày trong tự
nhiên và xã hội…Vì vậy GV có thể tổ chức cho HS quan sát ở trong lớp hay ngoài thực
tế hay có thể đi tới các xí nghiệp, nhà máy. GV nên sử dụng đối tượng quan sát như là
nguồn thi thức để tổ chức cho HS tiến hành các hoạt động học tập, từng bước phát hiện ra
kiến thức mới.
II. KT - ĐG bằng phương pháp vấn đáp
1. Bản chất
Phương pháp vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp, trong đó giáo viên đặt ra những
câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và cả giáo viên, qua đó học sinh
lĩnh hội được nội dung bài học.
Căn cứ vào tính chất hoạt động nhân thức, người ta phân biệt 3 hình thức vấn đáp sau:
18
- Vấn đáp tái hiện: GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả
lơì dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Đó là hình thức được dùng khi cần đặt mối liên hệ
giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức vừa mới học.
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, GV lần
lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để HS dễ hiểu, dễ nhớ. Hình thức
này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn.
- Vấn đáp gợi mở (hay còn gọi là vấn đáp tìm tòi): GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp
xếp hợp lý để dẫn dắt HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện
tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết.
Trong quá trình dạy học, GV có thể sử dụng cả 3 hình thức, tuy nhiên cần khuyến khích GV
sử dụng hình thức vấn đáp tìm tòi.
2. Quy trình thực hiện
Ở bậc học THPT, GV thường tổ chức hoạt động của HS trong phương pháp vấn đáp theo

20
Bài trắc nhiệm tự luận cần bao gồm cả nội dung định tính lẫn định lượng, có như thế khi
làm bài học sinh mới thể hiện hết những hiểu biết của mình về vấn đề đã học cũng như
khả năng vận dụng hiểu biết đó vào những tình huống khác nhau.
Khi chọn nội dung kiểm tra giáo viên cần chú ý đến trình độ chung của học sinh trong lớp
và thời gian cần thiết để hoàn thành bài làm. Không nên chỉ chọn một đề bài, mà cần
chọn nhiều đầu bài có nội dung tương đương nhau nhưng hỏi về nhiều khía cạnh khác
nhau.
b. Ưu điểm
- Có thể đo được nhiều trình độ nhận thức theo hệ thống phân loại B.Bloom, đặc biệt là ở
trình độ tổng hợp. Không những kiểm tra được kiến thức học sinh mà còn kiểm tra được
kỹ năng kỹ xảo về giải bài tập, thực hiện các phép tính, vẽ đồ thị, chứng minh các công
thức.
- Có thể kiểm tra đánh giá các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biết những ý niệm
sở thích và diễn đạt tư tưởng.
- Hình thành cho học sinh thói quen suy diễn, khái quát, phát huy tính độc lập sáng tạo
- Việc chuẩn bị câu hỏi rễ hơn, ít tốn kém hơn so với trắc nghiệm khách quan.
c. Nhược điểm
- Độ tin cậy thấp do số lượng câu hỏi hạn chế và việc chọn mẫu câu hỏi thiếu tính chất
tiêu biểu, độ tin cậy còn bị giảm đi vì phụ thuộc vào tính chất chủ quan, trình độ của
người chấm.
- Độ giá trị thấp do phụ thuộc vào yếu tố chủ quan khi chấm bài. Cùng một bài thi cùng
một người chấm nhưng ở hai thời điểm khác nhau hoặc hai người chấm độc lập thì điểm
số hầu như khác nhau.
21
- Việc chấm điểm khó chính xác so với trắc nghiệm khách quan.
2. Phương pháp trắc nghiệm khách quan
a. Khái niệm.
Trắc nghiệm khách quan (objective test), là một cụm từ đã xuất hiện trên thế giới hàng
trăm năm nay, theo các nhà nghiên cứu cũng như những nhà thực tiễn thường gọi cụm từ

- Phạm vi kiến thức và kĩ năng rộng hơn nhiều so với tự luận. Thi tự luận, mỗi câu hỏi,
bài tập có thể rơi vào một vấn đề nào đó. Đề bài có tổng hợp đi chăng nữa vẫn có xác
suất trúng “tủ”. Tuy nhiên, với mỗi đề thi TNKQ có khoảng 40 đến 50 câu hỏi có thể phủ
kín phạm vi kiến thức của một môn học .Vì vậy thi bằng TNKQ, học sinh không thể học
“tủ” mà phải học toàn diện.
- Tiết kiệm thời gian : tiết kiệm thời gian coi thi vì thời gian làm bài trắc nghiệm phải
ngắn, tiết kiệm được thời gian chấm bài rất nhiều.
- Có tính tiện ích : Có thể sử dụng các phương tiện hiện đại trong chấm bài và phân
tích kết quả kiểm tra của HS (nếu bài thi trắc nghiệm được thiết kế trên máy tính). Chấm
bài nhanh, chính xác, khách quan, dễ cho điểm, đáng tin cậy.
- Sự may rủi hầu như không có: Vì một đề thi trắc nghiệm trải rộng gần toàn bộ chương
trình. Việc chọn ngẫu nhiên cũng có xác suất đúng được 25%. Nhưng tần suất trả lời
đúng đạt tối đa của xác suất này cũng chỉ là khoảng 25% câu hỏi
c. Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
23
- Tốn rất nhiều thời gian ở khâu chuẩn bị, soạn đề
- Khuyến khích đoán mò: thí sinh vẫn có thể suy đoán nếu không nắm bài đầy đủ
- Dễ quay cóp lúc làm bài : vì đáp án chỉ là a, b, c, d nên rất dễ đọc kết quả cho nhau nên
đòi hỏi khâu coi thi phải chặc chẽ, nghiêm túc
- Khó khăn trong việc soạn nội dung đề trắc nghiệm: Người soạn TNKQ thường chủ
quan, vì cho rằng TNKQ soạn dễ. Kết quả là: bộ câu hỏi thường rời rạc, chuyên biệt,
không bao quát, thường không quan tâm đúng mức đến các kĩ năng phân tích và tổng
hợp.
d. Các hình thức của câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Về hình thức của câu hỏi trắc nghiệm khách quan: Hiện nay có khoảng 5 dạng câu
hỏi trắc nghiệm khách quan thường được sử dụng để soạn thảo câu hỏi cho các đề kiểm
tra và đề thi trong các trường phổ thông; đó là Câu trả lời ngắn, câu trả lời đúng sai, Câu
hỏi tương thích, Câu hỏi lựa chọn đa phương án, Câu hỏi gốc là dạng câu hỏi
tổng quát …
* Dạng câu trả lời ngắn

Trích đoạn QUÂ TRÌNH THỬ NGHIỆM CẢI TIẾN KIỂM TRA ĐÂNH GIÂ Ở TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 2 TỪ NĂM 2012 ĐẾN NAY.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status