Tiểu luận “Tài nguyên biển đối với sự phát triển” - Pdf 26

Tiểu luận “Tài nguyên biển đối với sự phát triển”
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Đại dương thế giới là cái nôi của sự sống trên Trái đất, là một kho dự trữ tài
nguyên khổng lồ, nhưng vẫn có giới hạn trong phạm vi “năng lực tải” của nó. Đại
dương có rất nhiều chức năng quan trọng: điều tiết khí hậu toàn cầu, nơi nghỉ ngơi
du lịch của con người, nguồn cung cấp protit cho con người, cung cấp nguồn tài
nguyên phong phú và đa dạng, là đường giao thông giá rẻ…
Tuy vậy, sự tăng nhanh của dân số kèm theo đó là các nhu cầu sinh hoạt
ngày càng gia tăng, sự phát triển của các quốc gia trên thế giới nói chung và sự phát
triển của con người trên vùng đất ven biển, hải đảo đã kéo theo nhu cầu gia tăng sử
dụng tài nguyên biển, đồng nghĩa với sự gia tăng sức ép lên môi trường biển và tài
nguyên biển. Trong quá trình khai thác và sử dụng các loại tài nguyên biển, con
người đã làm cho nguồn tài nguyên thay đổi về quy mô, số lượng, chủng loại, làm
cho môi trường biển ngày càng biến đổi chất lượng và có dấu hiệu suy thoái. Và
trên thực tế, những thất bại và thiệt hại đó, con người đã phải nếm trải.
Chính vì vậy, chúng em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tài nguyên biển đối
với sự phát triển”, để tìm hiểu về thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn
môi trường và tài nguyên biển, duy trì cuộc sống ổn định cho con người cùng với sự
phát triển bền vững.
Với sự cố gắng thực sự khi nghiên cứu đề tài này nhưng không thể tránh
khỏi thiếu sót, chúng em rất mong được sự đánh giá, góp ý của cô giáo để bài tiểu
luận được hoàn thiện hơn.
II. Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Các loại tài nguyên biển nói chung.
- Mục tiêu cụ thể: Các loại tài nguyên biển trên thế giới và ở Việt Nam: sản
lượng, trữ lượng, tình hình khai thác, sử dụng đối với sự phát triển của loài người.
Từ đó đưa ra các đề xuất giải pháp.
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 - 1 -
Tiểu luận “Tài nguyên biển đối với sự phát triển”
III. Phương pháp nghiên cứu:

1.2.5. Tài nguyên: “dân cư ven biển và hải đảo”:
Biển, đại dương – “cái nôi” điều tiết di cư dân số, các nền văn minh biển,
khảo cổ và các bảo tàng biển, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, bãi biển, công viên đại
dương.
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 - 3 -
Tiểu luận “Tài nguyên biển đối với sự phát triển”
1.2.6. Tài nguyên nhân tạo biển (tài nguyên vị thế biển):
Thành phố - đảo, nhà máy, sân bay, khu nghỉ dưỡng ngoài khơi trên biển, vị
trí địa lý biển đảo.
1.3. Vai trò của tài nguyên biển:
- Điều hòa khí hậu toàn cầu.
- Nhiều sinh vật biển được sử dụng trong các lĩnh vực y tế, may mặc, hóa
học, mỹ phẩm, dược phẩm, nông nghiệp, giấy, trang sức.
- Tiềm năng để phát triển nuôi trồng hải sản.
- Cung cấp các nguồn năng lượng quý giá (điện… )
- Phát triển giao lưu quốc tế bằng đường biển.
- Tài nguyên biển là một loại tài nguyên quan trọng để rút ngắn khoảng thời
gian tích lũy vốn bằng việc khai thác dầu khí hay các hải sản để xuất khẩu bán ra
nước ngoài tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện
đại hóa của đất nước.
- Biển còn là nơi nghỉ ngơi, du lịch lý tưởng.
II. Thực trạng tài nguyên biển:
2.1. Thực trạng tài nguyên biển trên thế giới:
2.1.1. Thực trạng tài nguyên sinh học biển:
Ước tính có khoảng 200 tỷ tấn sinh vật sống trong biển và đại dương, bao
gồm cả 3 nhóm: sinh vật đáy, bơi lội và trôi nổi. Đây là nguồn tài nguyên tái tạo rất
lớn, nguồn dự trữ thực phẩm quan trọng cho loài người trong tương lai. Chỉ tính
riêng động vật biển đã có 32,5 tỷ tấn, trong khi toàn bộ động vật trên lục địa chưa
đến 10 tỷ tấn. Theo dự tính, sinh vật biển mỗi năm có thể sản xuất ra 134 tỷ tấn chất
hữu cơ. Trong điều kiện nguồn lợi không bị hủy hoại thì mỗi năm biển có thể cung

giới, theo đó trữ lượng dầu mỏ được phát hiện trên thế giới năm 2009 đã tăng
0,05% so với năm 2008, từ 1332 tỷ thùng lên 1333 tỷ thùng do phát hiện thêm các
nguồn mới tại Arap Xeut và Indonesia. Theo đánh giá của OPEC trữ lượng dầu của
Iraq đã tăng 24% so với con số 115 tỷ thùng trong thập niên 70 của thế kỷ trước và
chỉ đứng sau Arap Xeut và Vênezuela. Hiện Arap Xeut là quốc gia đứng đầu về trữ
lượng dầu mỏ với 264,5 tỷ thùng.
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 - 5 -
Tiểu luận “Tài nguyên biển đối với sự phát triển”
Tuy nhiên trong thời gian vừa qua cũng xảy nhiều vụ tràn dầu gây ô nhiễm
nghiêm trọng. Vụ tràn dầu ngoài biển Timor, nổi tiếng với tên gọi vụ Montara, xảy
ra từ ngày 21-8 đến 3-11-2009, là vụ tràn dầu tồi tệ nhất trong lịch sử ở khu vực
biển ngoài khơi Úc, dù nhỏ hơn so với vụ BP ở vịnh Mexico. Giàn khoan West
Atlas ở khu vực Montara, nằm cách bờ biển Úc khoảng 200km, đã bốc cháy vào
ngày 21-8, dẫn tới tràn dầu với trung bình mỗi ngày 400 thùng đổ ra biển suốt 74
ngày liên tiếp.
Hình ảnh: vụ tràn dầu ngoài biển Timor (vụ Montara)
Tổ chức Bảo vệ Tây Timor, một hiệp hội nghề nghiệp hỗ trợ các ngư dân
nghèo ở đông Indonesia, ước tính vụ tràn dầu làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản
xuất của 18.000 ngư dân, trong đó nghiêm trọng nhất là các nghề nuôi trồng thủy
sản, nuôi ngọc trai và rong biển.
2.1.3. Thực trạng tài nguyên năng lượng biển:
Trên thế giới hiện nay, năng lượng tái tạo ngoài biển đã trở thành nguồn
năng lượng mới quan trọng. Ở Anh, tuabin dòng thủy triều, đập thủy triều, thiết bị
khai thác năng lượng sóng và tuabin gió ngoài khơi, phương án nào cũng có thể
cung cấp không dưới 20% nhu cầu điện năng của cả nước. Đến nay 100MW công
suất nguồn đã được lắp đặt tại Liên hiệp châu Âu. Trong đó công trình lớn nhất từ
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 - 6 -
Tiểu luận “Tài nguyên biển đối với sự phát triển”
xưa đến nay là dự án Horns Rev trải dài ngoài khơi cách bờ biển Đan Mạch từ 14
đến 20km, với 80 tuabin công suất 2MW.

Trong vùng biển nước ta, đến nay đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh
vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình. Các loài sinh vật đó thuộc về 6
vùng đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó có 3 vùng biển: Móng Cái- Đồ Sơn,
Hải Vân- Đại Lãnh và Đại Lãnh- Vũng Tàu có mức độ đa dạng sinh học cao hơn
các vùng khác. Trong tổng số loài được phát hiện có khoảng 6.000 loài động vật
đáy; 2.038 loài cá (trong đó có hơn 100 loài cá kinh tế); 653 loài rong biển; 657 loài
động vật phù du; 537 loài thực vật phù du; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 - 8 -
Tiểu luận “Tài nguyên biển đối với sự phát triển”
biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 12 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài
chim nước.
Được biết, trên diện tích gần 1.200 km
2
rạn san hô, có tới hơn 300 loài san
hô đá phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam. Sống gắn bó với các hệ sinh thái này là
trên 4.000 loài sinh vật sống dưới đáy và cá, trong đó có trên 400 loài cá, rạn san hô
cùng nhiều đặc hải sản.
a) Rừng ngập mặn:
Trước đây rừng ngập mặn nước ta có diện tích khá lớn 400.000 ha, tập
trung ở Nam bộ 250.000 ha, nhất là bán đảo Cà Mau, nay diện tích bị thu
hẹp chỉ còn khoàng 252.500 ha chủ yếu là rừng thứ sinh, rừng trồng, rừng
cây bụi.
Rừng ngập mặn ở phía Bắc thường nghèo nàn nhưng ở Nam bộ được
thừa hưởng nền nhiệt độ cao và những điều kiện thuận lợi khác “đe, hè”
chắn sóng, chống lại sự bào mòn của biển đối với lục địa, đồng thời còng là
công cụ của đất liền tiến chiếm đại dương.
b, Hải sản:
Theo sự phân bố của các vật thể hữu cơ trong biển thì biển Việt Nam
có mật độ cá vào loại trug bình trên thế giới và có đủ các loại hải sản chủ
yếu của các biển nhiệt đới khác. Trữ lượng đánh bắt khoảng 3 – 3,5 triệu

Dọc bở biển nước ta, từ vùng trên triều đến vùng dưới triều đều có
những thuận lợi cho đời sống của nhiều loài tảo bám. Đến nay, theo số liệu
thống kê (1994 - Nguyễn Văn Tiến) trong vùng nước ven bờ đã phát hiện
được 653 loài rong biển, 24 biến loài, 20 dạng, trong đó ở miền Bắc có trên
300 loài, ở miền Nam trên 500 loài. Trong chúng, 90 loài (14%) là những đối
tượng kinh tế quan trọng cho các ngành công nghiệp hoá chất dược liệu,
thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, phân bón. Các loài rong câu thường có giá trị
bậc nhất. Hiện nay, rong biển được trồng khá nhiều trong các đầm nước lợ.
c, Ngư trường và thực trạng khai thác hải sản:
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 - 10 -
Tiểu luận “Tài nguyên biển đối với sự phát triển”
Các nguồn lợi cá, tôm, mực… tập trung ở những vùng biển nhất định
gọi là ngư trường. Nước ta có 15 ngư trường trong đó 12 ngư trường ở ven
biển và 2 ngư trường ngoài khơi. Có 4 ngư trường trọng điểm được xác định
là : Ngư trường Minh Hải - Kiên Giang; ngư trường Ninh Thuận - Bình
Thuận , Bà Rịa - Vũng Tàu; ngư trường Hải Phòng - Quảng Ninh và ngư
trường quần đảo Trường Sa - Hoàng Sa.
Hình ảnh: Ngư trường quần đảo Hoàng Sa.
Việc khai thác hải sản hiện nay tập trung ở các ngư trường lớn, đặc
biệt là ngư trường Đông Nam Bộ, thể hiện ở bảng sau:
Vùng Khả năng khai thác cho
phép (nghìn tấn/năm)
Thực trạng khai thác
(nghìn tấn/năm)
Vịnh Bắc Bộ 325 114
Ven biển Trung Bộ 240 200
Đông Nam Bộ 490 401
Tây Nam Bộ 250 213
2.2.2. Thực trạng tài nguyên khoáng sản biển Việt Nam:
Trong các vùng biển Việt Nam đã biết khoảng 35 loại hình khoáng sản có

Các dạng hỗn hợp của đất là flaridi, Mismetali (hỗn hợp kim loại của trất cả đất
hiếm)…
Biển nước ta rất giàu muối, nồng độ muối là 3,5% ngang với biển có độ mặn
trung bình thế giới. Suốt dọc bờ biển nước ta có nhiều chỗ có thể dựng được các
điểm trường để khai thác muối đặc biệt là các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 - 12 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status