Chương 3:Thực trạng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của các DNNVV và công tác
thẩm định dự án vay vốn trung và dài hạn tại các NHTM
Chương 3: THỰC TRẠNG NHU CẦU VAY VỐN TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA CÁC
DNNVV VÀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN TRUNG VÀ DÀI HẠN
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
3.1 Tình hình hoạt động và nhu cầu vay vốn của các DNNNVV
3.1.1 Tình hình hoạt động của các DNNVV
Trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, DNNVV đóng vai trò quan trọng, góp phần
gìn giữ và phát triển những ngành nghề truyền thống, tạo nhiều việc làm cho người lao động.
Theo số liệu thống kê, tính đến 1/2007 cả nước hiện có gần 200.000 DNNVV chiếm hơn 97%
tổng số DN hiện có có trên cả nước, với trên 15 nghìn hợp tác xã và trên 2 triệu hộ kinh
doanh có đăng ký.
Mặc dù quy mô không lớn, nhưng các DN này đã huy động được gần 30 tỷ USD, đóng
góp hơn 40% GDP và 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp khoảng 26%
tổng sản phẩm xã hội, 31% giá trị sản lượng công nghiệp, 78% mức bán lẻ, 64% tổng lượng
vận chuyển hàng hoá.
DNNVV hiện nay đang góp phần tích cực trong việc huy động nguồn vốn đầu tư trong
dân, nhanh chóng đáp ứng được các thay đổi của nền kinh tế, đồng thời cũng rất năng động
trong vai trò phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. Trong việc giải quyết việc làm,
DNNVV có vai trò rất quan trọng vì loại hình DN này tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông
nghiệp ở nông thôn (khoảng 26% lực lượng lao động cả nước). Trong khi đó vốn đầu tư cho
một chỗ làm cho lao động của DNNVV là rất thấp chỉ bằng 3 đến 10% so với các DN lớn.
Cùng với sự phát triển vượt bậc về số lượng, các DNNVV đã hoạt động năng động hơn
và có hiệu quả hơn, quan hệ sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường của hệ thống DNNVV
đã phát huy tính năng động, sáng tạo, góp phần không nhỏ trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của đất nước. Các DNNVV còn tạo được mối liên kết chặt chẽ với các tổng DN nhà
nước, các tập đoàn xuyên quốc gia, mặc dù thời gian qua, mối quan hệ này mới chỉ được xác
lập bước đầu qua việc cung ứng NVL, hợp đồng phụ và thành lập mạng lưới vệ tinh phân
phối sản phẩm, song đây là một hướng phát triển mới, hết sức quan trọng để thúc đẩy nhanh
sự phát triển của các DNNVV. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động DNNVV vẫn gặp những
khó khăn:
lý, tay nghề người lao động...hoạt động trong tình trạng không đủ vốn cần thiết, dẫn đến quy
mô sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, khả năng cạnh tranh thấp kém nên muốn tồn tại và cạnh tranh,
họ rất cần vốn để nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới trang thiết bị, dời nhà xưởng…
“Đói vốn ” đang là rào cản lớn nhất cho sự phát triển của thành phần kinh tế này.
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
51
Chương 3:Thực trạng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của các DNNVV và công tác
thẩm định dự án vay vốn trung và dài hạn tại các NHTM
DNNVV tìm vốn ở đâu? Có rất nhiều nguồn như từ bạn bè, người thân, ngân hàng, công
ty thuê mua tài chính, quỹ đầu tư, cơ quan nhà nước, tổ chức xúc tiến phát triển DN, cơ quan
quản lý tài nguyên - môi trường và cả bạn hàng. Nhiều là vậy nhưng DNNVV vẫn thiếu vốn
vì sao?
Như chúng ta đã biết, phần lớn DNNVV Việt Nam đều có quy mô nhỏ và vừa nên trong
cơ cấu nguồn vốn hoạt động thì vốn vay từ ngân hàng chiếm tỷ trọng cao. DN lớn thì vay từ
20-30% trên tổng vốn hoạt động. DN nhỏ hơn có khi vốn vay chiếm 70% vốn hoạt động. Tuy
nhiên các DNNVV muốn vay vốn ngân hàng không phải là chuyện dễ. Ở Việt Nam, khi
DNNVV đi vay vốn ngân hàng DN phải đáp ứng được yêu cầu liên quan đến chính sách đất
đai, một loại tài sản thế chấp phổ biến, nhưng đa số DN lại thiếu một quyển “sổ đỏ” chứng
nhận quyền sở hữu hợp pháp.
Các DNNVV gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngắn hạn, trung và dài
hạn từ các ngân hàng cũng như từ các ngân hàng khác, các khoản vay có bảo lãnh cũng
thường không đến được với DNNVV. Nhiều DN để hoạt động họ thường vay vốn từ các tổ
chức tài chính phi chính thức, tư nhân, bạn bè, họ hàng và bản thân người lao động trong DN.
Do vậy, DNNVV có kế hoạch mở rộng sản xuất thì lại thiếu vốn. Hơn nữa, nếu vay được vốn
ngân hàng thì chúng đều là các khoản vay ngắn hạn với mức lãi suất cao nên các DNNVV
cho dù có được phép vay vẫn khó tìm được nguồn vốn trung và dài hạn. Những
đòi hỏi như DN phải có uy uy tín với ngân hàng (điều này không thể có đối với DN lần đầu đi
vay) hay điều kiện tiên quyết là DN phải có tài sản thế chấp, đã khiến họ bỏ cuộc. Một mặt,
DNNVV gặp nhiều khó khăn trong việc thế chấp tài sản vì ở nước ta thị trường bất động sản
kém phát triển. Mặt khác, việc xác định trị giá tài sản thế chấp hoàn toàn phụ thuộc vào ngân
một trong những điều tối kỵ, vi phạm nguyên tắc sử dụng vốn trong kinh doanh. Nếu đầu tư
theo quy trình ngược này thì tất yếu hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng DN sẽ khó có thể
tối ưu hoá lợi nhuận, thậm chí có không ít DN phải vay vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn
đến thâm hụt đầu tư, phá sản DN"
.
3.1.2.2 Tình hình tiếp cận
với nguồn vốn trung và dài hạn của các DNNVV
Mặc dù nhiều giám đốc NHTM luôn khẳng định: Tiềm năng của khối DNNVV đang là
hướng đầu tư trọng điểm của ngân hàng, cửa các ngân hàng sẽ mở rộng hơn cho nhiều
DNNVV, nhưng trong thực tế tình hình lại không được như mong đợi.
Số liệu điều tra về thực trạng hoạt động của DNNVV, được Cục Phát triển DN Bộ Kế
hoạch - Đầu tư công bố mới đây cho thấy, chỉ có 32,38% số DN cho biết có khả năng tiếp
cận được các nguồn vốn Nhà nước (chủ yếu là từ các ngân hàng thương mại), 35,24%
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
53
Chương 3:Thực trạng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của các DNNVV và công tác
thẩm định dự án vay vốn trung và dài hạn tại các NHTM
DN khó tiếp cận và 32,38% số DN không tiếp cận được. Trong khi đó, việc tiếp cận nguồn
vốn khác cũng gặp khó khăn chỉ có 48,65% số DN khả năng tiếp cận, 30,43% số DN khó
tiếp cận và 20,92% số DN không tiếp cận được. Đối với các DNVVN vốn và mặt bằng sản
xuất là hai yếu tố quan trọng nhất để duy trì sự tồn tại và phát triển của DN. Những tỷ lệ này
cũng sát với khảo sát của phóng viên tại một số ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng
thương mại quốc doanh: trong 100 hồ sơ vay vốn ngẫu nhiên của các DNNVV thì chỉ có
khoảng từ 35 – 40 hồ sơ có thể được chấp nhận cấp vốn. Như vậy, khả năng tiếp cận vốn
NHTM của các DNNVV vẫn còn nhiều hạn chế.
Với nhiều ngân hàng, các DNVVN là đối tượng khách hàng chủ lực. Tuy nhiên, cũng
phải “trông giỏ, bỏ thóc”, không phải DN nào cũng có thể vay được vốn ngân hàng, nhiều
DNVVN thường kêu ca là khó tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng, nhất là với những DN
mới thành lập, chưa có uy tín trên thị trường. Do đó, hầu hết các DNVVN tự hoạt động với
nguồn vốn tự có chứ ít khi đi vay ngân hàng nguyên nhân chính là quy mô hoạt động của các
b) Tuy nguồn vốn tín dụng mà các DNVVN có thể khai thác là đa dạng nhưng khả
năng tiếp cận của các DN này còn rất hạn chế. Cụ thể:
- Thứ nhất, đối với các nguồn vốn từ hệ thống các ngân hàng hiện hành. Mặc dù được
Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế như đảm bảo tiền vay được đa dạng hoá, lãi suất
tự do thoả thuận... nhưng các DNVVN vẫn chưa tiếp cận được nhiều nguồn vốn của các ngân
hàng, đặc biệt là các ngân hàng quốc doanh. Có thể kể tới một số nguyên nhân như:
+ Thị trường vốn chưa phát triển một cách đầy đủ, hệ thống pháp luật chung chưa thực
sự hoàn chỉnh, thiếu động bộ với chính sách tín dụng, cơ chế cho vay thay đổi liên tục gây
khó khăn cho các ngân hàng.
+ Về phía các ngân hàng: Điều kiện vay và thủ tục vay vốn quá chặt chẽ, phức tạp, các
DNVVN rất khó đáp ứng được. Mặt khác, các tổ chức này thiếu thông tin chính xác, kịp thời
về DN, khả năng đánh giá các dự án có hiệu quả còn hạn chế...
- Thứ hai, đối với nguồn tín dụng ưu đãi của Nhà nước: Phần nào các DNVVN đã được
tiếp cận nguồn vốn này, đặc biệt là tín dụng ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu và chương trình cho
vay giải quyết việc làm. Tuy nhiên khả năng vay nguồn vốn đầu tư phát triển còn nhiều hạn
chế vì đây là nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước, DN chỉ tiếp cận được trong trường hợp kinh
doanh trong ngành nghề được khuyến khích...
- Thứ ba, đối với Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNVVN, đây là nguồn vốn ưu tiên cho các
DNVVN nên có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên hiện nay các quỹ này mới được thành lập ở dạng
thí điểm, trong quá trình thành lập còn gặp nhiều khó khăn như: quy định về mức vốn điều lệ
còn quá cao so với thực thế nhiều địa phương (tối thiều là 30 tỷ đồng, ngân sách địa phương
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
55
Chương 3:Thực trạng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của các DNNVV và công tác
thẩm định dự án vay vốn trung và dài hạn tại các NHTM
góp tối đa bằng 30% vốn điều lệ), nhận thức của các quỹ tín dụng về vai trò và hiệu quả của
quỹ còn nhiều hạn chế.
- Thứ tư, đối với các chương trình tín dụng của các tổ chức chính phủ nước ngoài: Đây
là những nguồn vốn rất thiết thực và cần thiết, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà
Chính phủ khuyến khích phát các DNVVN, kêu gọi vốn từ bên ngoài hỗ trợ. Các chương