KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI - Pdf 26


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. KHÁI NIỆM KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ KHÁI NIỆM KHỞI TỐ
VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI
1.1.1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự
“Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ
quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định
khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án.”
1
* Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng và là giai đoạn
tố tụng độc lập bởi giai đoạn này có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về chủ thể tố
tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng. Chủ thể có quyền khởi tố vụ án hình sự
là những cơ quan có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS 2003. Nhiệm vụ
của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay không có dấu hiệu tội
phạm để từ đó ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự – những
văn bản tố tụng đặc trưng của giai đoạn này. Tuy nhiên, tính độc lập của giai
đoạn khởi tố vụ án cũng như các giai đoạn khác trong quá trình tố tụng chỉ mang
tính tương đối, giữa chúng có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau; giai đoạn
trước là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai
đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Quyết định khởi tố vụ án là cơ sở pháp lý đầu
tiên để thực hiện các hoạt động điều tra. Khi chưa có quyết định khởi tố vụ án
thì không được tiến hành các hoạt động điều tra cũng như áp dụng các biện pháp
ngăn chặn.
2
Quyết định khởi tố vụ án làm phát sinh quan hệ pháp luật TTHS
giữa cơ quan có thẩm quyền, người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng.
* Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
Cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự bao gồm cơ quan tiến hành
1

phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.
- Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan khác
+ Đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh
sát biển khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách
nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mình thì có thẩm quyền khởi tố vụ án.
+ Các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền khởi tố vụ án hình
sự khi thực hiện nhiệm vụ mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm
quyền điều tra của mình.
* Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay không có
dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ
án. Để thực hiện nhiệm vụ này cơ quan có thẩm quyền sau khi tiếp nhận tố giác,
tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, trong phạm vi thẩm quyền của mình
và thời hạn luật định phải tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh các tin tức
về tội phạm bằng những biện pháp như:
- Kiểm tra giấy tờ tuỳ thân, hộ khẩu, đăng ký tạm trú của người bị tố cáo;
yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân có liên quan đến sự
việc cung cấp những tài liệu cần thiết.
- Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có liên quan giải thích rõ sự
việc nhằm mục đích làm rõ dấu hiệu tội phạm. Khi yêu cầu giải thích, cơ quan
có thẩm quyền không được áp dụng các biện pháp hỏi cung hoặc cưỡng chế tố
tụng đối với người được yêu cầu giải thích.
- Khi cần thiết phải kiểm tra nội bộ cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội thì
phải yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan tự kiểm tra hoặc yêu cầu cơ quan thanh
tra tiến hành thanh tra để làm rõ sự việc.
- Nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì tiến
hành lấy lời khai của người bị bắt.
- Trong trường hợp cần thiết thì khám nghiệm hiện trường và tiến hành các
biện pháp khác theo quy định của BLTTHS để xác định dấu hiệu tội phạm.

3
. Theo Giáo trình luật tố tụng hình sự của trường Đại học Luật Hà Nội, 5 nguồn thông tin trên là cơ sở khởi tố
vụ án hình sự. Xem Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà
Nội 2006, tr. 245.
xác định thông tin về tội phạm hoặc một sự việc nào đó không có căn cứ khởi tố
vụ án hình sự. Các căn cứ đó bao gồm: Không có sự việc phạm tội; Hành vi
không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa
đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản
án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
1.1.2. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại lần đầu tiên được quy
định trong BLTTHS 1988 và sau đó, trên cơ sở kế thừa, BLTTHS 2003 tiếp tục
quy định với những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đòi hỏi của thực tế. Tuy
nhiên, cả hai BLTTHS đều không đưa ra khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo
yêu cầu của người bị hại. Mặc dù vậy, khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
người bị hại được xem là trường hợp đặc biệt của khởi tố vụ án hình sự, cho nên
nó sẽ có những đặc điểm chung của khởi tố vụ án hình sự.
Đối với các vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, giai
đoạn khởi tố vẫn được xác định là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng. Tuy
nhiên, trong giai đoạn khởi tố của những vụ án hình sự chỉ được khởi tố khi có
yêu cầu của người bị hại cần có yêu cầu khởi tố vụ án từ phía người bị hại. Nếu
không có yêu cầu khởi tố của người bị hại thì Cơ quan điều tra không được ra
quyết định khởi tố vụ án. Đây là điểm khác biệt so với giai đoạn khởi tố của các
vụ án hình sự khác.
Về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại. Như đã
phân tích ở trên, cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án gồm các cơ quan tiến
hành tố tụng và các cơ quan khác. Nhưng với những vụ án hình sự được khởi tố
theo yêu cầu của người bị hại, không phải cơ quan nào trong số các cơ quan có

được đặt ra là yêu cầu của người bị hại là cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm
hay là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự?
Có quan điểm cho rằng "yêu cầu của người bị hại là một dạng đặc biệt của
tố giác".
4
Giữa yêu cầu của người bị hại và tố giác của công dân có nhiều điểm
tương đồng: Một là,"tố giác hay yêu cầu của người bị hại đều là việc thông báo
với các cơ quan có trách nhiệm về một tội phạm đã xảy ra".
5
Hai là, chủ thể tố
giác và người yêu cầu khởi tố đều là cá nhân; Ba là, cả tố giác và yêu cầu của
người bị hại đều được thể hiện dưới dạng văn bản hoặc lời nói. Bên cạnh đó,
BLTTHS 2003 cũng chỉ quy định trình tự, thủ tục để giải quyết tố giác của công
dân, nên "nếu cho rằng yêu cầu của người bị hại không phải là một dạng của tố
giác thì yêu cầu đó sẽ được giải quyết theo trình tự, thủ tục nào?".
6
Tuy nhiên,
yêu cầu của người bị hại không hoàn toàn là tố giác: Chủ thể yêu cầu khởi tố vụ
án chỉ có thể là người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại, còn
chủ thể tố giác có thể chính là người bị hại hoặc bất kỳ người nào biết về sự việc
đó; Yêu cầu khởi tố vụ án là quyền của người bị hại còn tố giác vừa là quyền
vừa là nghĩa vụ của công dân; Nội dung của yêu cầu khởi tố ngoài báo tin về tội
phạm còn là sự mong muốn pháp luật trừng trị kẻ phạm tội còn nội dung tố giác
là báo tin về tội phạm (thời gian, địa điểm…). Nhưng cũng có quan điểm cho
rằng yêu cầu khởi tố vụ án là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định
khởi tố vụ án vì "trong quyết định khởi tố phải ghi rõ căn cứ khởi tố, một trong
những căn cứ khởi tố các tội quy định tại Điều 88 BLTTHS
7
là yêu cầu của người
bị hại".

1.2. KHÁI NIỆM CHẾ ĐỊNH KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU
CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ CƠ SỞ CỦA VIỆC THIẾT LẬP CHẾ ĐỊNH
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI
1.2.1. Khái niệm chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người
bị hại
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là một chế định pháp
luật. “Chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm có những đặc điểm chung
giống nhau nhằm để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội tương ứng”.
9
Như vậy,
theo định nghĩa này, chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm pháp luật có
đặc điểm chung và cùng điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định, không
đòi hỏi các quy phạm này phải được sắp xếp trong cùng một chương, mục. Khởi
tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là một chế định như thế. Thuật
ngữ chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại đã được một số
tác giả đề cập.
10
Trong BLTTHS 2003, chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu người bị
9
. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội 2006, tr. 402.
10
. Vũ Gia Lâm, Vấn đề đình chỉ điều tra và đình chỉ vụ án trong TTHS, Tạp chí Luật học, Hà Nội 2003, số……,
tr 45; Nguyễn Hữu Cầu, Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại đối với tội cố ý gây thương tích -
Một số bất cập nảy sinh từ thực tiễn, Tạp chí TAND số 6 /2002, tr. 17.
hại không được quy định thành một chương riêng và các quy định của chế định
tập trung xung quanh hai vấn đề là yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và rút yêu cầu
khởi tố vụ án của người bị hại.
Thứ nhất, vấn đề yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại được quy định tại
khoản 1 Điều 105 BLTTHS 2003 với nội dung “Những vụ án về các tội phạm
được quy định tại khoản 1, các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121,

Điều 164, khoản 1 Điều 169, Điều 180 BLTTHS 2003 khi quy định về các vấn đề
khác của chế định đều có sự dẫn chiếu đến Điều 105 BLTTHS 2003.
Vậy, chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là tổng
hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình giải quyết yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người bị hại và việc rút yêu
cầu khởi tố vụ án của họ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại,
đồng thời đảm bảo lợi ích Nhà nước, xã hội.
1.2.2. Cơ sở của việc thiết lập chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu
cầu của người bị hại
a. Cơ sở lý luận
Con người là mục tiêu giải phóng của sự nghiệp cách mạng. Vấn đề quyền
con người luôn là trung tâm của mọi cuộc cách mạng và tiến bộ xã hội. Với
quan điểm duy vật về lịch sử, triết học Mác- Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác-
Lênin nói chung đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về quyền con người, khẳng
định mối quan hệ gắn bó biện chứng giữa các quyền tự do cơ bản với các điều
kiện và biện pháp đảm bảo thực hiện quyền con người trong thực tế.
Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là công cụ sắc bén
được Nhà nước sử dụng để quản lý và duy trì trật tự xã hội. Chính vì vậy, mọi
công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, mọi hành vi vi phạm pháp
luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời. Có như vậy, mới giữ vững được
kỷ cương phép nước, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong xã hội đó, con
người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng. Chính vì vậy mà họ luôn
được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Họ không chỉ được bảo đảm các quyền tự
do dân chủ mà còn “có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật
bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm”.
11
Còn riêng với người bị
hại, họ là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm
tội gây ra, quyền lợi của họ bị xâm hại, vì vậy Nhà nước đã quy định cho họ có

13
. Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội, Bàn về quyền công tố, Hà Nội 2003, tr. 55
sử dụng để khởi kiện, khởi tố chống lại người thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật, hành vi phạm tội, xâm phạm các quyền và lợi ích cá nhân”.
14
Như vậy,
quyền yêu cầu khởi tố của người bị hại sẽ mâu thuẫn với quyền công tố của Nhà
nước, vì quyền công tố là nhân danh lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước để phát
giác, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật. Một trong những nguyên tắc cơ bản
của Luật TTHS Việt Nam là nguyên tắc công tố, tức là mọi hành vi phạm tội
đều phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân bằng Hiến pháp, bằng pháp luật và bằng cơ chế đảm bảo
thực hiện. Mọi hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích của
công dân đều sẽ bị Nhà nước xử lý nghiêm minh.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu, tham khảo pháp luật của một số nước đặc biệt là
pháp luật tố tụng của Liên Xô, các nhà lập pháp cũng nhận thấy “quyền tư tố” của
người bị hại được xã hội chấp nhận khi nó ở trong giới hạn nhất định và không
làm ảnh hưởng đến quyền công tố của Nhà nước. Do đó, BLTTHS 1988 đã chính
thức ghi nhận chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.
Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định của BLTTHS 1988 chỉ
áp dụng đối với những hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp,
không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và thuộc hai nhóm tội là các tội
xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người và các tội xâm phạm
quyền tự do dân chủ của công dân. Sau đó khi BLHS 1999 ban hành, do có sự
sửa đổi bổ sung trong phân nhóm tội phạm cũng như khi áp dụng vào thực tế,
chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại có những điểm hạn
chế, thiếu sót nên khi xây dựng BLTTHS 2003, bên cạnh việc ghi nhận chế định
khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trên cơ sở kế thừa các quy
định của BLTTHS 1988, chúng ta đã có những sửa đổi, bổ sung nhất định.
Việc BLTTHS 2003 tiếp tục ghi nhận chế định khởi tố vụ án hình sự theo

bị hại tố cáo hoặc có tình tiết giảm nhẹ sẽ do một thẩm phán điều hành việc xét
xử”. Như vậy, pháp luật TTHS Trung Quốc cũng đã gián tiếp ghi nhận quyền
yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại.
Bên cạnh những quốc gia ghi nhận chế định khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại trong Luật TTHS thì có những quốc gia lại quy định yêu cầu khởi
tố của người bị hại là một yếu tố cấu thành tội phạm. Điều 22 Bộ luật hình sự
Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào quy định: “Chỉ bị coi là tội phạm khi có đơn
kiện của người bị hại. Nếu hành vi không nguy hiểm cho xã hội và nếu người bị
hại không có đơn kiện thì toà án sẽ không kết tội trong các trường hợp: Xâm
phạm thân thể giữa những người thân (nếu không gây thương tích nặng hay gây
thiệt hại về sức khoẻ), xúc phạm, vu khống, có hành vi thô bạo đối với thi thể hay
danh dự của người đã chết, xâm phạm tài sản của họ hàng thân thiết, xâm phạm
thô bạo đối với danh dự, bí mật riêng tư của gia đình, cá nhân. Việc người bị hại
rút đơn kiện sẽ chấm dứt quá trình tố tụng tại toà án”.
15
Hay Điều 135 BLHS
Nhật Bản quy định: “Các tội phạm quy định tại chương các tội xâm phạm bí mật
chỉ được khởi tố theo đơn yêu cầu của người bị hại”. Còn luật hình sự Cộng hoà
dân chủ Đức đã đưa yêu cầu khởi tố của người bị hại như một yếu tố cấu thành
tội phạm đối với một số tội như: Vô ý gây thương tích, xâm phạm đến sở hữu
riêng, sử dụng xe không có giấy phép, xâm phạm sở hữu giữa những người thân
thuộc.
16

Như vậy, dù được quy định trong luật TTHS hay luật hình sự thì chế định
khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại vẫn thể hiện sự quan tâm của Nhà
nước đến nguyện vọng và lợi ích chính đáng của người bị hại.
ở Việt Nam, qua thực tiễn xét xử cũng như thực tế cho thấy, mặc dù bị thiệt
hại do hành vi phạm tội gây ra nhưng có trường hợp người bị hại không muốn
đưa ra xử lý vì có thể ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và tương lai

quy phạm định nghĩa nêu ra khái niệm pháp lý về người bị hại. Quy phạm này chứa đựng các
dấu hiệu để xác định người bị hại.
Về chủ thể, người bị hại chỉ có thể là cá nhân - một con người cụ thể. Pháp nhân hay tổ
chức không được coi là người bị hại.
Về thiệt hại, người bị hại bị tội phạm xâm phạm đến thể chất, tinh thần hoặc tài sản. Thiệt
hại về thể chất là bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ như bị giết, bị gây thương tích… Thiệt
hại về tinh thần là bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín như bị xỉ nhục, vu khống, thoá
mạ, miệt thị… Thiệt hại về tài sản là tài sản của người bị hại bị cướp, bị cưỡng đoạt, bị trộm
cắp…
Về nguồn gốc, thiệt hại của người bị hại do tội phạm trực tiếp gây ra bởi cái mà tội phạm
hướng đến chính là thể chất, tinh thần hoặc tài sản của người bị hại. Nhưng thế nào là "do tội
phạm gây ra?", theo tác giả Đinh Văn Quế: "khoa học luật hình sự chỉ coi là tội phạm khi có
đủ 4 yếu tố cấu thành và khi đã là tội phạm rồi thì lúc đó mới có người bị hại trong vụ án hình
sự".
17
Bên cạnh ba dấu hiệu luật định thì xét về mặt hình thức, người bị thiệt hại về thể chất,
tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra chỉ trở thành người bị hại trong TTHS khi họ được cơ quan
tiến hành tố tụng công nhận là người bị hại thông qua hành vi triệu tập họ đến khai báo với tư
cách người bị hại. Trong nhiều trường hợp, hành vi phạm tội không bị phát hiện và xử lý hoặc
không xác định được người bị thiệt hại thì mặc dù trên thực tế có người bị thiệt hại về thể chất,
tinh thần, tài sản do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra nhưng người đó cũng không thể trở thành
người bị hại trong vụ án hình sự.
b. Người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên,
người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
18
So với Điều 88 BLTTHS 1988, Điều 105 BLTTHS 2003 có quy định thêm
một chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, đó là người đại diện hợp
pháp của người bị hại. Đây được coi là một tiến bộ trong kỹ thuật luật pháp.
Không phải tất cả những người đại diện hợp pháp của người bị hại đều có quyền
yêu cầu khởi tố vụ án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại chỉ có quyền

khiển hành vi của người bị hại nhưng có thể làm cho người bị hại không thể hiện
được hoặc thể hiện không đầy đủ yêu cầu của mình. Do đó, pháp luật quy định
cho người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
2.1.2. Các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại
Khoản 1 Điều 105 BLTTHS 2003 quy định 11 trường hợp mà cơ quan có
thẩm quyền chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc người đại
diện hợp pháp của người bị hại:
a. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 104 BLHS: Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
20
Hậu quả của tội cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 là gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác có tỷ lệ thương tật từ
11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy
định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS như: dùng hung khí nguy
hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại (điểm a), thực hiện hành vi nhiều lần đối với
cùng một người hoặc với nhiều người (điểm c)… Mức hình phạt cao nhất đối
với những trường hợp phạm tội thuộc khoản này là cải tạo không giam giữ đến
ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Như vậy, đây là hành vi phạm tội
ít nghiêm trọng, có thể giải quyết bằng bồi thường dân sự hoặc biện pháp
20
. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác. Xem Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2006, tập I, tr.404.
khác… Do đó, pháp luật quy định đối với những trường hợp này chỉ được khởi
tố khi có yêu cầu của người bị hại.
b. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 105 BLHS: Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh
So với hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ

quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
23
Hành vi này do chủ thể tội phạm thực hiện với lỗi vô ý, vi phạm các quy tắc
đảm bảo an toàn về sức khoẻ con người trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội. Tỷ lệ thương tật tối thiểu là 31% và phải là hậu quả của hành vi phạm tội.
Mức hình phạt cao nhất của tội phạm này là đến hai năm tù (có thể có hình phạt
bổ sung). Người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có yêu cầu khởi
tố vụ án từ người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại.
đ. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 109 BLHS: Tội vô ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc
nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do lỗi vô ý; họ không cố
tình và cũng không có mâu thuẫn với người bị hại. Họ không mong muốn hậu
quả xảy ra.
Quy tắc an toàn trong trường hợp này là quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc
hành chính. Do đó, đòi hỏi chủ thể phải có trách nhiệm cao hơn trong việc tuân
thủ các quy tắc này. Đây được xem là trường hợp phạm tội nặng hơn so với
trường hợp phạm tội do vô ý được quy định tại Điều 108 BLHS. Chính vì vậy,
khung hình phạt của tội này được quy định nặng hơn. Mức hình phạt cao nhất có
thể đến ba năm tù (có thể có hình phạt bổ sung). Tuy nhiên, tội phạm này vẫn
thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS 2003.
e. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 111 BLHS: Tội hiếp dâm
24
Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi giao cấu với phụ nữ trái ý
muốn của họ bằng các thủ đoạn: dùng vũ lực (dùng sức mạnh vật chất để đè bẹp
sự kháng cự của nạn nhân như xô ngã, bóp cổ nạn nhân…); đe doạ dùng vũ lực
(đe doạ gây thương tích, đe doạ giết…) nhằm làm tê liệt ý chí của nạn nhân; lợi
dụng tình trạng không thể tự vệ được (người phụ nữ bị ốm, bị say rượu…); thủ
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status