Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại - Pdf 31

Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

TRƯỜ NG ĐẠ I HỌ C CẦ N THƠ
KHOA LUẬT
B Ộ MÔN T Ư PHÁP


LUẬ N VĂN TỐ T NGHIỆ P
NIÊN KHÓA 2007 - 2011
Đề tài:

KHỞ I TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦ U CỦ A
NGƯỜ I BỊ HẠ I

Giáo viên hướ ng dẫ n:
Ths. MẠC GIÁNG CHÂU

GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

Sinh viên thự c hiệ n:
LÊ THỊ HÀ
MSSV: 5075182
Lớ p: Luậ t Tư pháp 2-K33
Cầ n Thơ , tháng 4/2011

SVTH: Lê Th ị Hà


Luận văn

.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Th ị Hà


Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

MỤ C LỤ C
LỜ I NÓI ĐẦ U.............................................................................................................1
CHƯƠ NG 1. NHỮ NG VẤ N ĐỀ CHUNG VỀ KHỞ I TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO
YÊU CẦ U CỦ A NGƯỜ I BỊ HẠ I................................................................................4
1.1 Khái niệ m chung về khở i tố vụ án hình sự.......................................................4
1.1.1 Khái niệm vụ án hình sự................................................................................4
1.1.2 Khái niệm về khởi tố vụ án hình sự...............................................................5
1.1.3 Đặc điểm của khởi tố vụ án hình sự..............................................................7
1.2 Khái niệ m chung về khở i tố vụ án hình sự theo yêu cầ u củ a ngườ i bị hạ i....9
1.2.1 Khái niệm người bị hại..................................................................................9
1.2.2 Đặc điểm của người bị hại...........................................................................11
1.2.3 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại..................15
1.2.4 Đặc điểm của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại............19

3.1.2 Thời điểm rút yêu cầu khởi tố của người bị hại...........................................48
3.1.3 Quyền yêu cầu lại của người bị hại sau khi đã rút yêu cầu khởi tố.............50
3.1.4 Sự tham gia phiên tòa của người bị hại........................................................52
3.2 Nhữ ng vấ n đề thự c tiễ n.....................................................................................54
3.2.1 Về thực hiện nghĩa vụ của người bị hại.......................................................54
3.2.2 Về sự phối hợp của người bị hại với cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giám
định tỷ lệ thương tật...................................................................................................56
3.2.3 Sự tham gia tranh tụng của người bị hại tại phiên tòa sơ thẩm....................58
3.2.4 Khó khăn trong công tác đình chỉ điều tra các vụ án khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại khi người bị hại rút yêu cầu....................................................................59
KẾ T LUẬ N................................................................................................................62
DANH MỤ C TÀI LIỆ U THAM KHẢ O

GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Th ị Hà


Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

LỜ I NÓI ĐẦ U

1. Lý do chọ n đề tài
Hiện nay, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã kéo theo sự phát triển rất
nhanh của các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động… Các quan hệ này không đơn nh ất và
ổn định, thường xuyên xuất hiện các quan hệ xã hội mới, đa d ạng, ph ức t ạp… trong
nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề, hoạt động kinh tế xã hội mới. Đ ồng thời các tranh
chấp dân sự, kinh tế, lao động cũng có chiều h ướng gia tăng c ả v ề s ố l ượng và tính ch ất

SVTH: Lê Th ị Hà


Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

yêu cầu khởi tố… để giải quyết, bổ sung thêm những phần luật quy định ch ưa ch ặt ch ẽ
về quyền khởi tố của người bị hại, người viết không đi sâu nghiên cứu các quy định về
quyền và nghĩa vụ của người bị hại nói chung. Qua đó tại Chương M ột người viết giải
thích các khái niệm chung về khởi tố theo yêu cầu ng ười bị h ại, ở phần Ch ương Hai c ủa
bài viết người viết trình bày những quy định của pháp luật v ề kh ởi t ố v ụ án hình s ự theo
yêu cầu của người bị hại, nêu lên thực trạng áp dụng những quy định đó. Từ đó, t ại
Chương Ba, người viết trình bày khái quát những tồn tại c ơ b ản c ủa ch ế đ ịnh kh ởi t ố v ụ
án theo yêu cầu bị hại trên cơ sở những nghiên cứu lý lu ận và pháp lý đã đ ược đ ề c ập ở
hai chương đầu và nhấn mạnh những vấn đề trọng tâm, đưa ra gi ải pháp hoàn thi ện lu ật
giúp cho việc áp dụng pháp luật về khởi tố vụ án hình sự được thống nhất.
3. Mụ c tiêu nghiên cứ u
Nghiên cứu đề tài “Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị h ại” không
nhằm mục đích cải cách hệ thống tư pháp mà qua đó người viết muốn nghiên cứu sâu các
quy định của pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười b ị hại để đ ảm
bảo sự thống nhất của cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng, qua đó góp ph ần nâng cao
vai trò chủ động của người bị hại.
Từ đó người viết nêu ra hướng áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật hiện
hành cũng như đề ra các phương hướng hoàn thiện những điểm mà luật hiện hành còn
bất nhất, việc áp dụng chưa đồng bộ pháp luật trên thực tế nhằm đảm bảo cho hoạt động
khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại đạt hiệu quả cao nhất. Qua đó bảo vệ
tốt quyền lợi của người bị hại và trừng trị thích đáng kẻ phạm tội, ngăn ch ặn t ội ph ạm
mới.
4. Phươ ng pháp nghiên cứ u

GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Thị Hà


Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

NHỮ NG VẤ N ĐỀ CHUNG VỀ KHỞ I TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO
YÊU CẦ U CỦ A NGƯỜ I BỊ HẠ I
1.1 Khái niệ m chung về khở i tố vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệ m vụ án hình sự
Vụ án hình sự là sự việc xảy ra trên thực tế làm cho ng ười ta tình nghi là có t ội
phạm xảy ra, làm phát sinh các mối quan hệ pháp lý gi ữa nh ững ng ười có liên quan đ ến
vụ án và cơ quan tiến hành tố tụng.
Vụ án hình sự phát sinh chính thức từ thời điểm có quy ết đ ịnh kh ởi t ố v ụ án hình
sự. Sau khi khởi tố vụ án cơ quan điều tra phải tiến hành đi ều tra, lấy l ời khai, thu th ập
tài liệu, chứng cứ có căn cứ thì khởi tố người có hành vi phạm tội và người bị khởi tố gọi
là bị can, bị can có thể bị Công an, Viện kiểm sát b ắt, gi ữ, giam. M ọi quy ết đ ịnh kh ởi t ố
bị can, gia hạn tạm giữ, tạm giam… của Cơ quan điều tra phải có phê chu ẩn c ủa Vi ện
kiểm sát. Sau một thời gian điều tra nếu có căn c ứ cho rằng ng ười đã b ị kh ởi t ố đã th ực
hiện việc phạm tội, Cơ quan điều tra có bản kết luận điều tra chuyển sang Viện kiểm sát
đề nghị truy tố bị can ra Toà án, nếu không có căn cứ phải ra quy ết định t ạm đình ch ỉ
điều tra đối với vụ án hoặc đối với bị can (theo Điều 160 BLTTHS) hoặc đình ch ỉ đi ều
tra (theo Điều 164 BLTTHS) kết luận bị can không có tội, các kết luận này đ ều ph ải
chuyển cùng hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát cùng cấp, nếu Viện kiểm sát thấy đã đủ căn
cứ thì làm cáo trạng truy tố bị can ra Toà. Toà án nhận hồ sơ, nếu bản cáo trạng c ủa Viện
kiểm sát có đủ căn cứ thì ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Khi đưa vụ án ra xét xử thì bị
can trở thành bị cáo, Toà án sẽ ra phán quyết xem bị cáo có t ội hay không có t ội nh ằm

Trong một vụ án hình sự, xác định được hành vi phạm tội cũng như xác định được
ai sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự là vấn đề rất quan trọng. Bởi chỉ khi xác định được thì
cơ quan có thẩm quyền mới có thể phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt
một cách công minh, chính xác. Đồng thời làm cơ sở cho việc áp dụng các bi ện pháp
ngăn chặn, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan ti ến hành t ố
tụng. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp phạm tội hay tất cả những người
phạm tội đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đó là trường hợp khi có đầy đủ những
điều kiện nhất định như chưa đủ tuổi, không có năng lực trách nhiệm hình s ự…, thì m ột
người đã phạm tội họ có thể không phải chịu trách nhiệm hình s ự, có th ể đ ược mi ễn
trách nhiệm hình sự.
Để xác định sự kiện đã xảy ra mang dấu hiệu của một vụ án hình sự c ần ph ải
được chính thức giải quyết bằng con đường tố tụng hình sự theo quy đ ịnh của pháp lu ật,
cơ quan có thẩm quyền phải xác minh, tìm hiểu những thông tin cơ bản ban đầu để phục
vụ cho việc ra quyết định xác định vụ việc đã xảy ra là v ụ án hình s ự và chính th ức đ ưa
vụ án vào quá trình tố tụng. Những hoạt động tố tụng ban đ ầu này đ ược th ực hi ện trong
giai đoạn đầu tiên của vụ án là giai đoạn khởi tố vụ án hình sự.
1.1.2 Khái niệ m về khở i tố vụ án hình sự
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau như: khởi tố
vụ án hình sự, điều tra vụ án hình sự, truy tố, xét xử vụ án hình sự, thi hành bản án, quy ết
định của Toà án đã có hiệu lực và giai đoạn thủ tục đặc biệt là thủ tục giám đốc th ẩm và
tái thẩm. Trong đó, giai đoạn khởi tố là giai đoạn buộc ph ải có đ ể b ắt đ ầu các giai đo ạn
tiếp theo.
Trong vụ án hình sự thì nghĩa vụ chứng minh sẽ thuộc về các cơ quan tiến hành tố
tụng và người tiến hành tố tụng. Để thực hiện nghĩa vụ đó thì tất cả nội dung về vụ án
hình sự, trước hết là sự kiện khách quan về hành vi nguy hiểm cho xã h ội đó ph ải đ ược
đi vào quá trình tố tụng mà mở đầu là giai đoạn khởi tố.
Ví dụ: Vào chiều tối ngày 10/12/2010, Đề đã cùng các đ ối t ượng là Lê H ồng
Phong, 20 tuổi; Ngô Tiến Tùng, 23 tuổi; Đỗ Văn Lanh, 18 tuổi; Trịnh Thế Hiền, 18 tuổi;
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu



thương tích và bắt giữ người trái phép, [truy cập ngày 21/1/2011].
2

Xem: Điều 100 (Căn cứ khởi tố vụ án hình sự). Chỉ được khởi tố vụ án hình s ự khi đã xác đ ịnh có d ấu hi ệu t ội

phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:
1. Tố giác của công dân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;
3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;
4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Ki ểm lâm, l ực l ượng C ảnh sát bi ển
và các cơ quan khác của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành m ột s ố ho ạt đ ộng đi ều tra tr ực
tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;
5. Người phạm tội tự thú.
3

Xem: Điều 107 (Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự). Không được khởi tố v ụ án hình s ự khi có m ột

trong những căn cứ sau đây:
1 Không có sự việc phạm tội;
2. Hành vi không cấu thành tội phạm;
3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
6. Tội phạm đã được đại xá;

GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Thị Hà


Do khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên c ủa quá trình t ố t ụng nên ở giai
đoạn này các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ sơ bộ xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu của
tội phạm hay không. Chỉ khởi tố vụ án hình sự khi đã xác đ ịnh có d ấu hi ệu t ội ph ạm 5.
Đây là những tài liệu về sự kiện phạm tội nói chung chứ không phải tài li ệu v ề người có
hành vi phạm tội vì trong thực tế có những trường hợp lúc đầu chỉ m ới bi ết có t ội ph ạm
xảy ra, còn ai là người có hành vi phạm tội thì chưa khẳng định ngay được. Xác định d ấu
7.
4

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái th ẩm đ ối v ới ng ười
khác.

Xem: Mạc Giáng Châu, Nguyễn Chí Hiếu: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, học phần 2 – các giai

đoạn tố tụng hình sự, trường Đại học Cần Thơ, 2010, tr. 2.
5

Xem: Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Thị Hà


Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

hiệu của tội phạm ở giai đoạn này là việc xác định những dấu hiệu, hành vi và sự kiện
phạm tội chứ chưa kết luận một cách chắc chắn về tội phạm và người phạm tội.

tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, kết thúc khi cơ quan có thẩm quy ền ra m ột trong hai
quyết định là khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố v ụ án hình s ự. Quy ết
định khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó xác lập cơ sở pháp lý đầu tiên
cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, người phạm t ội. Trong
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Thị Hà


Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

chừng mực nhất định, quyết định khởi tố vụ án còn giúp đ ịnh h ướng đi ều tra đúng đ ắn
ngay từ đầu.
1.2 Khái niệ m chung về khở i tố vụ án hình sự theo yêu cầ u củ a ngườ i bị hạ i
1.2.1 Khái niệ m ngườ i bị hạ i
Người bị hại là một khái niệm quen thuộc trong khoa học pháp lý về t ố t ụng hình
sự. Tuy nhiên thế nào là người bị hại, phạm vi người bị hại… thì cho đến nay vẫn chưa
có sự nhận thức thống nhất, các ý kiến còn khác nhau. Đ ể có s ự nh ận thức đ ầy đ ủ và
thống nhất về khái niệm người bị hại thì việc làm rõ khái niệm người bị hại là cần thiết.
Dưới góc độ ngôn ngữ có thể hiểu người bị hại là con người cụ thể trong xã hội
chịu sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kì s ự tác đ ộng nào khác d ẫn đ ến
những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ. Tất nhiên sự tác động đó là trái ý
muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một cách thụ động. Thiệt hại gây ra cho người b ị
hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật ch ất và không c ần ph ải gi ới h ạn m ức đ ộ
thiệt hại.
Dưới góc độ khoa học pháp lý thì người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất,
về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Ng ười b ị hại ch ỉ có th ể là th ể nhân b ị
người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không th ể là

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

công nhận là người bị hại thì người đó tất yếu phải là người bị thiệt hại về tinh thần, th ể
chất hoặc tài sản.
Khoản 1 Điều 43 Bộ luật TTHS của Tiệp Khắc trước đây thì quy định: “Người bị
hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tài s ản, tinh th ần ho ặc nh ững
thiệt hại khác”8. Nhìn chung, quy định của Tiệp Khắc cũng không khác nhiều so với quy
định về người bị hại của Pháp luật Việt Nam. Nếu như về m ặt câu ch ữ “Ng ười b ị h ại”
theo Pháp luật Việt Nam là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản; thì “Người bị
hại” theo Pháp luật của Tiệp Khắc thay thế cụm từ “thể chất” bằng cụm t ừ “s ức kh ỏe”,
tức người bị hại là người bị thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, tài sản. Tuy về cách dùng t ừ
có sự khác nhau nhưng về nội dung thì không có sự khác biệt. Thêm vào đó ph ần ngo ại
diên của khái niệm “người bị hại” của Tiệp Khắc rộng hơn so với Việt Nam. Ngoài
những thiệt hại về sức khỏe, tài sản, tinh thần thì còn có những thi ệt hại khác x ảy ra đ ối
với người bị hại. Thiệt hại khác đó có thể là thiệt hại bất kì mà Pháp luật Tiệp Khắc quy
định để được xem là người bị hại. Vì vậy để được công nhận là người bị hại thì thiết nghĩ
người bị hại ở Tiệp Khắc sẽ đơn giản và dễ dàng hơn Pháp luật Vi ệt Nam. Cũng vì vi ệc
quy định khái niệm người bị hại của Tiệp Khắc rộng vậy nên những ng ười đ ược b ảo v ệ
sẽ nhiều hơn, vấn đề đảm bảo cho quyền và lợi ích của công dân đ ược b ảo v ệ m ột cách
triệt để hơn khi tham gia tố tụng.
Sau đây là ví dụ minh họa giải thích về người bị hại:
Ví dụ: Vào tối ngày 1/2/2005, có 7 thanh niên gồm Phùng Ng ọc H ạ ( ở 27 ngách
124/55 đường Âu Cơ); Nguyễn Thành Long (ở 104 Trần Duy Hưng); Vương Hồng Đức
(ở 188 Thụy Khê); Mai Tiễn Dung (ở Hà Hòa, Phú Thọ) cùng 3 ng ười bạn khách đ ến vũ
trường Escape, tại 771 phố Hồng Hà, Hà Nội uống rượu. Đến 1giờ ngày 2/2, anh Hà có
gác chân lên ghế, bảo vệ vũ trường nhắc. Anh Hà có nói lại. Khi anh Hà ra c ửa vũ
trường, lập tức bị nhóm bảo vệ của vũ trường gồm 8 đối tượng là Hoàng Vũ (SN 1987, ở
55/361 Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng); Trần Việt Anh (SN 1986, ở 5 lô 10 D ư Hàng
Kênh, Lê Chân, Hải Phòng); Nguyễn Văn Lý (SN 1983, Bích Hòa, Thanh Oai, Hà Tây);
Lê Văn Thao (SN 1983, ở Quảng Hà, Quảng Xương, Thanh Hóa); Nguyễn Ng ọc Đi ệp

sự thống nhất trong cách hiểu về người bị hại.
1.2.2. Đặ c điể m củ a ngườ i bị hạ i
Người bị hại là người mà quyền và lợi ích hợp pháp của h ọ bị xâm h ại n ặng n ề
nhất, bởi vì trong số những người tham gia tố tụng thì người bị hại và nguyên đơn dân s ự
đều là người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong vụ án hình sự. Song nguyên đơn dân s ự
chủ yếu là bị thiệt hại về vật chất, đôi khi cũng là những thiệt hại v ề tinh th ần, th ể ch ất,
những thiệt hại đó không lớn và chỉ được bồi thường khi có đơn yêu cầu. Còn ng ười bị
hại thì bị chính hành vi trực tiếp của tội phạm xâm hại, thiệt hại đó có th ể là sức kh ỏe,
tinh thần hoặc tài sản và được xem là người bị thiệt hại tất y ếu trong một v ụ án hình s ự
chứ không cần phải có đơn yêu cầu như nguyên đơn dân sự. Chính vì vậy người bị hại là
người chịu thiệt thòi nhất trong số những người tham gia tố tụng. Thế nhưng vẫn chưa có
cách hiểu thống nhất về người bị hại dẫn đến việc bảo vệ quyền lợi cho người bị hại
chưa nhận được sự quan tâm cần thiết.
Từ khái niệm người bị hại theo pháp luật Việt Nam, là người bị thi ệt h ại v ề th ể
chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra chúng ta thấy người bị hại có một số đặc đi ểm
cơ bản sau:
Về chủ thể, người bị hại chỉ có thể là thể nhân, một con người cụ thể. Như vậy, tổ
chức không thể là người bị hại. Vì sức khỏe, nhân phẩm, uy tín thì chỉ có và gắn liền v ới
một con người cụ thể, những thiệt hại này không thể có khi xảy ra đối v ới t ổ ch ức.
Nhưng có ý kiến lại cho rằng, ngoài cá nhân là ng ười b ị h ại, trong tr ường h ợp t ổ ch ức,
pháp nhân bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì phải xem t ổ ch ức ho ặc pháp nhân đó là
người bị hại. Bảo vệ cho quan điểm của mình họ cho rằng trong thực tế hành vi phạm tội
không chỉ gây ra thiệt hại cho cá nhân, hành vi phạm t ội trong th ực t ế còn nh ắm đ ến đ ể
9

Xem: />
Escape/55064982/218/, khám phá vụ cố ý gây thương tích tại vũ trường Escape, [truy cập ngày 12/2/2011].

GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu


thiệt hại về tài sản. Tuy nhiên, hậu quả của sự thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc
trong tất cả các trường hợp.
- Đối với các loại tội phạm có cấu thành vật chất bắt buộc phải có hậu quả xảy ra
và hậu quả đó thường là thiệt hại về thể chất và tài sản. Trong trường hợp này sự thiệt
hại gây ra cho người bị hại phải là những thiệt hại cụ thể, thiệt h ại đó ph ải có tính hi ện
tại và xác định; sự thiệt hại không thể không cụ thể, chưa xác định, hoặc có tính chất mơ
hồ, chưa hoặc sắp xảy ra. Sự thiệt hại đó phải là thiệt hại trực tiếp do chính tội phạm gây
ra, thiệt hại đó phải có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm t ội, đ ược th ể hi ện thông
qua vụ án sau. Ví dụ: Quách Bảo Sơn là tên l ưu manh s ống lang thang nay đây mai đó.
Ngày 10/8/2000, khi thấy cháu bé tên Kiều (4 tuổi) đang đứng trước cổng rạp chiếu bóng

10

Xem: />
cha mất nhân tính cưỡng bức con gái năm tuổi, pháp luật online, [truy cập ngày 22/1/2011].

GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Thị Hà


Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

vì lạc mẹ, Sơn đã cho Kiều một viên kẹo tẩm thuốc mê. Khi Kiều đã mê man, S ơn đã b ế
Kiều và đưa vào thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Sơn bắt Ki ều phải đi ăn xin. Đ ể có
thể gạt được thiên hạ, Sơn đã đánh kiều đến chảy máu đầu r ồi đ ưa vào b ệnh vi ện c ấp
cứu. Bệnh viện Chợ Rẫy đã xác định Kiều bị chấn thương sọ não, băng bó và c ấp thu ốc.
Sau đó, Sơn đã bế Kiều ra khỏi bệnh viện đi ăn xin trên các ph ố. Ngày 19/9/2000, S ơn


Xem: Phạm Văn Beo: Tập bài giảng Luật hình sự 3, trường Đại học Cần Thơ, 11-2008, tr. 81.

Xem: Làm nhục người khác vì ghen, [truy cập ngày

14/2/2011].

GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Thị Hà


Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

cha mình, lợi dụng lúc có đông đủ các người em, T. đã kích động, lôi kéo và trực ti ếp đến
làm nhục chị M. trước mặt nhiều người. Hành vi này đã xâm h ại nghiêm tr ọng đ ến danh
dự, nhân phẩm của chị M.; đồng thời gây mất trật tự trị an ở địa phương, nên T. và H. đã
phạm tội: “Làm nhục người khác” theo quy định tại Khoản 1, Điều 121 BLHS. Trong đó
chị M. là người bị hại, bị T. và H. xâm phạm đến danh d ự nhân ph ẩm (thi ệt h ại tinh
thần).
Thiệt hại của người bị hại phải là đối tượng tác động của tội phạm, tức là phải có
mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu qu ả gây ra cho ng ười b ị h ại. Đây là
điều kiện quan trọng để phân biệt giữa người bị hại và nguyên đơn dân sự hay các đương
sự khác trong vụ án hình sự.
Khi có thiệt hại gây ra đối với người bị hại thì đó là sự thi ệt h ại do m ột t ội ph ạm
được luật hình sự quy định, xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng c ủa
người bị thiệt hại, các quyền đó được pháp luật bảo vệ. Đồng thời, sự thiệt hại mà người
bị hại phải gánh chịu không phải có nguồn gốc từ hành vi không phù hợp pháp luật c ủa


1.2.3 Khái niệ m khở i tố vụ án hình sự theo yêu cầ u củ a ngườ i bị hạ i
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là vi ệc kh ởi t ố v ụ án mà khi
người bị hại yêu cầu thì cơ quan tiến hành tố tụng mới được tiến hành khởi tố.
Khi một vụ án hình sự xảy ra thì việc khởi tố vụ án hình sự là quy ền và trách
nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bởi hành vi phạm tội của t ội ph ạm đã xâm
hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ như sự an toàn tính mạng, quy ền s ống c ủa
công dân gây thiệt hại cho Nhà nước, xã hội và cá nhân ng ười bị hại. Nh ững thi ệt h ại đó
không chỉ là thiệt hại về vật chất mà còn gây thiệt h ại nghiêm tr ọng đ ến tinh th ần c ủa
người bị hại. Việc khởi tố người phạm tội trong những trường hợp đó mặc dù góp phần
giữ nghiêm trật tự kỷ cương và mang lại lợi ích cho xã hội nhưng có khi lại gây thêm
những mất mát, làm tổn thương thêm cho người bị hại về mặt tinh thần. Đ ể h ạn ch ế
những trường hợp quyết định khởi tố có thể cùng một lúc mang lại lợi ích rất nhỏ cho xã
hội nhưng lại gây thiệt hại lớn hơn cho người bị hại, pháp lu ật đã ghi nh ận trong m ột s ố
vụ án thì chỉ khi người bị hại yêu cầu thì cơ quan chức năng m ới đ ược kh ởi t ố. Vi ệc ghi
nhận như vậy đã tạo cho người bị hại có quyền chủ động hơn, có sự cân nhắc k ỹ l ưỡng
khi quyết định có nên đưa vụ việc ra trước pháp luật. Không phải vụ án nào khi x ảy ra
người bị hại cũng muốn người gây thiệt hại cho mình phải chịu hình ph ạt, nh ư những v ụ
án gây thương tích nhẹ liên quan đến những người thân trong gia đình, đến tình làng
nghĩa xóm… Người bị hại và những người liên quan đến vụ án ch ỉ mu ốn t ự dàn x ếp v ới
nhau một cách bình đẳng và đôi bên cùng có lợi, nếu giao quyền khởi tố đương nhiên cho
các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ làm mất đi tình c ảm anh em, làng xóm. M ặt khác, có
những vụ án nếu được khởi tố còn khiến cho người bị hại b ị t ổn th ương h ơn v ề m ặt tinh
thần, bí mật cần giữ kín (như những vụ án hiếp dâm). Vì vậy việc quy định người bị hại
tự mình đứng ra yêu cầu khởi tố, lại chính là hình th ức giúp b ảo v ệ quy ền l ợi cho ng ười
bị hại được tốt hơn.
Nhưng không phải yêu cầu nào của người bị hại cũng được cơ quan tiến hành tố
tụng hình sự khởi tố. Việc khởi tố chỉ được cơ quan tiến hành tố tụng hình sự quy ết đ ịnh
trên cơ sở kết hợp hai yếu tố: Có dấu hiệu của tội phạm và có yêu c ầu kh ởi t ố v ề hình
sự. Nếu không có dấu hiệu tội phạm thì dù người bị hại có yêu c ầu khởi t ố cũng không

khởi tố chị Trà Cẩm Thu vì vậy không thể khởi tố vụ án được.
Ngược lại, nếu người bị hại không yêu cầu khởi tố thì dù đã xác định có dấu hiệu
tội phạm cũng không được khởi tố. Ví dụ: Chị Thu (trú ở xã Diễn Liên, huy ện di ễn
Châu, Nghệ An) trên đường đưa trâu ra đồng đi chăn thì con trâu này đã vô tình đi “bậy”
ra ngoài đường, sát bên ngõ nhà bà Võ Thị Hoa, ở xóm 8 cùng xã. Hậu qu ả chị Thu b ị bà
Hoa bốc phân ném vào mặt và cùng với hai cô con gái giúi đ ầu xu ống bãi phân trâu 14.
Người bị hại của vụ án này là chị Thu đã bị mẹ con bà Hoa ném phân vào m ặt, giúi đ ầu
xuống bãi phân. Hành vi đó đã xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm c ủa ch ị, đ ủ y ếu t ố
để cấu thành tội làm nhục người khác. Ở vụ án trên hành vi của mẹ con bà Hoa đã đủ yếu
tố cấu thành tội phạm nhưng nếu chị Thu không yêu cầu khởi tố vụ án mà chỉ muốn tự
dàn xếp thì các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không được tiến hành khởi tố.
Qua cả hai vụ án trên ta thấy để có thể khởi tố theo yêu cầu c ủa ng ười b ị hại thì
nhất thiết phải hợp đủ hai điều kiện đã được phân tích ở trên đó là: hành vi c ủa ng ười
gây thiệt hại phải đủ yếu tố cấu thành tội phạm và phải có yêu c ầu kh ởi t ố v ụ án c ủa
người bị hại. Phân tích từ hai vụ án trên, nếu bỏ qua trường hợp phải có đơn yêu cầu khởi
tố vụ án hình sự của người bị hại thì xét về yếu tố cấu thành tội phạm của cả hai vụ án ta
nhận thấy ở vụ án của anh Trương Minh Đương và chị Thu thì chỉ có vụ án của chị Thu là
đủ yếu tố để cấu thành tội phạm.
13

Xem: />
Tròng quần lên đầu người khác có phạm tội làm nhục, [truy cập ngày 22/1/2011].
14

Xem: có thể

khởi tố vụ ba người giúi đầu một người vào bãi phân, [truy cập ngày 19/1/2011].

GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu


nhân phẩm của chị Thu, đã thỏa mặt khách quan của tội phạm. Đối với vụ án anh Trương
Minh Đương bị chị Trà Cẩm Thu tròng quần nữ lên đầu, khi anh Đ ương yêu c ầu kh ởi t ố
vụ án mà bị bác đơn với lý do “không đủ yếu tố c ấu thành t ội ph ạm”. Thi ết nghĩ khi v ụ
án xảy ra nhiều người sẽ cho rằng hành vi đó c ủa ch ị Trà C ẩm Thu là xúc ph ạm nghiêm
trọng đến danh dự của anh Đương, song xem xét một cách khách quan, khái quát toàn b ộ
sự việc xảy ra thì vẫn chưa đủ yếu tố để cấu thành tội phạm đối với chị Trà Cẩm Thu.
Bởi khi địa điểm chị Trà Cẩm Thu tròng quần lên đầu anh Đ ương là ở ngay t ại ti ệm c ủa
anh, không phải nơi công cộng, anh Đương cảm thấy nhục chứ không bị làm nh ục tr ước
mặt nhiều người. Trước khi sự việc xảy ra thì giữa anh Đương và chị Trà Cẩm Thu xảy
ra nhiều mâu thuẫn, đã có nhiều trận cãi vã xảy ra gây ồn ào, hành vi của chị Thu xuất
phát từ mâu thuẫn có từ trước, chị Thu chỉ tròng quần lên đầu anh Đương rồi chạy về nhà
chứ không hề có hành động nào khác. Vì vậy anh Đương không đến mức xem là b ị xúc
phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, không thỏa mặt khách quan của tội phạm.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Thị Hà


Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

Cho nên đối với vụ án của anh Đương, Công an huyện U Minh đã không đ ồng ý
yêu cầu khởi tố vụ án, do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm khi anh Đ ương yêu c ầu
khởi tố chị Trà Cẩm Thu về tội làm nhục người khác. Về vụ án của chị Thu, đã đủ yếu tố
cấu thành tội làm nhục người khác cho mẹ con bà Hoa, chỉ cần ch ị Thu có yêu c ầu kh ởi
tố thì các cơ quan chức năng sẽ bảo vệ quyền lợi cho chị.
Từ hai vụ án trên cũng như thực tế các vụ án được khởi tố khi có yêu c ầu c ủa
người bị hại tại khoản 1 của các Điều luật được quy định tại Điều 105 BLTTHS năm
2003, xét thấy người bị hại chỉ được yêu cầu khởi tố trong trường hợp hành vi ph ạm t ội

SVTH: Lê Thị Hà


Luận văn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu c ủa ng ười bị hại

tâm thần không; hành vi đó có vi phạm vào đi ều nào c ủa BLHS; và h ậu qu ả gây ra đã
đến mức xử lý hình sự chưa. Nếu không có dấu hiệu tội phạm thì dù ng ười b ị h ại có yêu
cầu khởi tố cũng không được khởi tố. Ngược lại, nếu người bị hại không yêu cầu khởi tố
thì dù đã xác định có dấu hiệu tội phạm cũng không đ ược kh ởi t ố. Khi nh ận đ ược yêu
cầu khởi tố của người bị hại cơ quan có thẩm quyền tiến hành đi ều tra, sau khi k ết thúc
hoạt động thu thập và xử lý thông tin nếu thấy đủ yếu tố để khởi t ố theo yêu c ầu c ủa
người bị hại thì sẽ lập hồ sơ để khởi tố, còn nếu vụ án kh ởi t ố không có đ ủ ch ứng c ứ và
xét thấy vụ việc không cần phải truy cứu do không đủ yếu tố cấu thành t ội phạm thì c ơ
quan tiến hành tố tụng quyết định không khởi tố.
- Thứ ba, chủ thể có quyền đưa ra yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo yêu c ầu c ủa
người bị hại chỉ có thể là người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại
là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất (khoản 1 Điều
105) nhằm phòng ngừa cá nhân lạm dụng quyền khởi tố và bảo vệ tính nghiêm túc của tố
tụng hình sự cũng như quyền và lợi ích của bị cáo. Bị cáo trong v ụ án kh ởi t ố theo yêu
cầu của người bị hại phải rõ ràng, tức là đối tượng truy tố phải xác đ ịnh. Khi yêu c ầu
khởi tố thì người bị hại cần cung cấp đầy đủ thông tin về họ và tên, gi ới tính, ch ỗ ở, ch ỗ
làm việc của bị cáo cho Tòa án để có thông báo cho bị cáo tham gia tố tụng.
- Thứ tư, người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ
trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức. Chỉ đ ược kh ởi t ố v ụ án khi có yêu c ầu
của người bị hại, thậm chí người bị hại đã yêu cầu khởi tố và các c ơ quan tiến hành t ố
tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã làm xong phần việc của mình, rồi chuyển
hồ sơ cho Tòa án thụ lý, nếu trước khi mở phiên toà, bị hại rút đ ơn yêu c ầu x ử lý, thì v ụ
án phải được đình chỉ theo luật định (trừ khi có căn cứ cho r ằng, ng ười b ị h ại b ị ép bu ộc

quan tố tụng, lúc này các cơ quan tố tụng mới có cơ sở đề ra những biện pháp phù h ợp
nhằm điều tra làm rõ và xử lý tội phạm để hướng tới mục tiêu chung là đấu tranh và
phòng chống tội phạm. Theo quy định tại Điều 4 BLHS năm 1999 thì “m ọi công dân có
nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”, vì v ậy công vi ệc
đấu tranh và phòng chống tội phạm là quyền và nghĩa vụ c ủa m ọi ng ười trong đó có
người bị hại. Bằng hành vi yêu cầu khởi tố hành vi gây thiệt hại cho mình, ng ười bị h ại
đã giúp các cơ quan chức năng nhanh chóng tìm ra t ội ph ạm đ ể b ảo v ệ b ản thân đ ồng
thời bảo vệ các cá nhân, tổ chức, tài sản, pháp chế Nhà nước và trật tự an toàn xã hội.
1.3.2 Ý nghĩa củ a việ c khở i tố vụ án hình sự theo yêu cầ u củ a ngườ i bị hạ i
Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết
vụ án hình sự. Qua việc yêu cầu khởi tố của người bị hại và người đại diện hợp pháp của
người bị hại thì hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án được tiến hành một cách
nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt đ ộng t ố t ụng ti ếp theo nh ư đi ều tra,
truy tố, xét xử.
Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại góp phần bảo vệ danh dự, nhân ph ẩm cho
người bị hại. Trên thực tế, có một số vụ án chỉ liên quan đến thành viên c ủa cùng m ột gia
đình, người bị hại và người phạm tội có mối quan hệ đặc biệt. Nếu cơ quan có th ẩm
quyền tự mình khởi tố vụ án hình sự có thể gây thêm những tổn th ất v ề tinh thần cho
người bị hại. Chính vì vậy, để cho người bị hại tự quyết định có cần truy cứu trách nhiệm
hình sự hay không, hoặc cho phép hai bên đương sự hòa gi ải thì có l ợi cho vi ệc gi ải
quyết vấn đề, và có lợi cho việc giáo dục, cảm hóa người ph ạm t ội, đ ạt đ ược k ết qu ả tr ị
bệnh cứu người. Mặt khác, một số vụ án chỉ liên quan đến danh dự, việc riêng ph ải gi ữ
kín của người bị hại, nếu cơ quan công tố luôn mặc nhiên tiến hành tố tụng làm m ọi
người đều biết rõ sự việc thì có lẽ càng gây tổn hại nhiều hơn cho người bị hại. Hơn nữa,
trong những vụ án như vậy nếu người bị hại không muốn tố cáo mà ph ủ nhận việc có
hành vi phạm tội xảy ra hoặc có thái độ bất hợp tác với cơ quan ti ến hành t ố t ụng thì r ất
khó điều tra sự thật của vụ án một cách rõ ràng. Cho nên, pháp luật quy định cho ng ười bị
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Thị Hà

Xem: Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Điều 105. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh.
Điều 106. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng
vệ chính đáng.
Điều 108.Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Điều 109. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho súc khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề
nghiệp hoặc quy tắc hành chính.
Điều 111. Tội hiếp dâm.
Điều 113. Tội cưỡng dâm.
Điều 121. Tội làm nhục người khác.
Điều 122. Tội vu khống.
Điều 170a. Tội xâm phạm quyền tác giả.
Điều 171. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu

SVTH: Lê Thị Hà



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status