TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
--- ---
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA: 2011 – 2015
Đề Tài
CÁC TRƢỜNG HỢP KHỞI TỐ VỤ ÁN
HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA
NGƢỜI BỊ HẠI
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.S Mạc Giáng Châu
Huỳnh Thủy Tiên
Bộ môn Tƣ pháp
MSSV: 5117435
Lớp:Luật Tƣ pháp
Cần Thơ, tháng 12/ 2014
NHẬN XÉT CỦA QUÝ THẦY CÔ
..........................................................................................................................
1.1.2.1 Định nghĩa khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại...... 8
1.1.2.2 Ý nghĩa của việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị
hại ..................................................................................................................... 9
1.1.3 Khái niệm ngƣời bị hại ......................................................................... 11
1.1.3.1. Định nghĩa người bị hại ................................................................. 11
1.1.3.2.Đặc điểm pháp lý về người bị hại .................................................... 13
1.1.4.Khái niệm trƣờng hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngƣời
bị hại .................................................................................................................. 15
1.1.4.1. Định nghĩa trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
người bị hại ........................................................................................................ 15
1.1.4.2. Đặc điểm của các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của người bị hại ................................................................................................ 16
1.2. Cơ sở lý luận về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu cảu ngƣời bị hại ... 18
1.2.1. Tầm quan trọng và ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của ngƣời bị hại........................................................................................................ 18
1.2.1.1. Tầm quan trọng của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người
bị hại ............................................................................................................... 18
1.2.1.2. Ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại . 19
1.2.2. Nguyên tắc cơ bản bảo vệ ngƣời bị hại trong các trƣờng hợp khởi
tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngƣời bị hại..................................................... 20
1.2.2.1. Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự ................. 20
1.2.2.2. Nguyên tắc chỉ được khởi tố khi người bị hại có yêu cầu .............. 21
1.2.2.3. Nguyên tắc khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố thì không được yêu
cầu lại ............................................................................................................. 22
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên
3.1.1. Đối với các trƣờng hợp quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình
sự nên bãi bỏ ..................................................................................................... 45
3.1.1.1. Tồn tại ............................................................................................. 45
3.1.1.2. Giải pháp ........................................................................................ 48
3.1.2 Đối với các trƣờng hợp quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình
sự cần đƣợc bổ sung ......................................................................................... 49
3.1.2.1. Tồn tại ............................................................................................. 49
3.1.2.2. Giải pháp ........................................................................................ 51
3.2 Về mặt thực tiễn ........................................................................................... 52
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên
Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại
Luận văn tốt nghiệp
3.2.1 Đối với các trƣờng hợp không đƣợc quy định là các trƣờng hợp
khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngƣời bị hại .................................... 52
3.2.1.1. Tồn tại ............................................................................................. 52
3.2.1.2. Giải pháp ........................................................................................ 55
3.2.2 Đối với các trƣờng hợp đƣợc quy định là các trƣờng hợp khởi tố vụ
án hình sự theo yêu cầu của ngƣời bị hại ....................................................... 56
3.2.2.1. Tồn tại ............................................................................................. 56
3.2.2.2. Giải pháp ........................................................................................ 58
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
do khác nhau mà quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại chưa được bảo vệ tốt
và kịp thời, vì vậy cần thiết phải có các nguyên tắc phù hợp để bảo vệ người bị hại.
Mặt khác, các trường hợp người bị hại được quyền yêu cầu khởi tố theo quy định
của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành tại khoản 1, Điều 105 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 người viết cho rằng có phạm vi còn chưa hợp lý, hoàn thiện và còn
nhiều thiếu sót so với thực tiễn. Quyền yêu cầu khởi tố của người bị hại chỉ giới hạn
trong một số trường hợp, trong khi đó trên thực tế vẫn còn một số trường hợp tương
tự xảy ra mà người viết cho rằng người bị hại hoàn toàn có thể có quyền yêu cầu
khởi tố vụ án hình sự. Hơn nữa, thực tiễn áp dụng ngày càng phát sinh nhiều bất
cập dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại cũng như của Nhà nước
không được đảm bảo.
Chính vì những lẽ trên, người viết chọn nghiên cứu đề tài “Các trường hợp
khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại” nhằm làm sáng tỏ vấn đề
mang tính cấp thiết và thời sự này.
1
Lê Cảm, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng, Tạp
chí Luật học, số 02/2004.
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu
1
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên
Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại
cầu của người bị hại trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam.
4.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, để có những thông tin cần thiết và thuận tiện cho
việc nghiên cứu làm sáng tỏ những nội dung, những quy định trọng tâm của đề tài
“Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại” người viết
đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích luật viết,
tiếp cận thông tin, tra cứu tài liệu dựa trên những quy định của pháp luật và các văn
bản có liên quan, nghiên cứu thông qua các phương tiện thông tin (sách, báo,
website…), các bài viết, các công trình nghiên cứu có giá trị và tạp chí chuyên
ngành… để xử lý, tổng hợp những thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu.
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu
2
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên
Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại
Luận văn tốt nghiệp
Từ đó phân tích quy định kết hợp với thực tiễn áp dụng, đưa ra ý kiến của bản thân
để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu của đề tài.
5.
Luận văn tốt nghiệp
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO YÊU CẦU CỦA NGƢỜI BỊ HẠI
1.1.
Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.
Khái niệm khởi tố vụ án hình sự
Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.
Có vụ án thì trải qua tất cả các giai đoạn tố tụng, có vụ án thì ít hơn, có thể dừng lại
ở bất kì giai đoạn nào nhưng vụ án nào cũng có giai đoạn khởi tố vụ án.2
Để xác định sự việc đã xảy ra có mang dấu hiệu của một vụ án hình sự hay
không thì không gì khác hơn là cần phải giải quyết bằng con đường tố tụng hình sự.
Nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền là xác minh những thông tin cơ bản ban đầu
để từ đó có thể đưa ra quyết định, xác định sự việc đã xảy ra đó có phải là vụ án
hình sự hay không, sau đó mới đưa vụ án vào giai đoạn điều tra. Những hoạt động
ban đầu này được thực hiện ngay trong giai đoạn đầu tiên của vụ án – giai đoạn
khởi tố vụ án hình sự. Như vậy, “khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của
quá trình tố tụng hình sự trong đó cơ quan có thẩm quyền thu thập, xử lý các thông
tin ban đầu và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ
án hình sự”3. Đây được xem là giai đoạn đầu tiên, và cũng có thể nói rằng đây là
một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự. Bởi giai đoạn này có nhiệm vụ riêng
mang đặc thù về chủ thể tố tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng. Thời điểm bắt
đầu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là từ khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
hình sự và những trách nhiệm pháp lí khác…”.4 Tội phạm được hiểu là những hành
vi gây nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự bảo vệ, do người có năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện. Hay nói khác hơn, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã
hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt.5 Những quan hệ xã hội với
tư cách là khách thể bảo vệ của luật hình sự như: chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền
làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa… nếu chủ thể nào xâm phạm đến thì đều phải chịu trách
nhiệm hình sự.
Như vậy, vụ án hình sự là vụ án mà các hành vi vi phạm là tội phạm, là hành
vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hay nói khác hơn, vụ
án hình sự là vụ án phát sinh khi có dấu hiệu tội phạm từ đó cơ quan có thẩm quyền
sẽ khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003 để xác định ai là tội phạm và xử lý người phạm tội.
1.1.1.2. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là hành vi có dấu hiệu của tội phạm đã được xác
định. Những vi phạm pháp luật xảy ra vô cùng phong phú, đa dạng trong đời sống
xã hội. Các vi phạm pháp luật đó được xử lí bằng các biện pháp khác nhau, trong đó
có biện pháp hình sự. Để đảm bảo cho hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm
có hiệu quả, tránh được những trường hợp oan sai có thể xảy ra, Bộ luật Tố tụng
hình sự quy định chỉ được khởi tố vụ án khi hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm.
Nghĩa là chỉ có một căn cứ duy nhất để khởi tố vụ án hình sự là khi xác định được
sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm chứ không phải là đủ dấu hiệu tội phạm. Có thể
các thông tin mà cơ quan có thẩm quyền nhận được chưa phản ánh đầy đủ về tội
phạm đã xảy ra, nhưng là căn cứ để khẳng định rằng cần phải tiến hành tố tụng để
làm rõ vụ việc. Vì đây là thông tin, tài liệu về sự kiện phạm tội chứ không phải là
thông tin, tài liệu về người có hành vi phạm tội cho nên không phải trường hợp nào
cũng biết ai là người thực hiện hành vi phạm tội mà có chăng là biết được đã có tội
4
luật của một người nào đó mà họ cho rằng đó là tội phạm, là hành vi gây nguy hiểm
cho xã hội. Pháp luật Tố tụng hình sự cũng có quy định tại Điều 101 là công dân có
thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ
quan khác, tổ chức. Điều này cho thấy công dân được phép tố giác những hành vi vi
phạm pháp luật hình sự ở bất kì cơ quan, tổ chức nào chứ không phải ở một cơ quan
hoặc chỉ là cơ quan tiến hành tố tụng.6 Việc quy định như thế là hợp lí. Bởi lẽ, nếu
quy định cụ thể ở một cơ quan nào đó thì việc công dân thực hiện quyền tố giác của
mình bị hạn chế về nhiều mặt. Vì không phải ai cũng có hiểu biết cơ bản về pháp
luật, điều kiện thuận lợi để đi đến nơi quy định để tố giác cũng như tâm lí lo lắng sự
trả thù từ phía người thực hiện hành vi phạm tội, sự phiền hà khi tố giác. Cho nên
rất nhiều khả năng để tránh những rắc rối có thể xảy ra mà công dân không thực
hiện quyền tố giác tội phạm của mình. Từ đó những thông tin về tội phạm sẽ không
được phát hiện nhanh chóng và xử lí kịp thời, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm
quyền trong công cuộc phòng chống tội phạm. Đồng thời, không những quyền tố
giác tội phạm cơ bản của công dân không được phát huy mà còn không đảm bảo
được việc bảo vệ được trật tự trong xã hội.
Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải
báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản. Điều này cũng có ý
nghĩa quan trọng thể hiện trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nhận được tin tố giác
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền xem xét việc ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Song song đó,
pháp luật cũng quy định cho công dân được quyền tố giác tội phạm bằng nhiều hình
6
Mạc Giáng Châu – Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình Tố tụng Hình sự Việt Nam - Học phần 2 “Các giai đoạn
Tố tụng hình sự”, Khoa luật- Đại học Cần Thơ, Cần Thơ, 2010, Tr 4.
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu
-
Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Phát huy vai trò to lớn của
các phương tiện thông tin đại chúng trong việc đấu tranh với các hiện tượng tiêu
cực và vi phạm pháp luật, Khoản 3 Điều 100 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định
thông tin về tội phạm được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, là cơ
sở để khởi tố vụ án hình sự. Những tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
rất đa dạng và mang tính thời sự cao mà có thể những thông tin này cơ quan có
thẩm quyền không biết đến. Những sự việc nêu trên các phương tiện thông tin như
báo chí, phát thanh, truyền hình… tuy không được trực tiếp gửi đến các cơ quan có
thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Nhưng các cơ quan này phải có trách nhiệm xem
xét để xác định có dấu hiệu tội phạm hay không và tiến hành giải quyết theo quy
định.
-
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm
lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát
hiện dấu hiệu của tội phạm. Tuy những chủ thể nêu trên chỉ có chức năng quản lí
trên các lĩnh vực hành chính cụ thể. Nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của
mình họ có nhiều điều kiện để phát hiện những sự việc có dấu hiệu tội phạm. Cho
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu
7
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên
một cách toàn diện, khi nào xác định là sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm thì mới
tiến hành ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
1.1.2.
Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngƣời bị hại
1.1.2.1. Định nghĩa khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
Cả trong 2 Bộ luật của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 1988 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) đều thể hiện sự tiến bộ của
mình. Vì đều quy định vấn đề khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.
Tuy nhiên, cho đến nay Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành vẫn chưa đưa ra khái
niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là như thế nào. Điều này
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu
8
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên
Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại
Luận văn tốt nghiệp
là một thiếu sót của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam vì chưa thể hiện được tính
toàn diện. Vì thế, theo quy định của điều luật (Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2003) chúng ta có thể hiểu khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
thì phải có sự yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại đó là
yếu tố cần thiết để cơ quan có thẩm quyền điều tra, xem xét để đưa ra một trong hai
quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Đây được xem là trường hợp
9
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên
Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại
Luận văn tốt nghiệp
lợi ích cá nhân…. của người bị hại nên có khi họ lại không mong muốn giải quyết
bằng con đường tố tụng hình sự. Vì lẽ đó, trong một số trường hợp nhất định pháp
luật cho phép người bị hại được phép lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc không
yêu cầu khởi tố vụ án. Mà cụ thể tại Khoản 1, Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2003 đã quy định rõ các trường hợp nào thì người bị hại được quyền yêu cầu
khởi tố. Đây là một quy định phù hợp với thực tiễn áp dụng và có ý nghĩa thật sự to
lớn đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại:
Một là, hạn chế gây thêm tổn thương về danh dự, nhân phẩm, làm lộ bí mật
đời tư của người bị hại. Vì người bị hại đã là người chịu xâm hại nặng nề và chịu
thiệt thòi nhiều nhất về cả thể chất lẫn tinh thần. Trên thực tế, một số tội phạm như
tội hiếp dâm, cưỡng dâm, làm nhục người khác hay vu khống,….. làm ảnh hưởng
đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người bị hại. Nên khi người bị hại bị xâm hại
thì có thể họ không mong muốn giải quyết bằng pháp luật . Vì họ muốn bảo vệ uy
tín, danh dự cho mình và cũng mong muốn sự việc vi phạm được giải quyết nhanh
chóng mà không gây tác động lớn về mặt pháp lý đối với bản thân, thậm chí có khi
là bảo vệ cho chính người thực hiện hành vi phạm tội. Hơn nữa, các trường hợp
khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là các trường hợp có tính lợi ích
cá nhân hơn, có mức độ nguy hiểm ít cho xã hội. Vì vậy, mà các trường hợp này là
các trường hợp đã dựa trên sự cân nhắc giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của
người bị hại nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích Nhà nước và lợi ích của người bị
rà…. Đó là chưa kể đến vì sự thiếu hiểu biết mà người bị hại yêu cầu giải quyết
bằng thủ tục tố tụng và bị thua kiện thì người bị hại phải chịu toàn bộ án phí. Mặt
khác, làm tăng thêm gánh nặng cho các Tòa án khi phải giải quyết quá nhiều vụ án
trong khi vụ việc đó có thể được các bên tự dàn xếp ổn thỏa và lợi ích của họ cũng
như của Nhà nước cũng được đảm bảo.
1.1.3.
Khái niệm ngƣời bị hại
1.1.3.1. Định nghĩa người bị hại
Pháp luật Tố tụng hình sự của các nước không có sự thống nhất trong việc sử
dụng thuật ngữ “người bị hại”. Trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, cộng
hòa Pháp hay Liên Bang Nga thì sử sụng thuật ngữ “người bị hại”. Còn trong pháp
luật Tố tụng hình sự của cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì sử dụng thuật ngữ là
“người tố cáo”. Ngoài ra, ở một số nước người ta còn sử dụng thuật ngữ là “người
bị thiệt hại” hay “nạn nhân”. Tuy có sự sử dụng khác nhau nhưng suy cho cùng thì
họ cũng là người bị tội phạm xâm hại và cần pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp. Thuật ngữ “người bị hại” là một thuật ngữ quen thuộc trong khoa học pháp lý
Tố tụng hình sự Việt Nam. Song, việc hiểu rõ về vấn đề này vẫn còn chưa thống
nhất và còn nhiều tranh cãi.
Theo Từ điển luật học, Người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất, về tinh
thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị
người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể
là pháp nhân”.7 Quan điểm khác lại cho rằng người bị hại không chỉ là cá nhân mà
còn có thể là pháp nhân, tổ chức.8
Như vậy, để hiểu rõ hơn về khái niệm người bị hại chúng ta cần làm rõ một số
khái niệm liên quan:
7
Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, 1999, tr. 198
2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu
12
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên
Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại
Luận văn tốt nghiệp
Ngoài cá nhân, người viết cho rằng cần thừa nhận pháp nhân và kể cả tổ
chức không có tư cách pháp nhân cũng là người bị hại trong trường hợp bị thiệt hại
trực tiếp về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra. Do vậy, người bị hại là cá nhân, tổ
chức bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về thể chất,
tinh thần, tài sản. Người bị hại được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
công nhận khi xác định có dấu hiệu thiệt hại.
1.1.3.2. Đặc điểm pháp lý về người bị hại
Để quá trình giải quyết vụ án hình sự được toàn diện, khách quan và chính xác
thì việc xác định ai là người bị hại cũng như những thiệt hại mà họ bị xâm hại có
cần hậu quả thực tế xảy ra hay không thì mới được xem là người bị hại và bị xâm
hại như thế nào, trực tiếp hay gián tiếp và do ai xâm hại. Đây là tiêu chí rất quan
trọng để phân biệt người bị hại với nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án.Tất cả những đặc điểm đó đều là những đặc điểm quan trọng
để xác định ai là người bị hại. Người bị hại là một chế định pháp lý được quy định
Luận văn tốt nghiệp
2003.12 Vì vậy mà từ trước đến nay người bị hại trong pháp luật Tố tụng hình sự
Việt Nam chỉ được nhắc đến với tư cách là một cá nhân mà thôi.
Người bị hại phải là người bị thiệt hại. Thiệt hại ở đây là những thiệt hại thực
tế xảy ra cho người bị hại. Đó là thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, về những tổn thất tinh thần mà người bị hại phải
gánh chịu…. Những thiệt hại này đều là những thiệt hại thực tế do tội phạm gây ra
và đó phải là những thiệt hại trực tiếp. Nếu là thiệt hại gián tiếp như một người bị
kẻ phạm tội xâm phạm đến sức khỏe của họ và một người khác trong gia đình phải
nghỉ việc để chăm sóc, và vì lẽ đó dẫn đến thu nhập gia đình bị giảm xuống. Trường
hợp này nếu có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì họ tham gia với tư cách là nguyên
đơn dân sự vì họ không bị tội phạm trực tiếp xâm hại. Trên thực tế, nếu một người
chưa bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra thì người đó không được coi là người bị
hại.13
Thiệt hại của người bị hại phải do tội phạm gây ra. Thiệt hại của người bị hại
phải là đối tượng tác động của tội phạm, tức là phải có mối liên hệ nhân
quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả gây ra cho người bị hại. Đây là điều kiện
quan trọng để phân biệt giữa người bị hại và nguyên đơn dân sự hay các đương sự
khác trong vụ án hình sự. Hay nói khác hơn, thiệt hại mà không phải do tội phạm
gây ra được quy định trong Luật Hình sự thì sẽ không được pháp luật bảo vệ. Bởi
trong xã hội có rất nhiều mối quan hệ và nhiều những hành vi vi phạm pháp luật mà
pháp luật thì chỉ điều chỉnh ở một số tội phạm quy định cụ thể chứ chưa thể điều
chỉnh bao quát hết những mối quan hệ, những hành vi trái pháp luật ấy. Do đó,
những thiệt hại nào là do tội phạm gây ra và được Luật Hình sự bảo vệ thì mới được
xem là bị thiệt hại.
Như vậy, là người bị hại, trước hết, họ phải là con người cụ thể chứ không
phải là cơ quan, tổ chức. Họ phải là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc
về tài sản. Các thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản phải là thiệt hại do
Định nghĩa trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
người bị hại
Pháp luật thực định chưa có định nghĩa cụ thể về các trường hợp khởi tố vụ án
hình sự theo yêu cầu của người bị hại. Ở phạm vi các trường hợp khởi tố vụ án hình
sự theo yêu cầu của người bị hại được hiểu là các trường hợp mà cơ quan có thẩm
quyền chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp
của người bị hạị khi có căn cứ khởi tố vụ án hình sự về các tội danh trong phạm vi
do pháp luật quy định. Cụ thể là các tội được quy định tại Khoản 1, Điều 105 Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003 sẽ được áp dụng khi có các trường hợp:
Trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác mà tỉ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% mà thuộc một trong số các
trường hợp mà pháp luật quy định như: dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ
đoạn gây nguy hại cho nhiều người; gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; phạm tội nhiều
lần đối với cùng một người hoặc nhiều người; có tổ chức; có tính chất côn đồ hoặc
tái phạm nguy hiểm…
Trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác mà tỉ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh do nạn nhân đã có hành vi trái luật nghiêm trọng đối với người thực hiện hành
vi phạm tội hoặc đối với những người thân thích của họ.
Trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác mà tỉ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng.
Trường hợp vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác mà tỉ lệ thương tật từ 31% trở lên.
Trường hợp vô ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác
mà tỉ lệ thương tật từ 31% trở lên do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc
hành chính.
hình sự theo yêu cầu của người bị hại nữa.
1.1.4.2. Đặc điểm của các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của người bị hại
Cơ quan điều tra chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại đối với các
tội thuộc khoản 1 các điều luật quy định về tội phạm tương ứng. Nghĩa là trong
phạm vi 11 trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 105 của Bộ luật Tố tụng
hình sự thì khi người bị hại có đơn yêu cầu khởi tố khi họ bị xâm hại thì cơ quan
điều tra mới được quyền khởi tố theo yêu cầu của họ. Mặt khác, người bị hại bị xâm
hại nhưng là những tội danh ngoài 11 trường hợp quy định tại Điều 105 Bộ luật Tố
tụng hình sự thì dù họ có yêu cầu hay không cơ quan điều tra vẫn được phép khởi tố
theo nguyên tắc. Ngoài ra, nếu vì lí do nào đó mà người bị hại mặc dù bị xâm hại
trong những trường hợp được pháp luật quy định là họ có quyền yêu cầu khởi tố mà
họ không yêu cầu thì cơ quan điều tra cũng không được quyền khởi tố.
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu
16
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên
Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại
Luận văn tốt nghiệp
Người bị hại bị xâm hại bởi các tội danh trên thì cần phải có yêu cầu khởi tố.
Yêu cầu khởi tố của người bị hại khi họ bị người thực hiện hành vi phạm tội xâm
hại trong 11 trường hợp quy định tại Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự là việc rất
quan trọng. Bởi lẽ đây là điều kiện để cơ quan có thẩm quyền xem xét và ra quyết
17
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên
Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại
1.2.
Luận văn tốt nghiệp
Cơ sở lý luận về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngƣời bị hại
1.2.1. Tầm quan trọng và ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của ngƣời bị hại
1.2.1.1.
Tầm quan trọng của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị
hại
Xây dựng và hoàn thiện chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người
bị hại là một trong những mục tiêu mà pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam luôn
quan tâm và chú trọng. Bởi lẽ, đây là những trường hợp nhằm đảm bảo quyền, lợi
ích hợp pháp, danh dự, nhân phẩm của công dân, thể hiện sự tôn trọng từ phía Nhà
nước đối với nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Hay nói khác hơn là người bị
hại đương nhiên có quyền được Nhà nước bảo vệ trước các nguy cơ xâm hại từ
người phạm tội. Họ có quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.
Và họ cũng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự hoặc
không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với những trường hợp mà hành vi phạm tội
vô tội. Khi người bị hại yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố vụ án hình sự tức
là họ mong muốn kẻ phạm tội phải bị trừng trị bằng pháp luật nên quá trình giải
quyết vụ việc có thể nhanh chóng hơn vì có sự hợp tác từ phía người bị hại tạo
thuận lợi cho việc điều tra làm rõ vụ án.
Đối với trật tự an toàn xã hội: bảo vệ các quyền và tự do của công dân, góp
phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong toàn xã hội. Việc khởi tố
vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại như đã phân tích bên trên là thể hiện sự
tôn trọng của Nhà nước đối với quyết định của người bị hại. Họ có quyền tự do
chọn lựa cách giải quyết sao cho phù hợp với lợi ích của mình. Nếu giữa người
phạm tội và người bị hại có thể thỏa thuận dàn xếp với nhau thì không có tội phạm
hình sự xảy ra. Người thực hiện hành vi phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình
sự nặng nề. Hơn nữa, sự cân nhắc, phối hợp của người bị hại với các cơ quan có
thẩm quyền cũng góp phần kịp thời phát hiện, phòng ngừa đấu tranh ngăn chặn các
loại tội phạm nguy hiểm.
1.2.1.2. Ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
Pháp luật ghi nhận những trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
người bị hại là xuất phát từ lợi ích của người bị hại. Như đã phân tích ở trên đây là
một trường hợp đặc biệt và nó thể hiện ở một số ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, thể hiện được tính dân chủ trong nhân dân, quan tâm đến nguyện
vọng cũng như tạo điều kiện cho người bị hại có sự cân nhắc tính toán xem khi yêu
cầu khởi tố thì có phù hợp với lợi ích của mình không.
Thứ hai, thể hiện một khía cạnh của nguyên tắc công bằng trong luật hình sự
nước ta. Nói cách khác, chính vì khởi tố vụ án hình sự trái với ý muốn của người bị
hại nên có thể gây thêm những mất mát, thiệt hại cho họ, vì vậy mà các nhà làm luật
đã quy định những trường hợp cụ thể cần khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
người bị hại để đảm bảo lợi ích cho người bị hại cũng như phù hợp với lợi ích của
Nhà nước.
Thứ ba, đều là các tội ít nghiêm trọng nên có thể giải quyết bằng con đường
hành chính, dân sự, giảm bớt việc phải giải quyết bằng việc truy cứu trách nhiệm
uy tín của mình vì đó là lợi ích, danh dự của cá nhân họ. Nên việc yêu cầu khởi tố
hay không là quyền của họ trong các trường hợp họ được pháp luật cho phép yêu
cầu khởi tố vụ án hình sự. Nếu vụ việc có thể giải quyết bằng sự thỏa thuận thì pháp
luật cũng không nên quá nguyên tắc mà gây ra những thiệt hại lớn hơn cho người bị
hại.
1.2.2.
Nguyên tắc cơ bản bảo vệ ngƣời bị hại trong các trƣờng hợp khởi
tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngƣời bị hại
1.2.2.1. Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự
Tội phạm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, là hiện tượng tiêu cực mang
tính khách quan trong đời sống xã hội. Do đó, việc truy cứu trách nhiệm hình sự
người phạm tội cũng là một đòi hỏi mang tính khách quan và luôn thường trực đặt
ra đối với các cơ quan tiến hành tố tụng. Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ
án hình sự là một nguyên tắc quan trọng trong chế định các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, đặt ra trách nhiệm bảo đảm tính hiệu quả, chủ
động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện trách nhiệm khởi tố vụ
án hình sự và truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, trong việc thực hiện
phần lớn các nhiệm vụ, mục tiêu của Tố tụng hình sự được xác định tại Điều 1 Bộ
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu
20
SVTH: Huỳnh Thủy Tiên