I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
MA TH THM
KHởI Tố Vụ áN HìNH Sự THEO YÊU CầU CủA NGƯờI Bị HạI
TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
[
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
MA TH THM
KHởI Tố Vụ áN HìNH Sự THEO YÊU CầU CủA NGƯờI Bị HạI
TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. TRN THU HNH
[
1.1.1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự .......................................................... 7
1.1.2. Nhiệm vụ, ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ...................... 9
1.2.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại ................... 13
1.2.1. Khái niệm, ý nghĩa khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người
bị hại ................................................................................................... 13
1.2.2. Cơ sở việc thiết lập chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của người bị hại .................................................................................. 19
1.3.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Luật tố tụng
hình sự Việt Nam về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
người bị hại ....................................................................................... 22
1.4.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại theo
kinh nghiệm của một số nước trên thế giới ................................... 24
Chương 2: KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA
NGƯỜI BỊ HẠI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM VÀ THỰC TIẾN ÁP DỤNG................................................. 33
2.1.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong
Luật tố tụng hình sự Việt Nam ....................................................... 33
2.1.1. Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người
bị hại................................................................................................... 33
3.3.
Một số giải pháp khác ...................................................................... 88
3.3.1. Nâng cao trình độ pháp luật, nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng........ 89
3.3.2. Nâng cao trình độ hiểu biết và thực thi pháp luật của người dân ............ 91
KẾT LUẬN .................................................................................................... 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 96
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS:
Bộ Luật dân sự
BLHS:
Bộ Luật hình sự
BLTTHS:
Bộ Luật tố tụng hình sự
CQTHTT:
Cơ quan tiến hành tố tụng
TANDTC:
Tòa án nhân dân tối cao
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của các chủ thể tố tụng hướng
tới việc giải quyết vụ án khách quan, công bằng, góp phần đấu tranh phòng
chống tội phạm, bảo vệ quyền con người. Tố tụng hình sự là một quá trình giải
quyết vụ án, trong đó có nhiều chủ thể, nhiều giai đoạn khác nhau phù hợp với
tính chất, đặc điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng, là cơ chế mà qua đó tội
phạm được điều tra làm rõ, bị truy tố, xét xử và hình phạt được áp dụng.
Theo quan điểm truyền thống ở nước ta khởi tố vụ án hình sự là giai
đoạn đầu tiên và là một trong những giai đoạn có ý nghĩa quan trọng trong
quá trình tố tụng hình sự. Trong giai đoạn này các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có trách nhiệm xác định sự việc có hay không có dấu hiệu của tội phạm
để quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình
sự nhằm khẳng định về mặt pháp lý có hay không có tội phạm xảy ra để làm
cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình
sự. Có thể nói khởi tố vụ án hình sự không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý là
giai đoạn đầu và có tính định hướng cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo mà
còn có ý nghĩa thiết thực trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Để
đạt được điều đó khởi tố vụ án hình sự đòi hỏi phải có căn cứ, đúng thẩm
quyền và đúng trình tự theo quy định của pháp luật.
Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự là một trong những quy định quan
trọng để việc khởi tố vụ án hình sự đạt hiệu quả. Trong đó, quyền yêu cầu
khởi tố vụ án hình sự của người bị hại là một trong những vấn đề đáng được
quan tâm. Người bị hại tham gia tố tụng với tư cách là chủ thể của tố tụng
hình sự bên cạnh Cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) và người tiến hành tố
tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án để đòi hỏi khôi phục lại những thiệt
hại của họ do hành vi phạm tội gây ra. Người bị hại có thể là người đã bị thiệt
1
Việt Nam, Trường đại học Luật Hà Nội; PGS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên)
Bình luận khoa học bộ luật tố tụng hình sự, nxb CAND, 2004; Viện nhà nước
và Pháp luật, Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb
chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Trường Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa
Luật (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính
trị quốc gia.
Một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học có đề cập đến
vấn đề khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại như: ThS. Lê Thị
Thúy Nga, “Một số vấn đề về người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam 2003”; Lê Tiến Châu, “Mô hình, hình thức tố tụng hình sự và việc
bảo vệ quyền con người”, tạp chí Nhà nước và pháp luật, 2008; Phạm Mạnh
Hùng, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc khởi tố vụ án và kiểm sát
việc khởi tố vụ án”, tạp chí Kiểm sát, 2007; Phạm Thanh Trung (2003),
“Người đại diện hợp pháp hoàn toàn có quyền rút đơn khởi tố, Dân chủ và
pháp luật, (4). Tạp chí kiểm sát: số 03 tháng 2/2008; số 9 tháng 5/2009v.v...
Ở cấp độ luận văn thạc sĩ thực hiện ở Khoa luật – ĐHQGHN có các đề
tài của các tác giả Hoàng Lan Phương, Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, 2009. Thịnh Quang Thắng,
Người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, 2009; Nguyễn Trương Tín,
Một số vấn đề về sự tham gia tranh tụng của người bị hại và nguyên đơn dân
sự tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo yêu cầu của cải cách tư pháp, 2010;
Phạm Văn Huân, Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam, 2013;
Còn ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học có các đề tài của tác giả Lê Lan Chi,
Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự trong Luật tố tụng hình
sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa luật – ĐHQGHN, 2010.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên cho thấy, ở nước ta đã có
3
4
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế định khởi tố
vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại từ 2009 đến năm 2014.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận Mác – Lênin về Nhà
nước và pháp luật, các quan điểm đổi mới của Đảng nhất là trong lĩnh vực cải
cách tư pháp. Các phương pháp luận chung để nghiên cứu đề tài là phép duy
vật biện chứng và phép duy vật lịch sử, chú trọng các phương pháp kết hợp
giữa lý luận và thực tiễn.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: các phương pháp nghiên cứu đặc
thù của khoa học xã hội như phương pháp logic; phương pháp lịch sử, so
sánh; phương pháp phân tích quy nạp, diễn dịch; phương pháp thống kê và
một số phương pháp khác.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện
lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu mà trong đó giải quyết
nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới chế định khởi tố
vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong Luật tố tụng hình sự Việt
Nam. Trên cơ sở kết nghiên cứu, luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề chung
về chế định khởi tố vụ án như: khái niệm, đặc điểm, cơ sở của việc thiết lập
chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại; khái quát lịch sử
hình thành và phát triển của Luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố vụ án
hình sự theo yêu cầu của người bị hại cũng như tìm hiểu việc thực thi chế
định này theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới; Nghiên cứu thực
tiễn quy định và thực tiễn áp dụng chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, từ đó rút ra những tồn
tại, hạn chế trong luật thực định, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn
chế xung quanh việc áp dụng và nguyên nhân của nó; Từ đó đề xuất những
tội, trong đó với tư cách là người bảo vệ lợi ích của toàn xã hội, Nhà nước có
quyền khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án với người phạm tội,
buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất, mức độ
nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra.
Mục tiêu của tố tụng hình sự được xác định tại Điều 1 Bộ luật tố tụng
hình sư (BLTTHS), đó là "... phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công
minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội" [32]. Thể hiện các yêu cầu của nguyên tắc này, BLTTHS hiện
hành đã có những quy định, chế định, những công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo
đảm cho quá trình khởi tố vụ án và truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) được
vận hành với hiệu suất cao. BLTTHS năm 2003 quy định quy trình để giải
quyết một vụ án hình sự phải theo một trình tự, thủ tục nhất định gồm: khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu
tiên của quá trình tố tụng và là giai đoạn tố tụng độc lập bởi giai đoạn này có
đầy đủ các dấu hiệu của một giai đoạn tố tụng với những mục tiêu và nhiệm vụ
riêng mang đặc thù về chủ thể tố tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng. Tuy
nhiên, tính độc lập của giai đoạn khởi tố vụ án cũng như các giai đoạn khác
trong quá trình tố tụng chỉ mang tính tương đối, giữa chúng có mối quan hệ qua
lại, tác động lẫn nhau; giai đoạn trước là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện
nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước.
7
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự có nhiều
cách hiểu khác nhau khác nhau. Thứ nhất, có thể hiểu đó là một chế định của
luật tố tụng hình sự, tập hợp những quy định về trình tự và thủ tục khởi tố vụ
án hình sự; thứ hai, khởi tố vụ án hình sự được hiểu là một hành vi tố tụng mở
đầu cho giai đoạn điều tra; thứ ba khởi tố vụ án hình sự được hiểu là một giai
đoạn tố tụng độc lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Cách hiểu thứ
hình sự, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung (vật chất) và pháp luật về
hình thức (tố tụng) của việc điều tra vụ án hình sự.
Ba là, kết quả quả giai đoạn này là quyết định của cơ quan tiến hành tố
tụng trong việc có hay không khởi tố vụ án hình sự. Nó làm tiền đề cho các
giai đoạn tố tụng tiếp theo.
1.1.2. Nhiệm vụ, ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới đặt ra những nhiệm vụ
mới về kinh tế, chính trị, trong đó có nhiệm vụ về đấu tranh, phòng chống tội
phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và trật tự pháp chế Xã
hội chủ nghĩa mà trong đó các cơ quan tư pháp hình sự giữ vai trò rất quan
trọng. Các cơ quan tư pháp hình sự với tư cách là các cơ quan đứng trên đầu
chiến tuyến của cuộc đấu tranh chống tội phạm đã, đang và sẽ trực tiếp thực
hiện các nhiệm vụ này. Mà một trong những nhiệm vụ của các cơ quan này là
khởi tố vụ án hình sự khi có đủ các căn cứ nhằm phát hiện và xử lý kịp thời
tội phạm và người phạm tội.
Nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự là chủ động phòng ngừa, ngăn
chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời
mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội góp
phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo
pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
9
Nhiệm vụ cụ thể của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay
không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định
không khởi tố vụ án. Thể hiện ở việc ghi nhận những thông tin ban đầu về tội
phạm được phát hiện do tin báo tố giác tội phạm, kiểm tra xác minh nguồn tin
cực trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong các giai đoạn tố tụng hình sự
tiếp theo như điều tra không có căn cứ đối với những hành vi không chứa đựng
dấu hiệu của tội phạm hoặc không diễn ra trong thực tế khách quan, khám xét,
bắt, giam giữ, buộc tội, xét xử một cách vô căn cứ, trái pháp luật. Việc khởi tố
thiếu căn cứ pháp lý là hành vi vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng hình sự và
cũng gây ra những thiệt hại không nhỏ cho công dân trong xã hội. Mặt khác,
khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để
tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trước khi khởi tố
bị can và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của giai đoạn điều tra, cùng với các
giai đoạn tố tụng hình sự khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng
và chống tội phạm trong toàn xã hội.
Bên cạnh quy định về căn cứ khởi tố vụ án hình sự là khi xác định có
dấu hiệu tội phạm, BLTTHS cũng quy định những căn cứ không được khởi tố
vụ án hình sự nhằm tránh sự tùy tiện xâm phạm quyền và lợi ích của người
dân. Việc không khởi tố vụ án hình sự khi có những căn cứ mà pháp luật quy
định cũng sẽ tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân vào sự công bằng của
pháp luật, đồng thời cũng tiết kiệm sức người, sức của cho Nhà nước, bởi các
cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không phải tiến hành tố tụng một cách lãng phí.
Về mặt chính trị - xã hội, khởi tố vụ án hình sự là biện pháp quan trọng
nhằm ngăn chặn và phòng ngừa hành vi phạm tội, thể hiện sự phản ứng nhạy
cảm và kịp thời của các cơ quan có thẩm quyền nhằm xác định sự thật khách
quan của vụ án và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội. Khởi tố
vụ án hình sự không chỉ thực hiện chức năng quan trọng trong hoạt động tư
pháp hình sự mà còn là phương tiện cơ bản để thực hiện nguyên tắc không
11
tránh khỏi trách nhiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự. Việc
khởi tố, điều tra và xét xử kịp thời các vụ án hình sự sẽ tạo ra trong công
BLTTHS năm 2003 thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố
vụ án hình sự. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý của
người có thẩm quyền khởi tố xác định thông tin về tội phạm hoặc một sự việc
nào đó không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Các căn cứ đó bao gồm:
Không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ
án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu TNHS; tội phạm được đại
xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần
tái thẩm đối với người khác. Đây là một biện pháp đảm bảo các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân không bị xâm phạm tùy tiện. Việc không khởi tố
vụ án hình sự khi không có đủ căn cứ theo pháp luật quy định cũng sẽ tạo
niềm tin cho nhân dân vào sự công bằng của pháp luật, đồng thời cũng tiết
kiệm sức người, sức của cho Nhà nước, tránh sự lãng phí không cần thiết.
Cuối cùng, việc khởi tố vụ án hình sự còn góp phần đấu tranh chống tội
phạm ẩn. Tình trạng tội phạm ẩn diễn biến rất phức tạp và có chiều hướng
ngày càng gia tăng. Vì vậy việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự cũng có tác
động tích cực đến việc làm giảm tội phạm ẩn trong xã hội.
1.2. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
1.2.1. Khái niệm, ý nghĩa khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
người bị hại
Người bị hại là một trong những người tham gia tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự . Việc tham gia tố tụng của người bị hại không chỉ nhằm
bảo vệ, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã bị hành vi phạm
tội xâm hại mà con góp phần quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan
của vụ án. Xác định đúng tư cách người bị hại, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
13
nạn...) thiệt hại về tinh thần (bị lăng nhục, bị xúc phạm danh dự nhân
phẩm...). Người bị hại không những bị thiệt hại về những vấn đề trên mà còn
bị thiệt hại về tài sản như bị đánh cắp, bị chiếm đoạt...
Để các CQTHTT có thể xác định đúng người bị hại thì cần phải xác
định thiệt hại mà tội phạm gây ra phải là thiệt hại trực tiếp. Điều đó thể hiện:
Thể chất, tinh thần hoặc tài sản phải là đối tượng của sự xâm hại. Trong các
tội có cấu thành vật chất, nếu đối tượng tác động chưa bị xâm hại thì không có
thiệt hại xảy ra đồng nghĩa với việc chưa có người bị hại. Đồng thời phải xác
định được mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hậu quả của hành vi
phạm tội mới được coi là thiệt hại trực tiếp. Trong trường hợp này sự thiệt hại
gây ra cho người bị hại phải là những thiệt hại cụ thể, phải có tính hiện tại và
xác định. Mọi thiệt hại có tính chất mơ hồ, không cụ thể, chưa xác định, chưa
hoặc sắp xảy ra thì cũng không được coi là thiệt hại trực tiếp. Điều cơ bản khi
xác định thiệt hại của người bị hại là sự thiệt hại do một hoặc nhiều tội phạm
được luật hình sự quy định, xâm hại trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp và
chính đáng của người bị thiệt hại, các quyền đó phải được pháp luật bảo vệ
bằng quy phạm của luật hình sự. Không chấp nhận quan điểm cho rằng thiệt
hại do tội phạm gây ra cũng có thể là thiệt hại gián tiếp, thiệt hại đó cũng có
thể có hoặc không có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội.
Đối với thiệt hại về tinh thần thì thường khó xác định hơn vì thiệt hại
không cụ thể, không định lượng được. Vì vậy, không chỉ trong trường hợp
phạm tội đã hoàn thành mà ngay cả trong trường hợp phạm tội chưa đạt, khi
chưa gây thiệt hại gì do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của
người phạm tội thì người có nguy cơ bị xâm hại cũng được coi là người bị
hại. Người bị hại được coi là bất kỳ người nào mà quyền và lợi ích hợp pháp
của họ là khách thể của tội phạm cho dù tội phạm đó chưa hoàn thành do
những nguyên nhân ngoài ý muốn của họ.
15
16
Để hiểu rõ hơn khái niệm người bị hại, cần phân biệt với một số khái
niệm đồng nghĩa hoặc giáp ranh như: người bị hại với nạn nhân; người bị hại
với đối tượng tác động của tội phạm. Theo chúng tôi, đây là những khái niệm
gần nhau nhưng không đồng nhất với nhau.
Thứ nhất, phân biệt khái niệm người bị hại với nạn nhân, có nhiều quan
điểm cho rằng người bị hại chính là nạn nhân của tội phạm. Theo quan điểm
của chúng tôi điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nội dung khái niệm của người bị
hại có nội hàm hẹp hơn khái niệm nạn nhân của tội phạm. Như đã biết, hành
vi phạm tội luôn gây ra hoặc đe dọa gây ra những những thiệt hại đáng kể cho
xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Để gây ra những thiệt hại cho những quan
hệ này, hành vi phạm tội đã tác động gây thiệt hại cho một số cá nhân, tổ
chức. Trong khi đó:“Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức bị
hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại, gây ra những thiệt hại về thể chất, về tinh
thần, tài sản hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác” [39, tr.8]. Như vậy, nạn
nhân của tội phạm ngoài cá nhân còn có thể là tổ chức, pháp nhân; thiệt hại
của nạn nhân không chỉ về thể chất, tinh thần, về tài sản mà còn có thể bao
hàm những thiệt hại về các quyền và lợi ích hợp pháp khác, thiệt hại đó có thể
bao gồm cả những thiệt hại gián tiếp; hơn nữa nạn nhân chỉ tham gia quan hệ
pháp luật tố tụng hình sự mới được coi là người bị hại [9, tr.7].
Thứ hai, phân biệt khái niệm người bị hại với đối tượng tác động của
tội phạm. Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận khách thể của tội
phạm bị hành vi phạm tội tác động đến, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt
hại. Đối tượng tác động của tội phạm không chỉ là con người mà còn bao gồm
cả các đối tượng vật chất khác. Con người bị tội phạm xâm phạm về thể chất,
tinh thần và các quyền tự do dân chủ, họ chính là một trong số các đối tượng
tác động của tội phạm.
Như vậy có thể khẳng định, khái niệm người bị hại, nạn nhân, đối
người bị hại còn nhằm bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Vụ việc xảy
ra đôi khi là giữa những hàng xóm láng giềng, anh em, họ hàng, những người
18