SKKN Bàn về một số phương pháp giảng dạy thơ trung đại Việt Nam ở Môn Ngữ văn 7 trong nhà trường THCS - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“BÀN VỀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY THƠ TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM Ở MÔN NGỮ VĂN 7 TRONG NHÀ TRƯỜNG
THCS”
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài.
1.Cơ sở lí luận:
Văn thơ trung đại Việt Nam là bộ phận văn học gắn liền với một giai đoạn cực
kì quan trọng trong lịch sử đất nước - giai đoạn nhà nước phong kiến Việt Nam được
xác lập, đi tới chỗ cực thịnh rồi chuyển dần tới chỗ suy vi. Giai đoạn văn học này đã
để lại một di sản vô cùng quý báu, đồ sộ về khối lượng, phong phú, đa dạng về nội
dung, đạt tới nhiều đỉnh cao về nghệthuật. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này,
chúng ta càng thêm gắn bóvới truyền thống cao đẹp của dân tộc. Bởi lẽ “Mỗi tác giả
với thiên tài của mình và giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu
một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt
Nam”(Phạm Văn Đồng). Chúng ta có thể tìm thấy trong di sản này những điều giúp
lại quá khứ vinh quang nhưng không ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể
nhìn lại hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng về tương lai một cách tin tưởng hơn.
Đối với nhà trường THCS, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trongviệc giáo
dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ cho học
sinh, thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ
thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu.
Việc dạy văn học ở nhà trường nói chung và dạy thơ trữ tình trung đại theo
hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là một vấn đề đã và đang được
nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học văn cũng như nhiều giáo viên giảng
dạy văn học quan tâm.
2. Cơ sở thực tiễn:
Chương trình Ngữ văn 7 kì I có một số lượng tương đối lớn các văn bản thuộc thể
loại thơ trữ tình trung đại. Đó là các văn bản nghệ thuật được các nhà thơ Việt Nam sáng
2

- Bước đầu đề xuất một số biện pháp trong dạy học thơ trữ tình trung đại Việt
Nam ở lớp 7 theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh.
4
PHẦN II :NỘI DUNG.
I. Thống kê các văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 7:
Dạy đọc hiểu thơ trữ tình, đặc biệt thơ trữ tình trung đại đòi hỏi một cách tiếp
cận riêng khác với dạy các văn bản tự sự, miêu tả hay nghị luận. Cho nên, trước khi
dạy, người thầy cần nắm được hệ thống các văn bản thơ trữ tình trung đại trong
chương trình Ngữ văn 7 để từ đó có định hướng, cách khai thác riêng cho từng cụm
bài, từng bài. Ta có thể theo dõi các tác phẩm thơ trữ tình trung đại lớp 7 qua bảng hệ
thống sau:
STT Tác phẩm Tác giả Thể loại
1 Sông núi nước Nam Lý Thường Kiệt Thất ngôn tứ
tuyệt
2 Phò giá về kinh Trần Quang Khải Ngũ ngôn tứ
tuyệt
3 Côn Sơn ca Nguyễn Trãi Lục bát
4 Buổi chiều đứng ở phủ
Thiên Trường trông ra
Trần Nhân Tông Thất ngôn tứ
tuyệt
5 Bánh trôi nước Hồ Xuân Hương Tứ tuyệt
6 Sau phút chia li Đặng Trần Côn (Đoàn
Thị Điểm dịch)
Song thất lục bát
7 Qua đèo Ngang Bà Huyện Thanh
Quan
Thất ngôn bát cú
đường luật
8 Bạn đến chơi nhà Nguyễn Khuyến Thất ngôn bát cú

* Cảm thức về thế giới con người thời Trung đại Việt Nam: Con người thấy
mình trong tự nhiên, với suy nghĩ trong vũ trụ có ta và trong ta có cả vũ trụ… Vì thế
khi nói về trời đất, về không gian, thời gian với nhiều cách thể hiện bằng nhiều sắc thái
biểu cảm khác nhau như thời gian chu kỳ tuần hoàn,thời gian tuyến tính, thời gian vĩnh
6
cửu, thời gian không gian được cảm nhận bằng nhiều giác quan khác nhau…Cho nên
con người khi bất đắc chí tìm về thiên nhiên, vũ trụ như tìm về cội nguồn. Khi ngắm
cảnh trời mây, họ cũng như mơ về nguồn cội. Người Trung Quốc ý thức gia tộc, gia
hương rất mạnh mẽ như Lý Bạch nhìn trăng mà nhớ đến quê nhà (Tĩnh dạ tứ), cũng
như trong thơ Đường luật của Việt Nam, Bà Huyện Thanh Quan nhìn cảnh đèo Ngang
mà nhớ về quê cũ; với Bác Hồ trong bài : “Tức cảnh Pác Bó” thì đó là không gian bờ
suối, hang đá …
* Cách biểu hiện: Cái tôi trữ tình hoà lẫn vào trong thiên nhiên ngoại cảnh, nó
tỉnh lượt chủ ngữ, nó tan trong cảm xúc, cái tôi nó đạt tính phổ quát .
* Cách diễn đạt: Gợi mà không tả, hoà quyện giữa thi, nhạc và hoạ.
* Ngôn ngữ: Từ ngữ sử dụng ở thơ Đường là những từ ngữ quen thuộc nhưng
lại có khả năng diễn đạt vô cùng tinh tế, phong phú. Sở dĩ đạt được như thế là vì công
phu tinh luyện của các nhà thơ. Vì thế, học thơ Đường là học tinh thần lao động và
sáng tạo của nhà thơ với vốn từ hữu hạn.
* Đề tài: Đề tài trong thơ Đường không lấy gì làm phong phú nhưng không hề
trùng lặp vì những mối quan hệ từ ngữ. Vì thế phải hướng dẫn học sinh chú ý những từ
ngữ đắc giá( nhãn tự) vì đó là những từ có tính khái quát cao.
* Tứ thơ: Cái quan trọng nhất trong thơ Đường là tứ thơ. Tư duy thơ Đường là
kiểu tư duy quan hệ, học sinh phải cảm nhận mối quan hệ giữa các sự vật trong không
gian, quan hệ giữa con người với vũ trụ và quan hệ giữa con người với con người. Thơ
ca nói chung cũng như thơ Đường nói riêng, nó không nói hết, không nói trực tiếp ý
mình muốn nói mà để cho người đọc cùng suy nghĩ, cùng sáng tạo. Chính đặc điểm
này đã tạo nên cái gọi là “ý tại ngôn ngoại”, “ngôn tận ý bất tận”. Nói gọn lại: chính
đặc điểm này mà thơ Đường cô đọng, súc tích, giàu tính biểu tượng. Nó gợi mà không
tả để tạo nên một môi trường liên tưởng rộng. Vậy, ta giúp học sinh tham gia đồng

Thất ngôn
tứ tuyệt
Thất ngôn
bát cú
Mục đích
Phần 1 Khai Đề Giới thiệu tựa đề
Phần 2 Thừa Thực Giải thích, triển khai tự đề
Phần 3 Chuyển Luận Bàn luận ý nghĩa của bài
Phần 4 Hợp Kết
Tóm tắt ý nghĩa, bày tỏ thái độ, tình
cảm
III. Thực trạng việc giảng- dạy các tác phẩm văn học trung đại ViệtNam trong
nhà trường THCS hiện nay.
1.Về việc dạy của giáo viên :
Chúng ta đều biết rằng văn học Trung đại là bộ phận văn học đồng hành với sự
phát triển của xã hội phong kiến. Trong các tác phẩm đều viết bằng ngôn ngữ Hán văn
cổ hay chữ Nôm có phần xa lạ với ngôn ngữ Tiếng Việt hiện đại ngày nay. Vì vậy tìm
hiểu, phân tích một tác phẩm văn học Trung đại là việc làm không đơn giản. Trong
những năm vừa qua đội ngũ giáo viên dạy văn nói riêng đã được trang bị nhiều
phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã thực sự mang lại hiệu quả tốt. Mặc dù vậy
vẫn còn những hạn chế trong cách vận dụng phương pháp từ đội ngũ. Bản thân những
người dạy văn về cơ bản đã tận tâm tận lực với nghề, tích cực nghiên cứu tìm hiểu các
kiến thức. Tuy nhiên với sự đa dạng và phức tạp của văn học Trung đại thì hiệu quả
dạy phần văn học này vẫn không tránh khỏi những hạn chế. Các điển tích, điển cố của
văn học trung đại là phức tạp và đa nghĩa. Vì vậy đòi hỏi phải có một tư duy hết sức
9
khoa học, hết sức sáng tạo đối với đội ngũ giáo viên khi thực hiện phần văn học quan
trọng này.
2.Việc học của học sinh:
Thể loại, thi pháp văn học cổ có nhiều xa lạ với thi pháp văn học đương đại nên

đây chính là tiền đề quan trọng để HS cảm thụ được tác phẩm ngay trên lớp.
Bước 2: Giáo viên cần chú ý khâu vào bài để tạo không khí phù hợp với
bài học. Có thể là một bài hát, một bản nhạc, một bức tranh mang nội dung tư
tưởng tương đồng với tác phẩm chuẩn bị học.
Bước 3: Với phần đọc văn bản:
- Đọc thơ: Đọc thơ là để tạo tâm thế ban đầu cần thiết cho học sinh cũng chính là
bước đầu tiếp cận hình tượng thơ. Cần đọc cả bản phiên âm, dịch nghĩa (nếu có), dịch
thơ
- Đọc diễn cảm là tạo điều kiện cho cảm xúc của học sinh được khởi động theo
âm- vang của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ thơ, và ngôn ngữ nhân vật trữ tình, cái mà
đọc bằng mắt nhiều khi không đạt được. Đọc chính là tạo lên rung động thơ, tạo lên sự
đồng điệu về tâm hồn để rồi tiến tới sự đồng tình và đồng ý với tác giả
Bước 4: Với phần phân tích:
* Cho học sinh tìm hiểu kĩ về tác giả, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm:
Dạy thơ trung đại, cần lưu ý xác lập một cái nhìn biện chứng và lịchsử. Các tác
phẩm văn học trung đại được sáng tạo và truyền bá trong những hoàn cảnh lịch sử nhất
định. Tựu chung những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa của cuộc sống văn hoá,
tinh thần của dân tộc đã in đậm dấu ấn trên những tác phẩm này. Nếu không đặt tác
phẩm trong mối liên hệ với hoàn cảnh lịch sử, bản thân tác giả nhiều khi chúng ta
không thể hiểu, lí giải chính xác và thấu đáo những vấn đề trong tác phẩm.
11
* Chú ý đến đặc trưng thể loại:
Cho học sinh tìm hiểu về thể loại và đặc trưng của từng thể loại. Mỗi thể loại
văn học trung đại nói chung, Thơ trung đại nói riêng có dạng thức tồn tại và phương
thức biểu đạt nhất định. Phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại là đi vào thi pháp-
đi lại con đường của người sáng tác để có thể thâm nhập và hiểu tác phẩm được dễ
dàng. Cho học sinh nắm được thi pháp của thơ trung đại. Thơ Đường luật gồm có các
thể thơ: Tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú Dạy thơ Đường luật thất ngôn bát cú ( thể thơ
được học nhiều ở THCS)cần chú ý các đặc điểm về vần, niêm luật, đối và kết cấu,
ngôn ngữ.

* Khai thác đặc trưng về ngôn từ, hình ảnh trong tác phẩm trung đại.
- Về ngôn ngữ thơ đã là thơ thì ngôn ngữ phải cô đọng, hàm súc, giàuhình
tượng, cảm xúc Ngôn ngữ thơ Trung đại ảnh hưởng ngôn ngữ của Đường thi càng
như thế. Đặc biệt các bài thơ tuyệt cú, bát cú dùng rất ít chữ. Cho nên người làm thơ
Đường coi trọng từng chữ một. Ngôn ngữ thơ Đường bao giờ cũng súc tích, công phu,
điêu luyện. Thơ Đường nói riêng và thơ nói chung thường có “nhãn tự” hoặc “thi
nhãn” (những chữ mà thơ dùng hay nhất, khéo nhất, thể hiện rõ nhất cái “thần”
của câu thơ). Một bài thơ có thể có một, hai “nhãn tự” cũng có thể không có “nhãn
tự” .
VD: ở bài “Nam quốc sơn hà”, chữ “Nam quốc”, “Nam đế”; trong “Truyện
Kiều”những chữ như “tót” trong câu “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, “lẻn” trong “ Đẩy
song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”, hay “ngây” trong câu “Lạ cho mặt sắt cũngngây vì
tình” đều có thể coi là “nhãn tự”; Với bài thơ “ Qua đèo Ngang ” cụm từ “Ta với ta”
là nhãn tự . tác giả sử dụng nghệ thuật điệp đại từ “ta” sáng tạo để cho thấy nữ thi sỹ
Bà Huyện thanh quan đang đối diện với chính nỗi buồn, cô đơn, nỗi nhớ của mình đã
cực tả nỗi cô đơn đến mức tuyệt đối.
13
- Khi khai thác bài, giáo viên cần chú ý đến hệ thống từ ngữ được sử dụng, đó là các
tính từ, các từ láy gợi hình gợi cảm, các động từ, các hình ảnh thơ để thể hiện sâu
sắc, rõ nét bức tranh cảnh và bức tranh tâm trạng của nhân vật trữ tình.
VD: Trong bài “Qua Đèo Ngang, đó là hệ thống các từ láy mang giá trị gợi hình gợi
cảm: “lom khom”, gợi lên hình ảnh những tiều phu bóng dáng nhỏ bé, nhạt nhòa như
muốn chìm lắng vào trong không gian núi rừng hiu hắt, vắng lặng; “lác đác” gợi lên
sự thưa thớt, vắng vẻ của những ngôi nhà chợ ven sông Tất cả đều nhằm làm nổi bật
lên bức tranh thiên nhiên đèo Ngang heo hút lúc chiều tà, ẩn trong đó là tâm trạng
buồn bã cô đơn của người “lữ khách”
* Một trong những biểu hiện tích cực của đổi mới phương pháp dạy học
trong giờ Đọc – hiểu thơ trữ tình là giảng bình.
Những lời bình giảng, phân tích của giáo viên trong giờ đọc – hiểu văn bản là rất
cần thiết, quan trọng góp phần làm nên dư vị ngọt ngào, khơi gợi cảm xúc của học sinh

3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy, cầnsử dụng
phần mềm Power Point vào việc soạn giáo án điện tử. Có thể khaithác mạng Internet
để có ảnh các tác giả, tranh minh họa, nhân vật hoặc chitiết, cảnh tượng… trong tác
phẩm. Có thể dùng phần mềm sơ đồ tư duy Mind-map để chia bố cục hoặc tổng kết,
khái quát nội dung bài học.
4. Cần chú ý tính tích hợp trong môn Ngữ Văn.
Tích hợp là sự kết hợp biện chứng giữa các yếu tố bộ môn Ngữ văn, baogồm
phần Văn – Tiếng việt – Tập làm văn. Thực tế chứng minh rằng, bộ mônngữ văn rất
cần quá trình tích hợp. Vì vậy, trong mỗi giờ ngữ văn, giáo viêncần nhấn mạnh yêu
cầu này để hiệu quả bộ môn ngữ văn ngày càng được nângcao. Đặc biệt, việc tích hợp
15
sẽ góp phần rèn luyện các kỹ năng cơ bản là:nghe, nói, đọc, viết cho học sinh theo mục
tiêu của môn học.
- Tích hợp ngang giữa các phân môn- văn, tiếng Việt , tập làm văn.
- Tích hợp dọc nội dung học tập đồng tâm giữa các khối lớp.
- Tích hợp giữa môn Ngữ văn với các môn học khác như: Lịch sử, Địalý
16
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Như trong phần lí do chọn đề tài đã từng nói: Cảm nhận thơ Đường, thơ Đường
luật là một vấn đề khó; nhưng tổ chức, hướng dẫn để học sinh cảm nhận được nó lại là
một vấn đề còn khó hơn. Nó đòi hỏi người giáo viên đứng lớp phải công phu và thực
nghiệm. Là những giáo viên trực tiếp giảng dạy bản thân chúng tôi đã tìm tòi, học hỏi
và nghiên cứu tài liệu để từ đó đúc kết thành kinh nghiệm về phương pháp tiếp cận và
cảm thụ các tác phẩm thơ Trung đại Việt nam. Dù sao đi nữa, đây cũng chỉ là một kinh
nghiệm của một nhóm nên không thể nào tránh khỏi những sai sót nhất định. Kính
mong các thầy cô giáo và đồng nghiệp góp ý kiến chân thành để kinh nghiệm này hoàn
thiện hơn!
II. Kiến nghị:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status