TIỂU LUẬN:
Bàn về một số phương pháp tính
giá thành trong các doanh nghiệp
sản xuất hiện nay
Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trường mục tiêu của các doanh nghiệp là đáp ứng tốt nhu
cầu của thị trường và đạt được lợi nhuận tối đa. Khi quyết định bất kỳ một phương
án một loại sản phẩm nào trước tiên doanh nghiệp phải tính đến lượng chi phí sẽ bỏ
ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó. ở các doanh nghiệp sản xuất, khi nói đến chi
phí, không thể không nói đến gía thành sản phẩm vì giá thành sản phẩm là các chi phí
sản xuất tính cho một khối lượng hoặc đơn vị sản xuất do doanh nghiệp hoàn thành.
Nó còn là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh trình độ sản xuất tốt hay chưa,
sử dụng cho phí tiết kiệm hay kinh phí. Do đó các doanh nghiệp hết sức quan tâm
đến việc giảm chi phí, hạ gia thành một cách hợp lý vì điều đó tạo điều kiện cho
doanh nghiệp giảm giá bán, thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm và tăng lợi nhuận .
không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá
vỡ các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và
không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tai sản xuất mở rộng.
Như vậy giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản
hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác,
sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
1.1.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành
cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc
độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Về lý luận cũng như trên thực tế, ngoài các
khái niệm giá thành xã hội và giá thành cá biệt, còn có khái niệm giá thành công
xưởng, giá thành toàn bộ * Phân theo thời điểm tính và nguồn số liệu tính giá thành sản phẩm
- Giá thành kế hoạch: được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ
sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kinh doanh.
- Giá thành định mức: là chỉ tiêu được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản
phẩm. Giá thành sản xuất được xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành
tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng) nên giá
thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt
được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
- Giá thành thực tế: là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản
xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất
sản phẩm.
* Phân theo phạm vi phát sinh chi phí.
- Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh
tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm
vi phân xưởng sản xuất. Giá thành sản xuất còn là căn cứ để xác định giá vốn hàng
bán và lãi gộp ở các doanh nghiệp sản xuất.
và đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện đầy đủ trách nhiệm với nhà nước.
Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp phải luôn tìm
mọi cách nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã phù hợp với thị hiếu người
tiêu dùng, đồng thời với việc hạ giá thành sản phẩm. Đây cũng là trách nhiệm chính
của kế toán giá thành. Bằng việc cung cấp các thông tin liên quan đến giá thành định
mức, giá thành sản phẩm thực tế, kế toán giá thành có thể hỗ trợ công tác hạ giá
thành sản phẩm. Đơn giá tiêu chuẩn, ngân sách linh hoạt và kết hợp kế toán phần
hành khách chính là công cụ của kế toán giá thành.
Bên cạnh chức năng hỗ trợ hạ giá thành sản phẩm, kế toán giá thành còn có
chức năng lập giá, có nghĩa là căn cứ vào giá thành để xác định giá bán, tỉ lệ chiết
khấu bán hàng Một trong những căn cứ để doanh nghiệp tính toán tỷ lệ chiết khấu
phù hợp với khách hàng là giá thành sản phẩm trong mối quan hệ với giá bán. Như
vậy, kế toán giá thành cũng góp một phần quan trọng trong việc ra quyết định của
nhà quản trị. Qua việc tìm hiểu những vai trò của kế toán giá thành đối với mỗi doanh
nghiệp sản xuất, ta khẳng định kế toán giá thành là một khâu trọng tâm của kế toán.
Đây là cơ sở để doanh nghiệp lập một báo cáo trung thực, hợp lý cũng như cung cấp
thông tin kịp thời chính xác cho nhà quản trị. Nhưng một hệ thống kế toán không bản
thân nó mang lại kết quả đó mà luôn cần có sự vận dụng hợp lý từ phía doanh nghiệp.
2. Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh
nghiệp hiện nay.
2.1. Yêu cầu và nguyên tắc quản lý.
Để thực hiện tốt chức năng kiểm tra và cung cấp thông tin, tính giá trong
doanh nghiệp nói chung cũng như kế toán giá thành nói riêng phải tuân thủ yêu cầu
chính xác và yêu cầu nhất quán. Yêu cầu chính xác đòi hỏi việc tính giá phải bảo
đảm tính trung thực, phù hợp với giá cả đương thời và phù hợp với số lượng, chất
lượng sản phẩm. Nếu việc tính giá không chính xác, thông tin do tính giá cung cấp sẽ
mất tính xác thực, không đáng tin cậy, ảnh hưởng đến việc đề ra quyết định kinh
phẩm của doanh nghiệp để xác định đối tượng và phương pháp tính giá thành thích
hợp.
* Vận dụng phương pháp tính giá thành hợp lý để tính tổng giá thành và giá
thành đơn vị của các đoói tượng tính giá thành theo đúng các khoản mục quy định và
đúng kỳ tính giá thành xác định.
* Cung cấp kịp thời những số liệu, thông tin tổng hợp về các khoản mục chi
phí và giá thành thực tế cho nhà quản trị doanh nghiệp.
* Định kỳ lập báo cáo về giá thành sản phẩm và tham gia phân tích tình hình
thực hiện kế hoạch, đề xuất biện pháp để tiết kiệm chi phí và hạ thấp giá thành sản
phẩm.
II/ Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
1. Chi phí sản xuất.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản
xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ một phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với
sự vận động và tiêuhao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trĩnh. Nói cách khác quá trình
sản xuất hàng hoá là quá trình kết hợp của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao
động và sức lao động. Đồng thời quá trình sản xuất hàng hoá cũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hoá,
người sản xuất phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động, đối tượng lao
động. Ba yếu tố này cấu thành nên giá thành sản phẩm mới sáng tạo ra. Vì thế sự
hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là yếu tố khách
quan, không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người sản xuất.
Như vậy, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ hao phí, của lao động vật hoá và hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp
bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định. ở doanh nghiệp
sản xuất, giữa chi phí và chi tiêu là hai phạm vi khác nhau. Chi tiêu trong kỳ của
doanh nghiệp bao gồm chi tiêucho quá trìnhma hàng, quá trình sản xuất, hoạt động
văn hoá xã hội của doanh nghiệp.
khoản chi phí thực tế chưa phát sinh trong kỳ được tính trước vào giá thành hoặc
cộng thêm chi phí đã chi ra kỳ trước chưa phân bổ, kết chuyển sang. Phần thứ hai:
Các phương pháp tính giá thành sản phẩm
sản xuất.
I/ Các quy định về tính giá thành sản phẩm sản xuất.
1. Đối tượng tính giá thành sản phẩm.
Xác định đối tượng trong giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán sản
phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng
tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây
chuyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
Việc xác định đúng đối tượng tính giá thành là yêu cầu quyết định trong việc tính
trung thực và hợp lý của giá thành sản phẩm. Để tính đúng và đủ giá thành sản phẩm,
kế toán phải dựa và đặc điểm tổ chức, đặc điểm quy trình công nghệ kỹthuật sản xuất
sản phẩm, đặc điểm tổ chức của sản phẩm, yêu cầu, trình độ quản lý và hạch toán của
doanh nghiệp để xác định đối tượng tính giá thành hợp lý.
Như vậy xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm là yếu tốt quyết định
trong việc tính đúng và trung thực giá thành sản phẩm. Đối tượng giá thành sản phẩm
là căn cứ để tính giá thành, các thẻ tính giá thành sản phẩm, lựa chọn phương pháp
tính giá thành quản lý và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và tính toán
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Kỳ tính giá thành sản phẩm.
Kỳ tính giá thành sản phẩm là thời kỳ mà bộ phận kế toán giá thành cần tiến
hành công việc tính giá thanhf cho các đối tượng tính giá thành. Cũng như xác định
đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thanh sản phẩm tuỳ theo đặc điểm tổ chức sản
xuất sản phẩm với chu kỳ sản phẩm mà xác định.
Trong trường hợp mô hình tổ chức sản xuất hàng loạt, chu kỳ ngắn, liên tục
thì kỳ tính giá thành sản phẩm vào thời điểm cuối tháng. Tại thời điểm này, kế toán
Z = D
đầu kỳ
+ C - D
cuối kỳ
z = Z/Q Trong đó D
đầu kỳ
, D
cuối kỳ
là chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ.
2. Phương pháp tính gia thành theo hệ số.
Phương pháp này được áp dụng trong những doanh nghiệp mà cùng một quy
trình công nghệ sản xuất sản phẩm cùng sử dụng một loại nguyên vật liệu, cùng một
lượng lao động nhưng kết quả thu được nhiều loại sản phẩm khác nhau. Đối tượng
tập hợp chi phí sản xuất là cho toàn bộ quy trình công nghệ, đối tượng tính giá thành
là từng sản phẩm trong quy trình công nghệ.
Theo phương pháp này kế toán căn cứ vào hệ số tính giá thành của từng loại
sản phẩm tương ứng để quy đổi số sản phẩm khác nhau về sản phẩm gốc (sản phẩm
tiêu chuẩn) để từ đó ta tính ra được tổng giá thành, giá thành đơn vị thực tế của từng
loại sản phẩm.
Gọi: Qi là số lượng sản phẩm của loại i.
Hi là hệ số tính giá thành của loại sản phẩm i
Khi đó ta có: Số lượng sản phẩm gốc (Sản phẩm tiêu chuẩn) Q
i
H
i
ị
sản phẩm gốc
=
Số lượng sản
phẩm gốc của
từng loại
Giá thành đơn vị thực tế
=
Tổng giá thành thực tế của từng loại sản
phẩm
của từng loại s/p
Số lượng sản phẩm thực tế của từng loại
3. Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ:
Phương pháp này áp dụng ở loại hình sản xuất mà trong cùng một quy trình
công nghệ kết quả sản xuất thu được nhiều loại sản phẩm có quy cách phẩm chất
khác nhau, để giảm bớt khối lượng hạch toán kế toán thường tiến hành tập hợp chi
phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại.
Căn cứ vào tỷ lệ chi phí giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế
hoạch của định mức, kế toán sẽ tính ra tổng giá thành đơn vị thực tế của từng loại sản
phẩm.
Tổng giá thành đơn vị
thực tế của từng loại sản
phẩm
=
T
hoặc tổng giá thành định
kỳ
=
Số lượng s/p thực
tế của từng loại
s/p
=
Giá thành đơn vị hoặc
định mức của từng loại s/pGiá thành đơn vị thực tế
=
Tổng giá thành thực tế của từng
loại
của từng loại s/p
Sản lượng thực tế của từng loại
4. Phương pháp tổng cộng chi phí. áp dụng với các doanh nghiệp mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện
ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ, đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất là các bộ phận chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất.
Giá thành sản phẩm được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ phận,
chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận sản xuất tạo
nên thành phẩm.
Giá thành sản phẩm = Z1 + Z2 + Z3 + + Zn
Giá thành
Giá trị sản
phẩm chính
dở dang đầu
kỳ
+
Tổng chi
phí sản
xuất phát
sinh trong
kỳ
+
Giá trị sản
phẩm phụ thu
hồi ước tính
-
Giá trị sản
phẩm dở
dang cuối kỳ
Trong đó giá trị sản phẩm phụ thu hồi ước tính được xác định dựa trên giá trị
sản phẩm phụ có thể sử dụng được, giá trị có thể bán được và chi phí định mức
6. Phương pháp sản xuất liên hợp.
Phương pháp này được áp dụng ở doanh nghiệp có tính chất sản xuất của đặc
điểm qui trình công nghiệp phức tạp đòi hỏi việc tính giá thành sản phẩm phải có sự
kết hợp của nhiều phương pháp như doanh nghiệp ngành hoá chất, đóng giầy Để
tính giá thành ở doanh nghiệp loại này, kế toán phải kết hợp nhiều phương pháp như
phương pháp giản đơn, phương pháp tổng cộng, phương pháp giản đơn và phương
pháp hệ số, phương pháp giản đơn và phương pháp tỉ lệ
hạch toán chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng cụ thể. Đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm của từng đơn đặt hàng. Phương pháp tính giá thành tuỳ theo tính
chất số lượng sản phẩm của từng đơn sẽ áp dụng phương pháp thích hợpnhư phương
pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tổng cộng chi phí hay phương pháp
liên hợp.
Đặc điểm của việc hạch toán chi phí trong các doanh nghiệp này là toàn bộ chi
phí sản xuất phát sinh đềuđược tập hợp theo từng đơn đặt hàng, không kể số lượng
sản phẩm của đơn đặt hàng đónhiều hay ít, quy trình công nghệ giản đơn hay phức
tạp. Đối với các chi phí trực tiếp phát sinhtrong kỳ liên quan trực tiếp đến đơn đặt
hàng nào thì hạch toán trực tiếp cho đơn đặt hàng đó theo các chứng từ gốc (hay bảng
phân bổ chi phí). Đối với chi phí sản xuất chung, sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ
cho từng đơn theo tiêu chuẩn phù hợp (giờ công sản xuất, nhân công trực tiếp ).
Việc tính giá thành ở trong các doanh nghiệp này chỉ tiến hành khi đơn đặt hàng hoàn
thành nên kỳ tính giá thành thường không nhất trí với kỳ báo cáo.Đối với những đơn
đặt hàng đến kỳ báo cáo chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí đã tập hợp theo đơn đặt
hàng đến kỳ báo phẩm dở dang, cuối kỳ chuyển kỳ sau. Đối với những đơn đặt hàng
đã hoàn thành thì tổng chi phí đã tập hợp được theo đơn đó chính là tổng giá thành
sản phẩm của đơn và giá thành đơn vị sẽ tính bằng cách lấy tổng giá thành sản phẩm
của đơn chia cho số lượng sản phẩm trong đơn.
Thẻ tính giá thành đơn đặt hàng
Ngày tháng năm
Đơn đặt hàng số:
sản phẩm:
Đơn vị: Đồng
Khoản mục chi phí
Chỉ tiêu
Chi phí
NVL trực
tương đối hợp lý trong một chế độ quản lý định mức có nề nếp và trình độ tổ chức
cao. Theo phương pháp này, đầu tháng, kế toán phải căn cứ vào định mức hiện hành
để tính giá thành định mức sản phẩm.
Giá thành định
mức của sản
phẩm A
=
chi phí
NVL định
mức
+
Chi phí nhân
công dự toán
+
Chi phí sản xuất
chung định mức
Sau đó, dựa vào số liệu tập hợp chi phí sản xuất thực tế và số lượng sản phẩm
dở dang, tính số chênhlệch giá thành thực tế và giá thành định mức. Phương pháp
tính giá thành định mức có thể theo sản phẩm hoàn thành, theo chi tiết, bộ phận sản
xuất rồi tập hợp lại tuỳ theo tính chất của qui trình công nghệ, đặc điểm sản phẩm.
Nếu có sự thay đổi định mức, kế toán tính số chênh lệch do thay đổi định mức. Sang
đầu tháng sau kế toán tính lại giá thành định mức. Giá thành thực
tế của sản phẩm
=
Chi phí NVL trực tiếpChi phí NC trực tiếp
Chi phí s
ản xuất
chung
Tổng cộng
Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là doanh nghiệp có thể thực hiện sự
kiểm tra thường xuyên, cung cấp thông tin thường xuyên cho các cấp quản trị nắm
tình hình, kết quả thực hiện các định mức cũng như tình hình sử dụng tài sản trong
doanh nghiệp. Thật vậy, việc thay đổi định mức là sự tăng giảm các định mức chi phí
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm do áp dụng các định mức mới kinh tế và tiết kiệm
hơn các định mức đã lỗi thời. Việc thay đổi này được tiến hành vào đầutháng nên tiện
lợi cho việc theo dõi, chứng thực công nghệ mới và cung cấp thông tin ngay người
quản lý. Do đó rất thuận lợi trong công tác quản lý và cung cấp thông tin. Dựa vào
thông tin báo cáo, ban lãnh đạo có thể tìm ra các nguyên nhân gây chênh lệch và đề
ra biện pháp hạ giá thành, kịp thời động viên mọi tiềm lực hiện có. Đây là loại hình
hạch toán chi phí tiên tiến thể hiện qua việc áp dụng các định mức chi phí ban đầu
vào làm cơ sở tính toán và kiểm soát chi phí sản xuất. Ngoài ra, phương pháp này cũng có nhược điểm. Công việc hạch toán trong
phương pháp này rất nhiều và hoạt động giám sát đòi hỏi rất chặt chẽ. Các bút toán
hạch toán riêng các thay đổi, các chênh lệch là rất phức tạp, đòi hỏi trình độ tổ chức
và nghiệp vụ kế toán phải vững vàng, đặc biệt là công tác hạch toán ban đầu phải tiến
hành có nề nếp, chặt chẽ.
IV/ Doanh nghiệp có sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục.
Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tụclà doanh nghiệp có
=
Giá thành bán
thành phẩm bước 1
Giá thành bán
thành phẩm bước
1
+
Chi phí ch
ế
biến bước
2
-
Giá trị sản
phẩm dở dang
bước 2
=
Giá thành bán
thành phẩm bước 2Giá thành bán
thành phẩm B.(n-
1)
+
Chi phí nhân công tr
ực
tiếp
Chi phí sản xuất chung
Tổng cộng Thẻ tính giá thành thành phẩm
Sản phẩm :
Ngày tháng năm
Khoản mục chi phí bư
ớc
(n-1) chuy
ển
sang
Chi phí phát
sinh ở bước
n
Giá trị sản
phẩm dở
dang bước n
Tổng giá
thành sản
phẩm
Giá thành
đơn vị
nguyên vật liệu
Nhân công trThẻ tính giá thành sản phẩm
Sản phẩm:
Ngày tháng năm
Đơn vị: đồng
Chi phí ss giai
đoạn 1 tính cho
thành ph
ẩm
Chi phí ss giai
đoạn 2 tính cho
thành ph
ẩm
Chi phí sản xuất
giai đo
ạn n tính cho
thành ph
ẩm
Tổng
giá
thành
thành
Khác với pháp trên, công tác hạch toán ở những doanh nghiệp này đỡ phức
tạp hợn và sự thông tin liên lạc cùng nhanh hơn và việc tính giá thành thành phẩm
được nhanh chóng. Thậy vậy, do các khâu trung gian được giảm bớt, các hoạt động
ở các phân xưởng là song song nên việc cung cấp thông tin cũng song song và sai
sót ít có tính chất dây chuyền như trên. Công tác hạch toán bớt trùng lắp và yêu cầu
kiểm tra, kểm soát cũng không khắt khe như phương pháp trên.
V. Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất kinh doanh phụ.
Bên cạnh những công việc sản xuất chính nhiều doanh nghiệp còn tổ chức sản
xuất kinh doanh phụ để trước hết hỗ trợ cho công việc sản xuất chính và tạo thêm
một nguồn thu nhập như điện, nước, bao bì vậy sản xuất phụ là ngành được tổ chức
để phục vụ cho sản xuất kinh doanh chính, phần còn lại có thể cung cấp cho bên
ngoài. Cũng như tính giá thành cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính, tuỳ theo
đặc điểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất phụ trong doanh
nghiệp mà xác định phương pháp tính giá.
1- Trường hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất
kinh doanh phụ hoặc giá trị và khối lượng phục vụ không đáng kể. Chi phí sản xuất sẽ được tập riêng theo từng bộ phận, từng hoạt động. Giá
thành sản phẩm lao phụ của từng bộ phận sẽ tính theo phương pháp trực tiếp.
* Nếu doanh nghiệp không có sản phẩm dở dang:
Tổng giá thành = Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
* Nếu doanh nghiệp có sản phẩm dở dang:
2- Trường hợp có sự phục vụ đáng kể giữa các bộ phận sản phẩm kinh
doanh phụ:
Với các doanh nghiệp có tổ chức nhiều bộ phận kinh doanh phụ, tuỳ theo đặc
điểm công nghệ sản xuất và nhu cầu cung cấp thông tin, yêu cầu quản lý mà doanh
nghiệp có thể áp dụng phương pháp tính giá thành theo phương pháp đại số, phương
pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu, phương pháp phân bổ lẫn nhau theo
Giá trị
sản
ph
ẩm
đ
ầu
+
Chi phí sản
xuất phát
sinh trong k
ỳ
Giá trị
sản phẩm
cu
ối kỳ
+
Khối lư
ợng sản phẩm lao vụ hoàn thành
trong k
ỳ
Theo phương pháp này, trước hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ
phận sản xuất kinh doanh phụ và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng. Tiếp
Giá trị lao vụ
nhận của bộ phận
s
ản xuất phụ khác
Giá trị lao vụ
phục vụ cho bộ
ph
ận sản xuất phụ
+
-
Sản lư
ợng phục vụ bộ phận sản xuất
phụ khác và sản lượng tiêu dùng
n
ội bộ (nếu có)