Quản lý dự trữ ngoại hối ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp - Pdf 26

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong trường Học
viện Ngân hàng, những người đã nhiệt tình dạy dỗ, trao cho chúng em những kiến
thức quý báu, giúp chúng em vững tâm bước vào đời.
Em cũng xin được cảm ơn các anh, các chị cán bộ tại Sở Giao Dịch NHNN.
Các anh, các chị đã hết sức tận tình giúp đỡ trong việc cung cấp tài liệu cũng như
giải đáp những thắc mắc có liên quan đến vấn đề em đang nghiên cứu.
Dù đã cố gắng tìm tòi và nghiên cứu lý thuyết cũng như thực tiễn phục vụ
cho chuyên đề, song với trình độ còn hạn chế và bản thân đề tài tương đối phức tạp
và mới mẻ, vì vậy mà chuyên đề khó có thể tránh khỏi khiếm khuyết Em rất mong
nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo để giúp em hiểu sâu sắc hơn nữa về
chuyên đề mà mình nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn!
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Đầu tư trực ếp nước ngoài vào Trung Quốc 2005-2011 18
Bảng 1.2: Thặng dư thương mại của Trung Quốc 2005-2011 19
Bảng 1.3: Dự trữ ngoại hối/ Nợ ngắn hạn nước ngoài của Thái Lan 22
giai đoạn 1995-1998 22
Biểu đồ 2.1: Quy mô DTNHNN từ năm 1995-2012 33
Bảng 2.1: Quy mô DTNHNN từ năm 2007-6/2012 qua các êu chí 34
Bảng 2.2: Cơ cấu ngoại tệ DTNHNN từ 2007-6/2012 39
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu ngoại tệ DTNHNN tại 6/2012 39
Bảng 2.3: Cơ cấu DTNHNN theo hình thức đầu tư từ 2007-6/2012 41
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu về hình thức đầu tư DTNH 41
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu về thời hạn đầu tư của Quỹ dự trữ 43
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

1.2.1. Khái niệm 6
1.2.2. Nguyên tắc quản lý 7
1.2.3. Cơ quan thực hiện quản lý 7
1.2.4. Các loại hình nghiệp vụ áp dụng trong quản lý 8
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ TRỮ NGOẠI HỐI 11
1.3.1 Cán cân thanh toán quốc tế 11
1.3.2. Các chính sách ền tệ, tỷ giá và các biện pháp quản lý dự trữ ngoại hối của Nhà nước 14
1.3.3. Biến động tỷ giá 15
1.3.4. Tình hình kinh tế thế giới 15
1.3.5. Những nhân tố khác 17
1.4. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI NHÀ NƯỚC 17
1.4.1. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc 17
1.4.2. Kinh nghiệm về dự trữ ngoại hối Thái Lan trong khủng hoảng châu Á 1997 20
1.4.3. Bài học rút ra từ kinh nghiệm quản lý của các nước 22
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGOẠI HÓI Ở VIỆT NAM 24
2.1. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 24
2.1.1. Hệ thống các văn bản về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước 24
2.1.2. Cơ cấu tổ chức 27
2.1.3. Quy trình hoạt động 28
2.1.7. Quản lý quy mô Dự trữ ngoại hối Nhà nước 33
2.1.8. Quản lý cơ cấu Dự trữ ngoại hối Nhà nước 36
2.2. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT
NAM 43
2.2.1. Những kết quả đạt được 43
2.2.2. Những hạn chế trong công tác quản lý DTNH 45
2.2.3. Nguyên nhân của các hạn chế trong công tác quản lý DTNH 45
CHƯƠNG 3 50
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của dự trữ ngoại hối
đối với nền kinh tế đất nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với vai trò là Ngân
hàng Trung Ương – cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước đã hết sức quan tâm
chú trọng tới việc duy trì và gia tang dự trữ ngoại hối cho đất nước. Tuy nhiên,
trước những ảnh hưởng sâu rộng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ kể từ năm
2008 ở Mỹ và năm 2009 tại một số nước ở Châu Âu cho tới nay, những biến động
bất thường về lãi suất, tỷ giá của các loại ngoại tệ, vàng,…trên thế giới, bên cạnh đó
là những hạn chế trong thực hiện quản lý dự trữ ngoại hối, Ngân hang Nhà nước đã
gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, việc tìm ra các giải pháp nhằm khắc phục hạn chế,
thiếu sót đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối mang ý nghĩa vô
cùng thiết thực.
Với các ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên, em lựa chọn đề tài
“Quản lý dự trữ ngoại hối ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”. Nội dung đề
tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự trữ ngoại hối
Chương 2: Thực trạng quản lý ngoại hối ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp quản lý dự trữ ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 2 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI
1.1. DỰ TRỮ NGOẠI HỐI
1.1.1. Khái niệm
Các quốc gia sử dụng DTNH và mỗi quốc gia lại có định nghĩa riêng về
DTNH. Tuy nhiên, các định nghĩa đều căn bản dựa trên định nghĩa của Quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF).
Trong tài liệu "Cẩm nang Cán cân thanh toán quốc tế" của Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF) xuất bản lần thứ năm, IMF đã định nghĩa về dự trữ ngoại hối như sau: “Dự trữ
ngoại hối của một quốc gia là những tài sản ngoại hối mà Ngân hàng Trung ương
quản lý và sử dụng nhằm tài trợ trực tiếp cho thâm hụt cán cân thanh toán hoặc gián

- Từ việc rút dự trữ ngoại hối tại IMF theo hạn mức.
Tuy nhiên, không phải toàn bộ các luồng ngoại hối chảy vào trong nước, đều
được tập trung thành DTNHNN. Một phần ngoại hối không nhỏ trong số đó, chủ
yếu là từ các hoạt động xuất khẩu, từ kiều hối, đầu tư nước ngoài, được lưu hành
trong các tầng lớp dân cư hoặc trôi nổi trên thị trường. Vì thế các biện pháp nhằm
thu hút lượng ngoại hối trôi nổi tập trung về DTNHNN có vai trò hết sức quan trọng
trong việc góp phần gia tăng quy mô dự trữ ngoại hối cho đất nước.
1.1.3. Vai trò
Dự trữ ngoại hối của một quốc gia được quản lý nhằm đáp ứng các mục tiêu
sau đây:
- Thứ nhất, Dự trữ ngoại hối là phương tiện để NHTW hỗ trợ và duy trì lòng tin
đối với chính sách tỷ giá và chính sách tiền tệ.
+ NHTW sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường ngoại hối nhằm thực
hiện chính sách tỷ giá trong cơ chế tỷ giá cố định.
NHTW sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường thông qua các giao
dịch mua bán ngoại tệ với các tổ chức tín dụng trong nước. Trên thị trường ngoại
hối trong nước, khi cầu lớn hơn cung, NHTW bán ngoại tệ ra và ngược lại, mua
ngoại tệ vào khi cung lớn hơn cầu. Các giao dịch can thiệp này làm thay đổi lại
cung cầu ngoại tệ trong nước và do vậy có khả năng điều chỉnh tỷ giá thị trường.
Đối với các nước áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, vai trò của dự trữ ngoại
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 4 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
hối trong việc thực hiện chính sách tỷ giá hết sức mờ nhạt, bởi lẽ NHTW không can
thiệp vào sự hình thành tỷ giá. Ở đó, tỷ giá được thiết lập hoàn toàn do quan hệ
cung cầu, không có sự can thiệp của nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế, rất ít nước
áp dụng chế độ tỷ giá này. Đa phần, các nước áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có sự
điều tiết của nhà nước. Đối với các nước này, tỷ giá vẫn được hình thành chủ yêu
theo quan hệ cung cầu, tuy nhiên, để ngăn chặn các xu hướng tỷ giá giao động bất
lợi cho các hoạt động kinh tế quốc tế, các hoạt động thương mại của quốc gia,
NHTW vẫn thực hiện can thiệp bằng các hoạt động mua bán ngoại hối để điều tiết

không nhằm điều chỉnh tỷ giá. Do đó, giao dịch trên thị trường ngoại hối cũng trở
thành một kênh phát hành tiền quan trọng của NHTW. Do cơ chế tác động như vậy,
hoạt động can thiệp ngoại hối trên thị trường trong nước của NHTW phải được thực
hiện một cách cẩn trọng trên cơ sở xem xét giữa mục tiêu điều chỉnh lượng tiền cơ
sở và mục tiêu điều chỉnh tỷ giá.
Có 02 hình thức can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối là can thiệp
không trung hòa (unsterilized intervention) và can thiệp trung hòa (sterilized
intervention). Can thiệp không trung hoà là hình thức NHTW can thiệp vào thị
trường ngoại hối mà không điều chỉnh lại sự thay đổi trong mức cung tiền sau khi
có can thiệp. Chẳng hạn, nếu NHTW muốn hạ giá nội tệ thông qua việc mua ngoại
tệ vào và bán nội tệ ra. Bằng cách này lượng cung nội tệ trong nền kinh tế gia tăng,
và trong điều kiện các yếu tố khác không đổi sẽ làm gia tăng lạm phát. Do đó, sự
can thiệp trên thị trường ngoại hối theo hình thức này không chỉ làm tăng, giảm tỷ
giá mà còn ảnh hưởng đến lạm phát và lãi suất. Can thiệp theo hình thức này là một
trong những cách thức để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ. Can thiệp trung
hoà là trường hợp NHTW can thiệp vào thị trường ngoại hối trong khi vẫn duy trì
mức cung tiền tệ bằng cách đồng thời với việc can thiệp áp dụng cả các hoạt động
thị trường mở. Chẳng hạn, song song với việc mua ngoại tệ vào và bán nội tệ ra để
ổn định tỷ giá, NHTW sẽ sẽ tiến hành bán chứng khoán thông qua nghiệp vụ thị
trường mở để thu hút lại lượng tiền cơ sở về ngân hàng. Can thiệp theo hình thức
này sẽ ít ảnh hưởng tới mục tiêu chính sách tiền tệ.
- Thứ hai, Dự trữ ngoại hối là phương tiện để hạn chế các tác động tiêu cực
khi xảy ra khủng hoảng bằng việc duy trì khả năng thanh khoản ngoại hối.
Khi khủng hoảng xảy ra, theo tâm lý chung, để đảm bảo an toàn, các nhà đầu
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 6 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
tư nước ngoài sẽ ồ ạt rút vốn khỏi nơi đầu tư. Khi đó, DTNH sẽ là trợ lực đảm bảo
khả năng thanh khoản cho đất nước, hạn chế rủi ro khủng hoảng tài chính do nguy
cơ mất khả năng thanh toán cho các nhà đầu tư nước ngoài.
- Thứ ba, Dự trữ ngoại hối biểu thị khả năng hỗ trợ đồng nội tệ bằng tài sản

ngoại hối là nhằm đạt được các mục đích sau đây:
- Có đủ mức dự trữ ngoại hối cần thiết để đáp ứng các mục tiêu đã xác định.
- Kiểm soát chặt chẽ được rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng.
- Mang lại mức thu nhập hợp lý qua các hoạt động đầu tư.
Mục đích quản lý dự trữ ngoại hối mà IMF đưa ra là nhằm đảm bảo dự trữ
ngoại hối về mặt lượng, duy trì và gia tăng dự trữ ngoại hối cho các quốc gia để các
quốc gia luôn sẵn sàng sử dụng nó cho các mục tiêu đã định.
Hướng tới những mục đích trong quản lý dự trữ ngoại hối mà IMF đưa ra,
hầu hết các nước đều xác định nguyên tắc quản lý gồm 03 nội dung sau:
- Đảm bảo tính thanh khoản: là khả năng chuyển đổi tài sản ngoại hối ra
tiền tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán khi cần thiết.
- Đảm bảo an toàn dự trữ ngoại hối: là quản lý và kiểm soát được các rủi ro
trong hoạt động đầu tư dự trữ.
- Sinh lời trên tài sản dự trữ ngoại hối thông qua các nghiệp vụ đầu tư trên
thị trường quốc tế.
Thứ tự ưu tiên của các nguyên tắc trên có thể thay đổi tuỳ thuộc vào chính
sách quản lý dự trữ ngoại hối của cơ quan quản lý trong từng giai đoạn khác nhau.
1.2.3. Cơ quan thực hiện quản lý
Các nước duy trì dự trữ ngoại hối nhằm mục tiêu hàng đầu là thực hiện chính
sách tiền tệ và chính sách tỷ giá, hạn chế tác động khủng hoảng (nếu có), thậm chí
có những nước áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi vẫn sử dụng dự trữ ngoại hối để hạn
chế sự biến động của tỷ giá. Chính vì các mục tiêu trên, công tác quản lý dự trữ
ngoại hối thường được các nước giao cho NHTW, cơ quan hoạch định và thực thi
chính sách tiền tệ quốc gia thực hiện. Trường hợp nếu dự trữ ngoại hối không do
ngân hàng trung ương quản lý, vai trò của ngân hàng trung ương trong việc thực thi
chính sách tiền tệ sẽ giảm đi rất nhiều, đồng thời việc thực thi cũng sẽ gặp không ít
trở ngại. Chức năng cơ bản của NHTW là bảo vệ giá trị đồng tiền, do đó đòi hỏi
ngân hàng trung ương phải là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối để có thể chủ động
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 8 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 9 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
1.2.4.2. Mua bán ngoại tệ trao ngay
Là việc NHTW mua bán các đồng tiền khác nhau có trên tài khoản và việc
thanh toán được tiến hành sau 01 đến 02 ngày làm việc kể từ ngày thoả thuận mua
bán. NHTW thực hiện nghiệp vụ này trên thị trường quốc tế chủ yếu với mục đích
điều chỉnh cơ cấu dự trữ ngoại hối, giảm thiểu rủi ro ngoại hối hay cho mục đích
đầu cơ trong việc dự tính biến động về tỷ giá. Mục đích kinh doanh chênh lệch giá
đối với ngoại tệ cũng được thực hiện, tuy nhiên không nhiều.
1.2.4.3. Đầu tư, kinh doanh giấy tờ có giá
Là viêc NHTW mua, bán và nắm giữ các giấy nhận nợ do người đi vay phát
hành và được người phát hành cam kết sẽ thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ khi đến
hạn. Các giấy tờ này có thể được mua bán bát kỳ khi nào, do đó NHTW đầu tư vào
các loại giấy tờ có giá nhằm nâng cao khả năng thanh khoản cho DTNHNN, đồng
thời vẫn đảm bảo được mục tiêu sinh lời. Ngoài ra, NHTW cũng mua bán giấy tờ có
giá với mục đích kinh doanh chênh lệch giá, tuy nhiên giao dịch cho mục đích này
không nhiều. NHTW các nước thường mua bán một số loại giấy tờ có giá có mức
thu nhập cố định sau đây:
Trái phiếu Chính phủ/Tổ chức quốc tế: Là giấy nhận nợ do Chính phủ/Tổ
chức quốc tế phát hành có thời hạn từ 1 năm trở lên với lãi suất cố định và trả lãi
định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm/lần.
Tín phiếu Kho bạc/Tổ chức quốc tế: Là giấy nhận nợ do Chính phủ/Tổ chức
quốc tế phát hành có thời hạn dưới 1 năm, lãi được thanh toán một lần khi đến hạn
cùng với gốc hoặc được khấu trừ ngay vào giá mua (tín phiếu chiết khấu).
Trái phiếu công ty: là loại giấy nhận nợ do công ty phát hành nhằm thu hút
vốn đầu tư dài hạn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2.4.4. Ủy thác đầu tư
Là việc NHTW ủy quyền cho đối tác thực hiện đầu tư theo những quy định
về hướng dẫn đầu tư do bên uỷ thác đưa ra và được thỏa thuận giữa hai bên. Chỉ số
về mức độ sinh lời được đưa vào hợp đồng để lấy đó làm cơ sở tham chiếu đánh gía
kết quả thực hiện của uỷ thác. Trong quá trình uỷ thác, định kỳ, đối tác thực hiện

nhưng tại hai thời điểm khác nhau với tỷ giá khác nhau. Thực chất của giao dịch
hoán đổi là sự kết hợp giữa 01 giao dịch giao ngay và 01 giao dịch kỳ hạn.
+ Giao dịch quyền chọn tiền tệ: Quyền chọn là một loại hợp đồng cho phép
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 11 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
người mua có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hoặc bán một số lượng
ngoại tệ nào đó với tỷ giá được xác định trước trong một thời hạn nhất định.
1.2.4.7. Đầu tư, kinh doanh vàng
Bên cạnh việc cất trữ vàng, các NHTW có thể đầu tư, cho vay, kinh doanh
vàng dưới hình thức vàng ghi sổ và cũng thực hiện tương tự như với nghiệp vụ đầu
tư tiền gửi, cho vay để hưởng lãi và như nghiệp vụ mua bán ngoại tệ trao ngay để
hưởng chênh lệch giá mua bán. Tuy nhiên, số lượng các ngân hàng trung ương thực
hiện nghiệp vụ này cũng không nhiều.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ TRỮ NGOẠI HỐI
Dự trữ ngoại hối là một quỹ được hình thành từ rất nhiều nguồn và sự biến
động của bất cứ nguồn nào cũng làm ảnh hưởng đến lượng dữ trữ ngoại hối. Bên
cạnh đó dự trữ ngoại hối còn được quản lý bởi NHTW và Nhà nước nên mỗi động
thái của các cơ quan này cũng ít nhiều tác động đến lượng dự trữ của quỹ. Sau đây
là những nhân tố chính tác động đến dự trữ ngoại hối quốc gia.
1.3.1 Cán cân thanh toán quốc tế
Theo định nghĩa của IMF, cán cân thanh toán quốc tế là một bản báo cáo
thống kê ghi chép và phản ánh các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người
không cư trú. Nó cũng là một bảng thống kê chi tiết về các nguồn cung cầu ngoại tệ
của một quốc gia. Khi có bất cứ một giao dịch nào phát sinh thì đồng thời trên cán
cân thanh toán cũng ghi lại giao dịch đó là phát sinh cung hay cầu ngoại tệ.
Tuy nhiên, cán cân thanh toán không chỉ phản ánh trạng thái ngoại tệ của
một quốc gia mà một số cán cân thành phần còn có tác động trực tiếp đến nguồn
cung hay cầu ngoại tệ, từ đó ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối của quốc gia.
1.3.1.1 Cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cân thanh toán

cho các công ty xuất nhập khẩu trong nước, làm sản lượng hàng hoá xuất khẩu tăng,
hạn chế nhập khẩu, từ đó cải thiện tình hình của cán cân thương mại và tăng cung
ngoại tệ cho nên kinh tế.
Thứ ba: Hành vi hay thói quen của người tiêu dùng.
Một quốc gia có truyền thống sử dụng hàng nội địa sẽ không phải tốn kém
một khoản ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá nước ngoài khi nền sản xuất trong nước
hoàn toàn có thể đáp ừng được. Điều ngược lại xảy ra với những quốc gia mà dân
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 13 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
chúng có tâm lý thích dùng hàng ngoại. Khi đó, dù hàng hoá trong nước hoàn toàn
có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thì dân chúng vẫn lựa chọn hàng hoá nước
ngoài do ý thích của mình. Một lượng ngoại tệ sẽ chảy ra khỏi quốc gia đơn giản
chỉ vì thói quen tiêu dùng của người dân. Điều này còn đặc biết tác động xấu đến dự
trữ ngoại hối nếu như người dân có xu hướng tiêu dùng những hàng hoá nhập ngoại
xa xỉ vì khi đó nhập siêu là không thể tránh khỏi và lượng cầu ngoại tệ cho tiêu
dùng sẽ rất lớn.
1.3.1.2 Cán cân vốn
Cán cân vốn là một bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế. nó ghi lại tất cả
những giao dịch về tài sản (gồm những tài sản như bất động sản hay tài sản chính
như cổ phiếu, ngoại tệ, trái phiếu,…) giữa người cư trú với người không cư trú.
_ Cán cân di chuyển vốn ngắn hạn: bao gồm các khoản vốn đi ra hay đi vào
của khu vực tư nhân (chiếm tỷ trọng lớn) và khu vực nhà nước nhưng dưới rất nhiều
các hình thức khác nhau: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, các hoạt động
trên kinh doanh ngoại hối và giấy tờ có giá ngắn hạn kể cả các luồng vốn đầu cơ.
Khi các luồng vốn chảy vào sẽ làm tăng cung ngoại tệ từ đó có xu hướng làm
tăng dự trữ ngoại hối. Ngược lại, các luồng vốn đi ra sẽ làm tăng cầu ngoại tệ. Các
luồng vốn ngắn hạn này phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố sau: chênh lệch tỷ giá, tỷ
suất lợi tức kỳ vọng ngắn hạn, lãi suất và các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế,
chính trị, xã hội,…
Do đó, khi lợi tức kỳ vọng cao hay lãi suất cao sẽ thu hút được nhiều luồng

_ Hành vi duy trì tỷ giá ở một mức độ nhất định, bao gồm những can thiệp
của chính phủ để duy trì tỷ giá là ổn định không đổi, để có thể duy trì một tỷ giá cố
định chính phủ phải không ngừng mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, điều
này làm thay đổi quy mô dự trữ ngoại hối.
_ Không can thiệp để cho tỷ giá biến động tự do theo quan hệ cung cầu thị
trường. Với chính sách này, Nhà nước không cần thiết sử dụng ngoại hối để can
thiệp vào tỷ giá chính vì thế dự trữ ngoại hối không bị ảnh hưởng.
1.3.2.2. Chính sách quản lý dự trữ ngoại hối
Dự trữ ngoại hối thuộc quyền quản lý cảu Nhà nước hoăch NHTW nhưng
các cơ quan này không chỉ có nhiệm vụ bảo quản và cất giữ mà còn phải có những
biện pháp quản lý nhằm đảm bảo quy mô và cấu trúc dự trữ ngoại hối. Hơn thế nữa,
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 15 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Nhà nước hoặc NHTW còn phải biết sử dụng hợp lý để phục vụ cho đầu tư phát
triển kinh tế, luôn đảm bảo an toàn không bị ảnh hưởng bởi rủi ro về ty giá ngoại tệ
trên thị trường quốc tế. Bên cạnh việc ban hành các luật lệ về quản lý dự trữ ngoại
hối, NHTW còn cần can thiệp mua bán, chuyển đổi cũng như đầu tư để chống thất
thoát, xói mòn quỹ.
1.3.2.3. Các quy định về kiều hối
Nếu một quốc gia có ý định kìm hãm lượng kiều hối sẽ ban hành chính sách,
cơ chế về kiều hối với những biện pháp cứng rắn. Ví dụ như thủ tục để người trong
nước có thể nhận được kiều hối là rất phức tạp. Hơn thế còn có các quy định về hạn
mức và số lần nhận tiền. Điều này đã gây khó khăn cho những người được nhận
kiều hối, tác động xấu đến dòng ngoại tệ nhận về theo cách nà. Khi đó dự trữ ngoại
hối sẽ mất tiền đi một nguồn cung cấp.
Tuy nhiên, nếu một quốc gia theo hướng tự do hoá, tháo gỡ hết các khó
khăn, vướng mắc trong quá trình tiếp nhận kiều hối. Đồng thời một loạt cơ chế mới
về quản lý dự trữ ngoại hối thông thoáng, linh hoạt được ban hành thì lượng kiều
hối chuyển vào sẽ tăng lên rõ rệt.
1.3.2.4. Các biện pháp quản lý ngoại hối khác

_ Thứ ba: tiêu dùng tăng cao, khi nền kinh tế phát triển, thu nhập được cải
thiện người dân có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, trong đó có việc tiêu dùng hàng
nhập ngoại. Điều này có lợi cho những nhà sản xuất từ các nước đối tác, tăng thặng
dư thương mại, cải thiện dự trữ ngoại hối.
Ngoài ra khi có biện động xảy ra (ví dụ như thiên tai, chiến tranh,…) làm
cho một số nước khan hiếm hàng xuất khẩu của nước sở tại, làm tăng cầu hàng hoá
của nước này, điều này cũng góp phần cải thiện dự trữ ngoại hối của nước sở tại.
`1.3.4.2. Tác động tiêu cực
Ngược lại, khi nền kinh tế thế giới gặp khó khăn sẽ gây những ảnh hưởng
tiêu cực đến dự trữ ngoại hối như:
_ Thứ nhất: thâm hụt thương mại tăng, nền kinh tế các nước đi vào suy thoái,
sản xuất bị thu hẹp, cầu về hàng hoá xuất khẩu giảm, ảnh hưởng tiêu cực đến dự trữ
ngoại hối.
_ Thứ hai: sụt giảm đầu tư do sự giảm sút của dòng vốn từ bên ngoài chảy
vào. Giảm cung ngoại tệ vào quốc gia, tác động xấu đến quy mô dự trữ ngoại hối.
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 17 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
_ Thứ ba: tiêu dùng giảm mạnh khi sản xuất bị đình trệ, một số người có khả
năng mất việc làm hay thu nhập bị ảnh hưởng cộng với dòng kiều hối chảy vào
giảm sẽ kéo theo sụt giảm trong tiêu dùng của các hộ gia đình, trong đó có tiêu
dùng hàng nhập ngoại, điều này ảnh hưởng đến các đối tác xuất khẩu, dự trữ ngoại
hối có xu hướng giảm.
1.3.5. Những nhân tố khác
Niềm tin của người dân vào đồng nội tệ hay các chính sách của Nhà nước có
ảnh hưởng rất lớn đến dự trữ ngoại hối. Niềm tin vào đồng nội tệ suy giảm sẽ dãn
đến hiện tượng đô la hoá – hiện tượng mà trong một nền kinh tế, ngoại tệ được sử
dụng rộng rãi thay cho đồng nội tệ trong toàn bộ hay một số chức năng nội tệ. Khi
đó lượng ngoại tệ trôi nổi ngoài hệ thống ngân hàng không ngừng tăng lên, đồng
thời luồng ngoại tệ thu về từ xuất khẩu, kiều hối cũng không chảy nhiều vào hệ
thống ngân hàng. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Chính phủ trong việc quản

lỏng biên độ giao dịch của đồng nhân dân tệ với USD và hiện đã để cho đồng nhân
dân tệ được tự do biến động theo thị trường trong phạm vi quản lý của NHTW,
song với cơ chế tỷ giá này, Trung quốc vẫn cần dự trữ một lượng ngoại hối lớn.
Thứ hai, do đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc tăng mạnh, Trung
quốc là một trong số 5 địa điểm thu hút FDI lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 6%
tổng FDI toàn cầu.
Bảng 1.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc 2005-2011
Thứ Ba, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc liên tục tăng do khả năng của
nền kinh tế dần được cải thiện, thặng dư thương mại của Trung Quốc tăng đều qua
NGUYỄN HUY TÙNG LỚP NHC-LTDH8
Năm Tổng giá trị FDI trong năm (tỷ USD) Tăng/ giảm (%)
2005 60,33
2006 69,47 15,15
2007 87 25,23
2008 92,4 6,21
2009
2010
2011
90,03
105,7
116
-2,56
17,41
8,88
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 19 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
các năm cho đến 2009 mới bắt đầu sụt giảm.
Bảng 1.2: Thặng dư thương mại của Trung Quốc 2005-2011
Tóm lại, do một loạt những cải cách kinh tế, thương mại và đầu tư nước
ngoài, nền kinh tế Trung Quốc sau khủng hoảng phục hồi nhanh, nguồn vốn FDI
chảy vào Trung Quốc với khối lượng lớn đã khiến cán cân vãng lai và cán cân vốn

-14,5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 20 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
dễ dàng trong nền kinh tế thế giới.
- Những tác động tiêu cực:
Các chuyên gia cho rằng sự tăng trưởng dự trữ ngoại hối của Trung Quốc
không hoàn toàn chứng tỏ sức mạnh tổng thể của nền kinh tế, nó đang tạo áp lực cả
bên trong lẫn bên ngoài lên quốc gia này. Đó là áp lực phải nâng giá đồng nội tệ,
tăng lãi suất tiền gửi và áp lực về sự gia tăng nợ gián tiếp. Chức năng quan trọng
của dữ trự ngoại hối là đóng vai trò nguồn thanh toán quốc tế nhưng nó phải thực sự
là tài sản quốc gia, trong trường hợp này khối lượng dự trữ ngoại hối của Trung
Quốc chủ yếu lại đến từ sự gia tăng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, do đó đây là
nguồn không ổn định nếu các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút khỏi thị trường
Trung Quốc.
Mặt khác, sự gia tăng nhanh chóng dự trữ ngoại hối làm tăng khối lượng tiền
cơ sở. Để làm cân bằng hiệu ứng tăng cung tiền do việc tăng lên của dự trữ ngoại
hối , NHTW Trung Quốc phải áp dụng biện pháp can thiệp bằng cách bán trái phiếu
trên thị trường mở. Tuy nhiên, việc bán trái phiếu không đủ đề bù đắp được lượng
tiền chảy vào lưu thong, kết quả là cung tiền tăng lên đáng kể làm gia tăng áp lực
lạm phát
1.4.2. Kinh nghiệm về dự trữ ngoại hối Thái Lan trong khủng
hoảng châu Á 1997
1.4.2.1. Bối cảnh nền kinh tế Thái Lan trước khủng hoảng
Đầu thập niên 90, nền kinh tế các nước khu vực Châu Á trải qua thời kỳ tăng
trưởng nhanh và ổn định. Cùng lúc nhiều nền kinh tế khu vực như Thái Lan, Malaysia,
Indonesia, Singapore và Hàn Quốc có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, đạt 8-12%
GDP liên tục trong khoảng thời gian cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90. Ở Đông
Nam Á, tỷ lệ lợi tức cao đặc biệt có sức hấp dẫn rất lớn đối với các nhà đầu tư nước
ngoài tìm kiếm tỷ lệ hoàn vốn cao. Kết quả là nhiều nền kinh tế trong khu vực thu nhận
được một lượng tiền lớn và trải qua một thời kỳ giá tài sản tăng vọt. Thái Lan không
phải ngoại lệ khi có tộc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 9%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status