SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY TOÁN LỚP 4 THEO HƯỚNG:
“TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH ”
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
1)Cơ sở lí luận
:
Giáo dục Việt Nam trong thập niên đầu tiên của thế kỉ 21 chứng kiến sự bứt phá ngoạn
mục từ nội tại và cả sự tác động từ phía xã hội. Lộ trình đổi mới chương trình, đổi mới
phương pháp, thay sách giáo khoa như là một bước đột phá sống còn của giáo dục nhằm
nâng cấp sản phẩm bắt kịp xu thế toàn cầu hóa của thời đại và bước đầu đã cho thấy
những kết quả rất đáng ghi nhận. Cuộc chiến chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành
tích trong giáo dục, việc nói không với hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo, nói không với
việc học sinh ngồi nhầm lớp cho dù vẫn đang rất gian nan song bước đầu đã nhận được
sự đồng thuận cao từ các thầy cô giáo, các em học sinh và cả dư luận xã hội. Phong trào
thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đang từng bước tạo ra môi
trường giáo dục lành mạnh, gắn bó và đáp ứng tối đa dự đòi hỏi của thực tiễn.Những năm
gần đây Đảng, nhà nước, ngành đã dành những sự quan tâm đầu tư đáng kể cho giáo dục.
Những chính sách, chủ trương mới liên tục được cập nhật đã mở ra những lối đi mới cho
sự phát triển của giáo dục nước nhà. Chỉ thị 40CT/TW của Ban Bí thư Trung Ương Đảng
về việc nâng cao phẩm chất chính trị và năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ quản lí
và giáo viên, Luật giáo dục 2005 được Quốc hội thông qua, các chỉ thị của chính phủ
quan tâm đến đạo đức nhà giáo. Hay chỉ thị 40/2008/CT- BGDDT; kế hoạch liên ngành
số 7575/ KHLN/BGDDT – Giữa bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch- Bộ GD-ĐT- Trung
Ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh triển khai phong trào thi đua “Xây sựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” là những minh chứng rõ nét nhất cho tham vọng
đổi mới toàn diện nền giáo dục nước nhà. Tuy nhiên, do hạn chế năng lực của người dạy,
người học, hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất và môi trường dạy học nên công bằng mà
nói để nhanh chóng đuổi kịp các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới thì
sự nỗ lực tự vận động là điều chúng ta không thể không quan tâm. Trong đó, vai trò của
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu :
- Nghiên cứu việc dạy môn toán của giáo viên, việc học môn toán của học sinh lớp
4A nói riêng và tại trường Th Lê Hồng Phong nói chung.
- Chủ yếu sử dụng các phương pháp thông thường. Thu thập thông tin thực tế, xử lí
số liệu, kiểm chứng bằng thực tiễn dạy học để đưa ra những giải pháp phù hợp cho việc
xây dựng phương án dạy học môn toán bậc tiểu học một cách tối ưu nhất.
B . P H Ầ N N Ộ I D U N G
I . K h ả o s á t t ì n h h ì n h
:
1 . K h ả o s á t s ố l i ệ u
Kết quả khảo sát chất lượng môn Toán lớp 4A đầu năm học 2011 – 2012 như
sau:
Tổng số
học
sinh
Điểm giỏi
( 9 - 10 )
Điểm khá
( 7 - 8 )
Điểm Trung
bình ( 5 - 6 )
Điểm yếu
( Dưới 5 )
25 TS % TS % TS % TS %
9 36 8 32 4 16 4 82. Thuận lợi :
- Bản thân nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở bậc tiểu học nên kính nghiệm thực tế tích
tích cực, sáng tạo.
Với bài học này, giáo viên có thể tổ chức hoạt động dạy học bằng hệ thống câu
hỏi sau:
Dựa vào cách tính diện tích hình chữ nhật bằng đồ dùng trực quan hãy cho biết
x = ? (HS nêu: x = )
- Quan sát hình và cho biết 8 là gì của hình chữ nhật mà ta phải tính diện tích?
(8 là tổng số ô của hình chữ nhật.)
* HS giải thích: Chiều dài HCN bằng 4 ô và được xếp thành 2 hàng nên tính được tổng số
ô bằng cách lấy 4 x 2 = 8.
- 4 và 2 là gì của các phân số trong phép nhân x ? ( 4 và 2 là tử số của các phân
số trong phép nhân x ).
- Để tính số ô vuông có trong hình vuông diện tích 1 m
2
ta làm thế nào? ( lấy 5 x 3 = 15
(ô)).
- Vậy 5 và 3 là gì của các phân số trong phép nhân x ? ( 5 và 3 là mẫu số của
các phân số trong phép nhân x ).
- Như vậy, khi muốn nhân hai phân số với nhau ta làm thế nào? ( ta lấy tử số nhân tử
số, mẫu số nhân mẫu số).
- Giáo viên nêu công thức tổng quát: = và yêu cầu học sinh nêu quy tắc
nhân hai phân số, sau đó tổ chức: luyện tập, củng cố.
1.2.Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp phát hiện và
giải quyết vấn đề, kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy học.
Ví dụ trong bài: “ Phép cộng phân số ” ( tiếp theo ).
* Bài toán: Có một băng giấp màu, bạn Hà lấy băng giấy, Bạn An lấy băng giấy.
Hỏi cả 2 bạn lấy bao nhiêu phấn băng giấy màu? ( Toán 4 trang 127 ).
Sau khi học xong học sinh biết cách cộng hai phân số khác mẫu số và rèn luyện
kỹ năng tính toán cho học sinh.
Hướng dẫn giải như sau: Muốn tìm số phần băng giấy của 2 bạn Hà và An đã lấy, cần
thực hiện phép tính gì? ( phép cộng: + ).
Do đó để kiểm nghiệm kết quả, phát huy tính chủ động sáng tạo và tinh thần hợp
tác của học sinh. Giáo viên yêu cầu học sinh hợp tác theo nhóm nhỏ để tổ chức hoạt động
dạy học.
1.4. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài toán là cơ
sở giải loại toán sắp học.
Giải các bài toán có tính chất chuẩn bị này, học sinh có thể tính ra được kết quả dễ
dàng nhằm tạo điều kiện cho các em tập trung suy nghĩ vào các mối quan hệ toán học và
các từ mới chứa trong đầu bài toán:
Ví dụ 1: Để chuẩn bị cho việc học loại toán: “Tìm 2 số biết tổng và tỉ số của 2 số đó”.
Có thể cho học sinh giải bài toán sau: “ Cô có 30 bút chì, chia thành 3 phần bắng nhau.
Bạn nam được 1 phần, bạn nữ được 2 phần. Hỏi bạn nam được mấy bút chì?”.
Ví dụ 2: Để chuẩn bị cho việc học loại toán: “Tìm 2 số biết tổng và hiệu của 2 số đó”.
Có thể cho học sinh giải bài toán sau: “Hai bạn Nam và Hùng có tất cà 15.000
đồng, Nam có nhiều hơn Hùng 5.000 đồng. Hỏi mỗi bạn có bao nhiêu tiền?”.
- Tổ chức cho học sinh làm việc trên đồ dùng học tập:
+Mỗi học sinh lấy 15 que tính (tượng trưng cho 15.000 đồng ). Chia bảng con làm
2 phần, phần lớn là số tiền của Nam, phần nhỏ là số tiền của Hùng.
+Nam nhiều hơn Hùng 5.000 đồng. Vậy ta lấy 5 que tính cho Nam trước rồi chia
đôi phần còn lại:! Học sinh lấy 5.000đồng cho nam trước (đặt 5 que tính vào phần lớn).
- Còn mấy nghìn đồng ? (15.000 – 5.000 = 10.000 đồng ).
- Vậy chia đều cho 2 bạn, mỗi bạn được mấy nghìn ? ( 10.000 : 2 = 5.000 đồng ).
- Bỏ vào hai phần mỗi phần 5.000 đồng ( 5 que tính )
- Vậy Hùng được mấy nghìn ? ( 5.000 đồng ).
- Còn Nam được mấy nghìn ? ( 5.000 +5.000 = 10.000 đồng ).
- Tương tự hướng dẫn bài toán trên sơ đồ và giải.
1.5.Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài toán phát
huy tính trực quan cụ thể trong tư duy của học sinh.
Để giải được các bài toán này giáo viên cần triển khai các hoạt động mang tính
chất thực tiễn, học sinh phải được thao tác trên đồ dùng trực quan. Từ đó các em sẽ tự
phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ bài học.
chất này, khi nào vận dụng tính chất kia:
Ví dụ: 2 10 + 10 5 = 10 ( 2 + 5 ) = 10 10 = 20 ( Áp dụng tính chất nhân một
số với một tổng ).
2. Giải pháp đã thực hiện:
1. Đối với học sinh :
- Chủ yếu là xây dựng phương pháp học tập và phong cách học kết hợp tự rèn luyện
và hình thành mạng lưới học nhóm, học tổ, học bất kì nơi nào, dù ở nhà, ở trường cũng
luôn phải nghiêm túc và tập trung trong khi học tập.
- Không được bỏ qua hay lơ là dù một bài tập nhỏ, dù một bài tập đơn giản, hay một
nội dung ngắn gọn.
- Từ kiến thức toán đã học phải rèn luyện kĩ năng thực nghiệm, tư duy, sáng tạo.
- Mỗi học sinh đều phải có vở ghi chép những kiến thức trọng tâm của từng phần,
từng chương, hoặc ghi chép những công thức, những ý tưởng sáng tạo, những gì mà học
sinh cảm thấy cần phục vụ cho việc học môn Toán,…
- Mỗi học sinh đều phải có sách Sách giáo khoa, vở, dụng cụ học tập đầy đủ.
- Chuẩn bị cho một tiết học, từng đối tượng học sinh được giao nhiệm vụ cụ thể.
Trưởng nhóm học tập giúp giáo viên kiểm tra đôn đốc, nhắc nhở bước đầu và có nhiệm
vụ báo cáo việc chuẩn bị của các thành viên cho thầy cô giáo.
- Trong mỗi bài học mỗi học sinh đều phải thực hành được những phép tính , bài tính
(tùy theo đối tượng) để đặt ra yêu cầu thấp hay cao nhằm kích thích sự tập trung và tinh
thần hưng phấn của học sinh trong giờ học và nêu ra phát minh mới mà học sinh tìm
được.
- Chú ý quan tâm đến từng đối tượng học sinh, không để học sinh đứng ngoài lề bài
giảng.
2. Đối với giáo viên :
Gồm một chuỗi hệ thống những công việc phải chuẩn bị như trong quá trình lên lớp
đó là:
- Xác định nội dung yêu cầu kiến thức kĩ năng cần cung cấp truyền đạt và rèn luyện
cho học sinh.
kiến thức mới và giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống. Sự tiến bộ của các em biểu
hiện cụ thể qua kết quả như sau:
Kết quả kiểm tra giữa HKI năm học 2011-2012:
Tổng số
học sinh
Điểm giỏi
( 9 - 10 )
Điểm khá
( 7 - 8 )
Điểm Trung
bình ( 5 - 6 )
Điểm yếu
( Dưới 5 )
25
TS % TS % TS % TS %
10 40 6 24 7 28 2 8
Kết quả kiểm tra cuối HKI năm học 2011 – 2012:
Tổng số
học
sinh
Điểm giỏi
( 9 - 10 )
Điểm khá
( 7 - 8 )
Điểm Trung
bình ( 5 - 6 )
Điểm yếu
( Dưới 5 )
25 TS % TS % TS % TS %
+ Công tác chuẩn bị từng bài dạy thật kĩ phù hợp từng nội dung, soạn giảng chu đáo
gọn nhẹ.
+ Dụng cụ, phương tiện dạy- học phải đầy đủ.
+ Tổ chức nhiều hình thức học tập cho có tính hấp dẫn.
+ Thường xuyên kiểm tra, củng cố hệ thống kiến thức.
+ Phát huy tính tích cực, tính tự học, tìm tòi, tự phát hiện cái mới, cái hay,… để tự
chiếm lĩnh tri thức.
C. PHẦN KẾT LUẬN
1. Kết luận chung :
Dạy toán, học toán ở trường Tiểu học là một phạm trù rộng lớn. Nó chứa đựng một
chuỗi hệ thống các quan điểm, phương pháp và kĩ thuật dạy học. Vì thế, bản thân luôn
xác định đổi mới phương pháp dạy học toán ở bậc tiếu học không hề đơn giản và cũng
không thể thực hiện nhanh chóng trong ngày một ngày hai. Vì thế, khi nghiên cứu đề tai
này, thực sự chúng tôi không có tham vọng tạo chuyển biến có tính chất đột phá trong
việc dạy, việc học môn toán ở trường tiểu học mà chỉ hi vọng góp một phần nhỏ tháo gỡ
một vài khía cạnh để góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán tại trường TH Lê Hồng
Phong nói riêng và bậc tiểu học nói chung. Tuy nhiên, do ràng buộc hạn chế về kinh
nghiệm, sự thiếu hụt về mặt thời gian và tầm nhìn. Chúng tôi biết chắc đề tài vẫn còn
chứa đựng quá nhiều khiếm khuyết. Vì vậy, rất mong được quan tâm tham gia bàn bạc
của quý cấp quản lí và các đồng nghiệp.
2. Kiến nghị đề xuất :
*Đối với giáo viên :
- Tất cả các giáo viên giảng dạy ở tiểu học phải sử dụng các PPDH linh hoạt, phù hợp
với lớp, với từng học sinh.
- Nhiệt tình trong giảng dạy, đảm bảo đầy đủ ĐDDH, thiết bị dạy học.
- Tổ chuyên môn cần thường xuyên tổ chức hội thảo các chuyên đề về đổi mới
phương pháp, đố vui để học, thi học tốt môn toán.
- Có kế hoạch bồi dưỡng và phụ đạo học sinh về môn toán.
*Đối với nhà trường và các cấp :
- Tăng cường tài liệu nghiên cứu, sách tham khảo cho giáo viên.