SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“Dạy Toán lớp 4 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
nhằm giúp học sinh nắm vững các kiến thức môn Toán lớp 4"
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong chương trình môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếm số giờ rất
lớn. Việc sử dụng phương pháp dạy học (PPDH) giống như đồ nghề của người
thợ mộc, chúng đều bình đẳng với nhau. Việc sử dụng chúng tùy thuộc vào mục
đích và khả năng sử dụng của người dạy và học, tùy thuộc vào hoàn cảnh dạy
học cụ thể: Đối tượng học sinh, thiết bị dạy học và không khí học tập. Trong
thực tiễn không một giáo viên có kinh nghiệm nào lại sử dụng đơn điệu một
phương pháp trong hoạt động dạy học của mình. Dạy học cũng như người thợ
mộc, để thực hiện một thao tác nhằm tạo ra một chi tiết thì chỉ cần một công cụ,
nhưng muốn có một sản phẩm trọn vẹn (bàn, nghế, tủ,…) thì phải phối hợp
nhiều thao tác, sử dụng nhiều công cụ khác nhau. Nghệ thuật dạy học là nghệ
thuật phối hợp các PPDH trong một bài dạy của một người giáo viên.
Như vậy, trong dạy học nói chung và dạy học Toán ở tiểu học nói riêng
người giáo viên phải biết kết hợp nhiều PPDH vào trong một tiết dạy. Không
được xem nhẹ một phương pháp nào, mỗi PPDH có những mặt tích cức và hạn
chế riêng, không nên tuyệt đối hóa một PPDH nào. Để tổ chức hoạt động dạy
học hiệu quả, giáo viên cần biết cách lựa chọn, sử dụng ưu thế của từng PPDH
phù hợp với mục tiêu, nội dung ở từng loại bài học, ở từng lớp học, ở tửng giai
đoạn dạy học nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của học
sinh.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đặt ra cho ngành Giáo dục là phải
đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học để sao cho nền giáo dục nước nhà đem
Trang 1
lại kết quả ngang tầm với các nước trong khu vực cũng như các nước tiên tiến
trên thế giới.
Bộ Giáo dục đang triển khai đổi mới toàn diện và đồng bộ giáo dục – đào
vậy tôi đã đi sâu vào tìm hiểu “Dạy Toán lớp 4 theo hướng tích cực hóa hoạt
động học tập của học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững các kiến thức môn
Toán lớp 4"
PHẦN 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
I. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH.
- Trong chương trình môn Toán lớp 4, ở học kỳ I chủ yếu tập trung vào bổ
sung, hoàn thiện, tổng kết, hệ thống hóa, khái quát hóa về số tự nhiên và dãy số
tự nhiên, các phép tính và một số tính chất. Ở học kỳ II tập trung vào dạy phân
số, dấu hiệu chia hết và một số dạng về hình học.
Nội dung chương trình toán lớp 4 gồm 6 chương:
Chương I: Số tự nhiên, bảng đơn vị đo khối lượng.
Chương II: Bốn phép tích với các số tự nhiên. Hình học
Chương III: Dấu bị chia hết cho 2,5,3,9. Giới thiệu hình bình hành
Chương IV: Phân số- các phép tính với phân số. Giới thiệu hình thoi.
ChươngV: Tỉ số- Một số bài toán liên quan đế tỉ số. Tỉ lệ bản đồ.
Chương VI: Ôn tập.
Về nội dung chương trình toán lớp 4: Mỗi chương là một mảng kiến thức
Bên cạnh việc tìm tòi và sáng tạo phần giảng dạy phù hợp với yêu cầu bài
học và đối tượng học sinh. Mỗi giáo viên phải giúp các em có phương pháp lĩnh
hội tri thức Toán học. Học sinh có phương pháp học phù hợp với từng dạng bài
toán thì việc học mới đạt kết quả cao. Thực tế cho thấy ở đơn vị tôi các em học
Toán rất yếu, trường chưa có lớp dạy học 2 buổi/ngày, cho nên khi học sinh học
Toán còn nhiều khó khăn.
Trang 3
II. NHỮNG HẠN CHẾ, KHÓ KHĂN:
1. Về phía giáo viên:
Ở các lớp 1,2,3 học sinh chủ yếu nhận biết các khái niệm ban đầu, đơn
giản qua các ví dụ cụ thể với sự hỗ trợ của các vật thực hoặc mô hình, tranh ảnh,
…do đó chỉ nhận biết cái toàn thể, cái riêng lẻ, chưa làm rõ các mối quan hệ,
tính chất của sự vật, hiện tượng. Lên lớp 4 các em được học các kiến thức trừu
học phong phú, lạ lẫm cũng thu hút học sinh chú ý vào bài giảng rất là nhiều,
đặc biệt những đồ dùng dạy học càng thu hút và huy động được nhiều các giác
quan của học sinh thì càng có hiệu quả. Một số giáo viên chỉ vẽ hình và cho học
sinh quan sát, tìm kiến thức mới trên hình: Không cho các em thao tác và như
thế các em chỉ huy động được giác quan thị giác (nhìn lên bảng) và thính giác
(nghe cô giảng bài). Ví dụ bài: “ So sánh hai phân số khác mẫu số ”. Học sinh so
sánh trên hai băng giấy sẽ dễ tiếp thu kiến thức hơn vì trực quan tác động được
nhiều đến các giác quan của các em (có thêm xúc giác – tiếp xúc với băng giấy)
Một số giáo viên ít dành thời gian nghiên cứu, chuẩn bị hay chuẩn bị đồ dùng
dạy học phục vụ cho tiết dạy thêm phong phú (Sợ tốn thời gian) dẫn tới việc tiếp
thu bài môn Toán chưa cao.
2. Về phía học sinh:
Kết quả khảo sát chất lượng môn Toán đầu năm học 20XX - 20XY như
sau:
Tổng số
học sinh
Điểm giỏi
(9 - 10)
Điểm khá
(7 - 8)
Điểm Trung
bình (5 - 6)
Điểm yếu
(Dưới 5)
32
TS % TS % TS % TS %
1 3,12 6 18,75 16 50 9 28,12
Trang 5
Qua giảng dạy tôi thấy, rất nhiều em do điều kiện kinh tế gia đình còn khó
khăn, một buổi đi học, một buổi các em phải làm việc kiếm tiền giúp gia đình,
và
5
2
cho học sinh
là một vấn đề mới. nếu giáo viên chỉ giới thiệu quy tắc tính sau đó áp dụng vào
luyên tập thì không phát huy được tính tích cực, tư duy, sáng tạo của học sinh.
Do đó, giáo viên cần suy nghĩ, chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp để hướng dẫn
học sinh tiếp thu tri thức mới một cách tích cực, sáng tạo.
Với bài học này, giáo viên có thể tổ chức hoạt động dạy học bằng hệ
thống câu hỏi sau:
- Hãy tính
4
3
của
5
2
.
Đây là một tình huống mà học sinh chưa thể thực hiện được ngay. Nhưng
nếu học sinh chịu khó suy nghĩ, vận dụng kiến thức đã học (Cách cấu tạo phân
số) hoặc giáo viên hướng dẫn thì học sinh có thể thực hiện được. Ở đây, giáo
viên muốn học sinh thực hiện câu hỏi trên để dẫn đến cách tính
4
3
x
5
2
.
- Hãy phân tích
5
2
5
2
là bao nhiêu?
Ta có:
4
3
của
5
2
là
20
2
+
20
2
+
20
2
=
20
6
.
- Hãy so sánh
54
32
×
×
với kết quả
4
3
=
54
23
×
×
=
20
6
.
Giáo viên nêu công thức tổng quát:
b
a
×
d
c
=
db
ca
×
×
và yêu cầu học sinh
nêu quy tắc nhân hai phân số, sau đó tổ chức: luyện tập, củng cố.
1.2. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp phát
hiện và giải quyết vấn đề, kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy
học.
Ví dụ trong bài: “ Phép cộng phân số ” (tiếp theo).
Bài toán: “ Có một băng giấp màu, bạn Hà lấy
2
Tri thức mới đó cần có sự kiểm nghiệm kết quả qua nhiều học sinh khác nhau,
cần có sự phát hiện, đóng góp trí tuệ. Tập thể học sinh cần phải đo đạc, thu thập
các số liệu điều tra thống kê.
Ví dụ bài: Diện tích hình thoi.
Yêu cầu tính diện tích hình thoi ABCD, khi biết 2 đường chéo AC = m,
BD = n (hình a)
- Để tìm công thức tính diện tích hình thoi theo độ dài 2 đường chéo, học
sinh có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau:
* Cách 1: Cắt hình tam giác AOD và hình tam giác COD rồi ghép với
hình tam giác ABC để được hình chữ nhật AMNC (hình b).
Ta có: Diện tích(hình thoi ABCD) = diện tích (hình chữ nhật AMNC) = m
×
2
n
=
2
nm ×
.
* Cách 2: Cắt hình tam giác COB và hình tam giác COD rồi ghép với
hình tam giác ABC để được hình chữ nhật MNBD (hình c).
Ta có: Diện tích (hình thoi ABCD) = diện tích (hình chữ nhật MNBD) =
2
m
×
n =
2
nm ×
.
+Nam nhiều hơn Hùng 5.000 đồng. Vậy ta lấy 5 que tính cho Nam trước
rồi chia đôi phần còn lại:! Học sinh lấy 5.000đồng cho nam trước (đặt 5 que tính
vào phần lớn).
- Còn mấy nghìn đồng ? (15.000 – 5.000 = 10.000 đồng).
Trang 10
C
D
A C
DM
- Vậy chia đều cho 2 bạn, mỗi bạn được mấy nghìn ? (10.000 : 2 = 5.000
đồng).
- Bỏ vào hai phần mỗi phần 5.000 đồng (5 que tính)
- Vậy Hùng được mấy nghìn ? (5.000 đồng).
- Còn Nam được mấy nghìn ? (5.000 +5.000 = 10.000 đồng).
- Tương tự hướng dẫn bài toán trên sơ đồ và giải.
1.5. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài
toán phát huy tính trực quan cụ thể trong tư duy của học sinh.
Để giải được các bài toán này giáo viên cần triển khai các hoạt động mang
tính chất thực tiễn, học sinh phải được thao tác trên đồ dùng trực quan. Từ đó
các em sẽ tự phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ bài học.
Ví dụ: Trong bài “Phép cộng phân số”.
Để hình thành phép cộng hai phân số có mẫu số bằng nhau, giáo viên và
học sinh cùng thực hành trên băng giấy
– Chia băng giấy thành 8 phần bằng nhau, bằng cách gấp đôi ba lần theo
chiều ngang:
+ Tô màu vào
8
3
băng giấy
+ Tô màu vào
sang bài tiếp theo.
- Học sinh này có thể làm nhiều bài hơn học sinh khác:
- Ví dụ: Khi dạy bài : “ Tính bằng cách thuận tiện nhất ”
-
5
3
+
10
6
+
10
8
=
5
3
+ (
10
6
+
10
8
) =
5
3
+
10
14
=
10
20
Tổng số
học sinh
Điểm giỏi
(9 - 10)
Điểm khá
(7 - 8)
Điểm Trung
bình (5 - 6)
Điểm yếu
(Dưới 5)
32
TS % TS % TS % TS %
3 9,4 10 31,25 17 53,1 2 6,25
Kết quả kiểm tra cuối HKI năm học 20XX – 20XY:
Tổng số
học sinh
Điểm giỏi
(9 - 10)
Điểm khá
(7 - 8)
Điểm Trung
bình (5 - 6)
Điểm yếu
(Dưới 5)
32
TS % TS % TS % TS %
5 15,6 14 43,75 12 37,5 1 3,1
Kết quả kiểm tra giữa HKII năm học 20XX - 20XY:
Tổng số
học sinh
chất chuẩn bị cơ sở việc giải loại toán sắp học.
- Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài toán phát huy
tính trực quan cụ thể trong tư duy của học sinh.
- Khi dạy thực hành luyện tập Giáo viên cần lưu ý giúp mọi học sinh đều
tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng của mình.
Qua những phương pháp trên, tôi thấy các em đã có hứng thú học tập và vận
dụng vào làm bài tập tương đối tốt. Mặc dù chưa được hoàn thiện, nhưng cũng
chứng tỏ trong các môn học, môn Toán cần có sự đổi mới về phương pháp dạy
học, giúp học sinh phát huy cao tính tích cực trong học tập.
2. Phạm vi áp dụng của đề tài:
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh trong lớp đã nắm bắt kiến thức nhanh
và vận dụng vào làm bài một cách vững vàng. Vì vậy tôi đã cùng với Giáo viên
Trang 14
trong tổ khối 4,5 trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời xây dựng chuyên đề về
môn học này để cùng nhau nâng cao chất lượng môn Toán trong chương trình
học tập ở Tiểu học. Từ đó giúp các em có tri thức trong học tập, để các em tiến
tới các bậc học cao hơn.
3. Bài học kinh nghiệm:
Qua thực tế áp dụng các PPDH trên vào hướng dẫn học sinh học tốt môn
Toán, bản thân tôi đã rút ra những bài học kinh nghiệm cần có hướng phấn đấu:
- Giáo viên phải nắm được toàn bộ chương trình môn Toán lớp 4, nắm vững
kiến thức Toán trong SGK; SGV; chuẩn kiến thức kĩ năng. Có đầy đủ đồ dùng
dạy và học cho giáo viên và học sinh ở các tiết học. có phần củng cố bằng các
trò chơi: “ Trò chơi học Toán ” và chuyển từ kiến thức cũ giúp học sinh khai
thác kiến thức mới một cách hấp dẫn, khoa học. Biết tổ chức các PPDH gắn với
các bài tập thực hành luyện tập. giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới và
vận dụng làm các bài tập một cách chính xác. Đây cũng là cách giúp các em ghi
nhớ lâu những qui tắc và vận dụng giải các bài tập đã học để khi lên lớp trên
Giáo viên nhắc tới những dạng bài tập đó là các em nhớ và vận dụng làm được
ngay. Như vậy sẽ tránh được những em học sinh lên lớp trên mà kiến thức Toán