Mục
MỤC LỤC
Nội dung
1. MỞ ĐẦU
1.1
Lý do chọn đề tài
1.2
Mục đích nghiên cứu.
1.3
Đối tượng nghiên cứu.
1.4
Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1
Cơ sở lí luận
2.2
Thực trạng về vấn đề trước khí áp dụng SKKN
2.3
Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề
Biện pháp 1 Sử dụng phương pháp gợi mở- vấn đáp trong hình
thành kiến thức mới nhằm phát huy tính tích cực hóa
của học sinh.
Biện pháp 2 Sử dụng phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
để tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích
cực hóa của học sinh.
Biện pháp 3 Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong PPDH
dạy học thảo luận nhóm.
Biện pháp 4 Phát huy tính tích cực hóa của học sinh bằng cách sử
dụng tốt đồ dùng trực quan.
16
16
18
18
19
19
19
20
21
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Môn Toán là một môn học có vị trí và nhiệm vụ hết sức quan trọng. Bởi lẽ,
Toán học không những cung cấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cần
thiết để học lên các lớp trên hay áp dụng vào cuộc sống, nó còn là chìa khóa mở
ra sự phát triển của các bộ môn khoa học khác. Môn Toán còn góp phần quan
trọng trong việc hình thành nhân cách ở học sinh và hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu
giáo dục toàn diện.
Muốn học sinh Tiểu học học tốt môn Toán thì mỗi người giáo viên không
phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa,
trong các sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách rập khuôn, máy móc
làm cho học sinh học tập một cách thụ động. Nếu chỉ dạy học như vậy thì việc
học tập của học sinh sẽ diễn ra thật đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không
cao. Đó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo các em
thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với những
- Giúp học sinh phát huy tính tự chủ, sáng tạo làm cơ sở cho các em có vốn kiến
thức học lên lớp trên.
- Giúp người giáo viên xác định đúng vai trò, vị trí, trách nhiệm của người làm
công tác ''trồng người'' nhằm đem lại hiệu quả học tập cao nhất đối với học sinh.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Nga Điền II.
- Học sinh lớp 4A trường Tiểu học Nga Điền II năm học 2016 – 2017.
- Phương pháp dạy học môn Toán theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập
của học sinh.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp
- Phương pháp quan sát, điều tra; Truyền đạt, phỏng vấn giáo viên; Điều tra học
sinh, các loại vở bài tập Toán.
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp kiểm tra, thống kê kết quả.
+ Kiểm tra chất lượng qua các lần kiểm tra, thực hành;
+ Thống kê kết quả ở mỗi lần kiểm tra, thực hành.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
2. NỘI DUNG
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
* Một số khái niệm.
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở
nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh là thay đổi cách dạy
và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo
viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi
là dạy và học tích cực. Trong cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo
viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp
tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự
điều chỉnh cách học. Giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được
tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời
là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị
cho học sinh. [2].
2.2. THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ DẠY VÀ HỌC TOÁN Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC NGA ĐIỀN II.
* Về phía giáo viên
Hầu hết các đồng chí giáo viên trong trường đã tâm huyết với nghề, đã đổi
mới phương pháp dạy học. Trong quá trình dạy học đã thực hiện theo hướng tích
cực hóa hoạt động học tập của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy
tính chủ động của học sinh.
4
Song, vẫn còn một số đồng chí tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm dạy học còn ít,
nên chưa thể đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn dạy học hiện đại. Trong mỗi tiết
dạy vẫn tham nói nhiều, ôm đồm kiến thức và hay làm thay công việc cho học
sinh. Chưa chú trọng thay đổi hình thức, phương pháp dạy sao cho tiết học sinh
động sôi nổi, chỉ cần dạy đúng, đủ nội dung là được. Dẫn đến chất lượng giờ học
Toán chưa cao, chưa phát huy hết khă năng và kích thích tính tư duy của học
sinh.
* Về phía học sinh:
Hầu hết học sinh trong trường đã tiếp cận được cách học theo hướng tích
cực. Trong tiết học đã phát huy tính chủ động. Các em hăng say phát biểu ý
kiến, tích cực thảo luận nhóm. Mặc dù vậy, đối tượng học sinh trong mỗi lớp
không đồng đều, nhiều em tiếp thu chậm. Một bộ phận học sinh chưa chịu khó
học, gia đình lại không quan tâm nên chất lượng chưa cao. Đầu năm học 20162017, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm môn Toán ở lớp 4A , kết quả
TS
%
TS
%
2
6,25
6
18,75
16
50
8
25
Từ kết quả khảo sát cho thấy, việc nắm bắt kiến thức môn Toán của các em
còn nhiều điều bất cập. Qua tìm hiểu, tôi tìm ra nguyên nhân chủ yếu là:
- Trong quá trình dạy học, người giáo viên còn chưa có sự chú ý đúng mức
tới việc làm thế nào để đối tượng học sinh nắm vững được lượng kiến thức.
Giáo viên chưa phát huy được tính tích cực của các em trong khả năng tư duy,
tìm tòi, khám phá tri thức mới .
Loại câu hỏi vấn đáp tái hiện thường được sử dụng khi:
- HS chuẩn bị học bài.
- HS đang thực hành, luyện tập.
- HS đang ôn tập những tài liệu đã học. [3].
Ví dụ: Dạy bài: Tìm số trung bình cộng. (Sách giáo khoa Toán4 - trang 26), sau
khi cho học sinh thực hành luyện tập xong bài tập 1, GV đặt câu hỏi:
Muốn tìm số trung bình cộng của hai số, ta làm thế nào?
Muốn tìm số trung bình cộng của nhiều số, ta làm thế nào?
Học sinh trả lời để khắc sâu kiến thức bài học.
b. Vấn đáp giải thích minh họa.
Được thực hiện khi câu hỏi của GV đưa ra có kèm theo các ví dụ minh họa
(bằng lời hoặc bằng hình ảnh trực quan) nhằm giúp HS dễ hiẻu, dễ ghi nhớ.
Phương pháp này được áp dụng có hiệu quả trong một số trường hợp như khi
GV biểu diễn phương tiện trực quan. Loại câu hỏi này thường được sử dụng khi:
6
- HS đã có những thông tin cơ bản. GV muốn HS sử dụng các thông tin ấy trong
những tình huống mở, phức tạp hơn.
- HS đang tham gia giải quyết vấn đề đặt ra.
- HS đang được cuốn hút vào cuộc thảo luận sôi nổi và sáng tạo. [4].
Ví dụ: Dạy bài: Vẽ hai đường thẳng vuông góc (Sách giáo khoa Toán 4 - trang
50), sau khi hướng dẫn các thao tác vẽ hai đường thẳng song song, sang phần
hướng dẫn thực hành, bài tập 1, GV vẽ lên bảng đường thẳng CD và lấy một
điểm M ngoài đường thẳng CD như hình vẽ trong bài tập 1. GV đặt câu hỏi:
- Bài tập yêu cầu chúng ta làm gì? ( HS trả lời)
- Để vẽ được đường thẳng AB đi qua M và song song với đường thẳng CD,
trước tiên chúng ta phải làm gì? ( HS trả lời)
GV yêu cầu HS thực hiện bước vẽ vừa nêu, giải thích, minh họa cho câu trả
lời của mình,….
- Khi đã tìm được số bé, em hãy tìm số lớn bằng những cách khác nhau?
2/ Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong PPDH vấn đáp - gợi mở.
2/1. Nắm vững quy trình thực hiện PPDH vấn đáp – gợi mở.
a. Trước giờ học:
- Xác định mục tiêu bài học và đối tượng dạy học. Xác định các đơn vị kiến
thức kĩ năng cơ bản trong bài học và tìm cách diễn đạt các nội dung này dưới
dạng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt HS.
- Dự kiến nội dung các câu hỏi, hình thức hỏi, thời điểm đặt câu hỏi, trình tự
của các câu hỏi. Dự kiến nội dung các câu trả lời của HS, trong đó dự kiến
những "lỗ hổng" về mặt kiến thức cũng như những khó khăn, sai lầm phổ biến
mà HS thường mắc phải. Dự kiến các câu nhận xét hoặc trả lời của GV đối với
HS.
- Dự kiến những câu hỏi phụ để tùy tình hình từng đối tượng cụ thể mà tiếp
tục gợi ý, dẫn dắt HS.
b. Trong giờ học:
- GV sử dụng hệ thống câu hỏi dự kiến (phù hợp với trình độ nhận thức của
từng loại đối tượng HS) trong tiến trình bài dạy và chú ý thu thập thông tin phản
hồi từ phía HS.
c. Sau giờ học
- Giáo viên chú ý rút kinh nghiệm về tính rõ ràng, chính xác và trật tự logic
của hệ thống câu hỏi đã được sử dụng trong giờ dạy.
2/2. Áp dụng phương pháp vấn đáp – gợi mở để phát huy tính tích cực
hóa học tập của học sinh.
Trong quá trình dạy học, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu kiến thức
mới bằng một hệ thống câu hỏi phù hợp. Tổ chức các hoạt động dạy học nhằm
chuyển giao ý đồ sư phạm của thầy thành nhiệm vụ học tập của trò.
Trong bài: “Phép nhân phân số”, việc hình thành phép tính nhân của 2 phân
số
3
Cụ thể:
2
thành tổng của 4 phân số bằng nhau?
5
3
2
- Từ kết quả phân tích được, hãy cho biết của là bao nhiêu?
4
5
3× 2
- Hãy so sánh kết quả vừa tìm được với kết quả của
4×5
- Hãy phân tích
Sau khi học sinh thực hiện, giáo viên cụ thể hóa lại cho học sinh theo cách
sau:
2
8
2
2
2
2
2× 4
=
=
=
+ + + . ( Chia
×
=
=
.
4×5
4
5
20
a
c
a×c
×
Giáo viên nêu công thức tổng quát:
=
và yêu cầu học sinh
b×d
b
d
Vậy cách tính
2
3
của là
4
5
nêu quy tắc nhân hai phân số, sau đó tổ chức luyện tập, củng cố.
* Lưu ý.
Khi soạn các câu hỏi, GV cần lưu ý các yêu cầu sau đây:
- Giải thích và chính xác hóa tình huống để hiểu đúng vấn đề được đặt ra.
- Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó.
Bước 2: Tìm giải pháp:
Tìm cách giải quyết vấn đề, thường được thực hiện theo sơ đồ sau:
- Phân
tích vấn đề:
làm rõ mối
liên hệ giữa
cái đã biết và
cái cần tìm
(dựa
vào những tri
thức đã học,
liên tưởng tới
kiến
thức
thích hợp)
- Đề xuất
và
thực
hiện
hướng giải
quyết vấn đề:
Cần thu thập,
tổ
chức dữ liệu,
huy động tri thức; sử dụng những phương pháp, kĩ thuật nhận thức, tìm đoán suy
luận như hướng đích, quy lạ về quen, đặc biệt hóa, chuyển qua những trường
10
mẫu số và rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh.
Sau khi yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài, giáo viên hướng dẫn giải như sau:
+ Muốm biết cả 2 bạn lấy bao nhiêu phần băng giấy, ta cần thực hiện phép
tính gì? (phép cộng:
1
1
+ ).
2
3
+ Em hãy nhận xét mẫu số của hai phân số trong phép tính.
+ Em hãy tìm cách biến đổi để hai phân số trên có mẫu số bằng nhau.
Việc yêu cầu học sinh tính tổng hai phân số khác mẫu số là một tình huống
gợi vấn đề. Giáo viên yêu cầu học sinh tìm cách cộng bằng cách biến đổi hai
phân số trên thành hai phân số có cùng mẫu số. Đó chính là cách quy đồng mẫu
số, sau đó cộng hai phân số cùng mẫu số. Từ đó, học sinh có thể giải quyết vấn
đề.
Như vậy, giáo viên đã sử dụng phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
kết hợp với PPDH vấn đáp để tổ chức hoạt động dạy học hình thành phép cộng 2
phân số khác mẫu số.
11
* Lưu ý:
- Không nên yêu cầu học sinh tự khám phá tất cả các tri thức quy định trong
chương trình.
- Cho HS phát hiện và giải quyết vấn đề đối với một bộ phận nội dung học
tập, có thể có sự giúp đỡ của GV với mức độ nhiều ít khác nhau.
- Các vấn đề, tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu
A
C
Ta có: Diện tích (hình thoi ABCD) = diện tích (hình chữ nhật AMNC)
=m×
n
m×n
=
.
2
2
Cách 2: Cắt hình tam giác COB và hình tam giác COD rồi ghép với hình
tam giác ABC để được hình chữ nhật MNBD
N
B
A
O
M
D
* Ta có:
Diện tích hình thoi ABCD = diện tích hình chữ nhật MNBD =
Tùy theo nhiệm vụ học tập, HS có thể sử dụng hình thức làm việc cá nhân hoặc
hoạt động nhóm cho phù hợp, không nên thực hiện PPDH này một cách hình
thức.
- Hoạt động nhóm cần đề phòng xu hướng hình thức.
- Trong suốt quá trình HS thảo luận, GV cần đến các nhóm, quan sát, lắng
nhe, gợi ý, giúp đỡ HS khi cần thiết.
* Kết luận:
- Khi hợp tác nhóm nhỏ, học sinh được nêu quan điểm của mình, được nghe
quan điểm của bạn khác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý
kiến khác nhau và đưa ra lời giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm. Qua
cách học đó, kiến thức của HS sẽ bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính
khách quan khoa học, tư duy phê phán của HS được rèn luyện và phát triển.
- Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm,
hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi
lẫn nhau. Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do
được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham gia trao đổi,
trình bày vấn đề nêu ra. HS hào hứng khi có sự đóng góp của mình vào thành
công chung của cả lớp.
- Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên HS, đặc biệt là những em nhút nhát,
trở nên bạo dạn hơn; các em học được trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe
có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp HS dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm,
tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt.
- Vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của HS thêm phong phú; kĩ năng giao
tiếp, kĩ năng hợp tác của HS được phát triển.
Biện pháp 4. Sử dụng tốt đồ dùng trực quan nhằm phát huy tính tích cực
hóa của học sinh.
15
8
8
8
8
Kết luận: Nêu được cách cộng hai phân số bằng cách lấy tử số cộng với
nhau và giữ nguyên mẫu số.
Tóm lại: Nhờ có đồ dùng trực quan, chúng ta đã chuyển bài toán từ trừu
tượng, khó hiểu đến cái cụ thể giúp học sinh nắm bắt kiến thức một cách nhẹ
nhàng nhưng hiệu quả rất cao. Những vấn để mà học sinh đã được kiểm chứng
trực quan sinh động sau đó chuyển thành tư duy trừu tượng thì học sinh sẽ nhớ
kĩ, nhớ lâu.
Biện pháp 5. Giúp học sinh tìm hiểu kiến thức mới bằng cách giải các bài
toán có tính chất chuẩn bị.
Giải các bài toán có tính chất chuẩn bị này, học sinh có thể tính ra được
kết quả dễ dàng nhằm tạo điều kiện cho các em tập trung suy nghĩ vào các mối
quan hệ toán học và các từ mới chứa trong đầu bài toán:
Ví dụ : Để chuẩn bị cho việc học loại toán: “Tìm 2 số biết tổng và hiệu của
2 số đó”. Có thể cho học sinh giải bài toán sau: “Hoa và Lan có tất cà 30.000
đồng, Hoa có nhiều hơn Lan 10.000 đồng. Hỏi mỗi bạn có bao nhiêu tiền?
- Tổ chức cho học sinh làm việc trên đồ dùng học tập:
+ Mỗi học sinh lấy 30 que tính (tượng trưng cho 30.000 đồng). Chia bảng
con làm 2 phần, phần lớn là số tiền Hoa của , phần nhỏ là số tiền của Lan.
+ Hoa nhiều hơn Lan 10000 đồng. Vậy ta lấy 10 que tính cho Hoa trước
rồi chia đôi phần còn lại: Học sinh lấy 10.000 đồng cho Hoa trước (đặt 10 que
tính vào phần lớn).
- Lấy đi 10 000 đồng tức là làm phép tính gì?
- Còn mấy nghìn đồng ? (30000 – 10000 = 20000 đồng).
16
Cách 2:
25 x 3 x 4 = 25 x 4 x 3
= 100 x 3
= 300
Khi giải bài này, có thể một số em vẫn thực hiện theo thứ tự của các phép
tính trong biểu thức, ra kết quả đúng nhưng chưa nhanh và chưa hợp lí (Cách 1).
Giáo viên nên hướng dẫn học sinh các tính chất đã học của phép nhân để tìm ra
cách giải thuận tiện. (Cách 2)
Bởi vậy, trong bài luyện tập của phép nhân thì giáo viên phải dẫn dắt học
sinh nhớ lại kiến thức đã học đó là:
17
+ Tính chất giao hoán của phép nhân.
+ Tính chất kết hợp của phép nhân.
+ Tính chất nhân một số với một tổng (Hoặc một tổng nhân với một số).
+ Tính chất nhân một hiệu với một số (Hoặc một số nhân với một hiệu).
Học sinh phải vận dụng nhanh các tính chất này vào giải toán: Khi nào vận
dụng tính chất này, khi nào vận dụng tính chất kia:
Tóm lại: Khi vận dụng phương pháp này, chúng ta phát huy được tối đa năng
khiếu của từng em. Tiết kiệm thời gian cho học sinh. Đây là một bước tiến trong
dạy luyện tập thực hành của môn toán.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Được sự hướng dẫn tận tình của Ban giám hiệu nhà trường, sự phối hợp tích
cực của tổ chuyên môn 4 + 5 cùng với ý thức trách nhiệm đối với học sinh, tôi
đã nghiên cứu, thử nghiệm đề tài: Một số biện pháp dạy học môn Toán lớp 4
theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh ” và đã thu được kết
quả rất khả quan. Qua một năm học, tôi thấy chất lượng học sinh dần dần được
nâng cao. Học sinh đã tự giác, hứng thú, chủ động và tích cực tham gia các hoạt
động học tập, không rụt rè, tự ti như trước nữa. Chất lượng học sinh ngày một
TS
0
%
0
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
* KẾT LUẬN:
Là giáo viên tiểu học, tôi nhận thấy trong dạy môn Toán lớp 4 nói riêng và
các môn học khác nói chung, giáo viên cần phải nghiên cứu nội dung, vận dụng
các phương pháp dạy học phù hợp, truyền thụ một cách có hệ thống các bài học.
Đặc biệt lấy học sinh làm trung tâm, khuyến khích các em tìm tòi và tự rút ra kết
luận cho mình. Có như vậy các em mới nhớ kỹ, nhớ lâu, nắm chắc kiến thức và
18
biết phát huy khả năng và giải toán thành thạo. Vì vậy bước đầu đã có kết quả
khả quan trong giảng dạy môn Toán lớp 4.
Trong khi lên lớp giáo viên cần nói ít, giảng giải ít, thường xuyên làm việc
với từng cá nhân, nhóm học sinh và lớp. Để thực hiện được tốt nhiệm vụ của
từng tiết học, giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để lớp
học sôi nổi hào hứng, học sinh hăng hái phát biểu nắm chắc bài học, học sinh
hiểu bài mới đạt kết quả cao. Tuy môn toán là môn học khô khan nhưng nó hoạt
động trí tuệ sáng tạo và hấp dẫn thực tế đối với học sinh.
Đề tài được thử nghiệm trong phạm vi một trường Tiểu học không thể tránh
khỏi những hạn chế, rất mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo các
cấp quản lý giáo dục, các bạn bè đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn nữa và
đem lại hiệu quả giáo dục cao hơn.
20
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP
LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT
VÀ CÁC CẤP CAO HƠN. ĐÁNH GIÁ ĐẠT TỪ LOẠI C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
Nguyễn Thị Tuyển
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên – Trường TH Nga Điền 2– Nga Sơn.
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
Một vài biện pháp giúp học sinh
lớp 4-5 tại Trường Tiểu học Nga
Điền II giải các bài toán có liê
quan đến phân số.
Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5
trường Tiểu học Nga Điền II học
tốt dạng toán chuyển động đều.
Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Kết quả
đánh giá
xếp loại (A,
B, hoặc C)
Năm học
đánh giá xếp
loại
Phòng
GD&ĐT
C
2006- 2007
Phòng
B
2012-2013
Phòng
GD&ĐT
B
2013- 2014
Phòng
GD&ĐT
C
2014-2015
Phòng
GD&ĐT
C
2015-2016
21