I. Lý thuyết chung về phá sản
1.1. Khái niệm
Điều 3 Luật Phá sản quy định: Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được
các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.
Như vậy, bản chất của tình trạng phá sản là tại một thời điểm nhất định, doanh nghiệp, hợp
tác xã mất khả năng thanh toán.
1.2. Dấu hiệu phá sản
- Khi doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ trong 2 năm liên tiếp đến mức không trả được các
khoản nợ đến hạn.
- Không trả đủ lương cho người lao động trong ba tháng liên tiếp.
II. Hậu quả của phá sản
2.1. Hậu quả chung của phá sản
• Tích cực
Phá sản là sự đào thải, sàng lọc các Doanh nghiệp yếu kém, làm ăn không hiệu quả khỏi bộ
máy kinh tế quốc gia, đó cũng là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường.
• Tiêu cực
- Về mặt kinh tế:
+ Một doanh nghiệp bị phá sản trong điều kiện ngày nay có thể dẫn đến những tác động tiêu
cực.
+ Khi quy mô của doanh nghiệp phá sản càng lớn, tham gia vào quá trình phân công lao động
của ngành nghề đó càng sâu và rộng, số lượng bạn hàng ngày càng đông, thì sự phá sản của
nó có thể dẫn đến sự phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp bạn hàng theo "hiệu ứng
domino" - phá sản dây chuyền.
+ Với một nền kinh tế có quá nhiều doanh nghiệp phá sản, đặc biệt đối với nước ta khi yêu cầu
có một môi trường kinh doanh ổn định nhằm thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư từ nước ngoài
thì việc có tới hàng chục nghìn doanh nghiệp phá sản trong một năm cũng gây ảnh hưởng
không nhỏ đến cái nhìn của các nhà đầu tư đối với môi trường kinh doanh trong nước.
+ Việc nhiều lao động mất việc, không có thu nhập khiến cho sức tiêu thụ hàng hóa trên thị
trường giảm, khiến cho nền kinh tế trì trệ.
- Về mặt xã hội:
Phá sản doanh nghiệp để lại những hậu quả tiêu cực nhất định về mặt xã hội bởi nó làm tăng
thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã; không được làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã
trong thời hạn từ 1 đến 3 năm kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản.
III. Các giải pháp cần thiết đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Phá sản doanh nghiệp bao giờ cũng kéo theo những hậu quả kinh tế xã hội nhất định cần
phải được hạn chế và ngăn chặn đến mức tối đa. Hậu quả rõ nét nhất khi một doanh nghiệp tuyên
bố phá sản là người lao động mất việc làm, các chủ nợ có nguy cơ không thu hồi được hết phần
nợ của mình còn các chủ sở hữu. các cổ đông phải đối diện với nguy cơ “trắng tay” do họ là đối
2
tượng được thanh lý tài sản sau cùng. Chính vì vậy việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp là rất
quan trọng. Sau đây là một vài hướng đi, giải pháp cho doanh nghiệp :
1. Doanh nghiệp phải chủ động vươn lên trước hết bằng chính sức lực của mình
a. Gia hạn nợ
- Sau khi thực hiện các biện pháp phục hồi kinh doanh, doanh nghiệp hãy đến gặp các chủ nợ và
xin họ gia hạn các khoản nợ, và trì hoãn việc yêu cầu tòa mở thủ tục phá sản doanh nghiệp.
- Để thuyết phục được các chủ nợ, hãy trình bày kế hoạch trên với họ
- Tiếp theo là phải nỗ lực thực hiện thành công kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh.
+) Nếu thành công, doanh nghiệp sẽ thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính.
+) Ngược lại, DN sẽ phải tiến hành các thủ tục phá sản theo luật định hoặc một cách tự
nguyện hoặc do các chủ nợ yêu cầu.
b. Giảm bớt mức trả nợ
- Đây là một sự thỏa thuận của doanh nghiệp và chủ nợ mà chủ nợ đồng ý nhận ít hơn khoản nợ
đã cho doanh nghiệp vay dưới một hình thức tài trợ nào đó.
- Đây cũng là một giải pháp rất tốt, bởi nếu doanh nghiệp vẫn còn đủ khả năng tài chính để đối
phó với những khoản nợ nhỏ hơn thì doanh nghiệp sẽ được cứu vãn, nếu không thì cũng hạn chế
tổn thất cho DN.
c. Thanh lý dưới hình thức tự nguyện
- Thanh lý doanh nghiệp là giải pháp thích hợp khi một doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả
năng trả nợ và không có cơ hội phục hồi
- Thanh lý tài sản có thể được thực hiện dưới hình thức phá sản hoàn toàn hoặc theo một sự thỏa
thuận tự nguyện. Theo hình thức này thì toàn bộ tài sản cuả doanh nghiệp sẽ được giao lại cho
tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó, có một sự liên hệ rất
chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ
vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi suất cao thì thị trường
giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp.
Thứ hai ngày 15 tháng 9 năm 2008, sau khi những nỗ lực huy động vốn bị thất bại do
Chính phủ Mỹ từ chối bảo lãnh, Lehman Brothers, ngân hàng đầu tư hàng đầu trên thế giới với
4
158 năm lịch sử và trên 26000 nhân viên, tuyên bố phá sản. Vụ phá sản của Lehman Brothers đẩy
80 chi nhánh trên toàn thế giới của ngân hàng này lâm vào cảnh đóng cửa.
Tổng số tiền nợ của Lehman Brothers lên tới 768 tỉ đô la (bao gồm 613 tỉ đô la nợ ngân
hàng và 155 tỉ đô la nợ trái phiếu). Giá trị tài sản xác định trên giấy tờ là 639 tỉ đô la, bao gồm
nhiều tài sản mà giá trị thực tế có thể thấp hơn nhiều giá trị sổ sách. Cho đến cuối năm 2007,
doanh thu của công ty còn là 59 tỉ đô la với 4,2 tỉ lãi ròng.
4.2. Hậu quả sự sụp đổ của Lehman Brothers
4.2.1. Về kinh tế - tài chính
Thứ nhất, cái chết của Lehman gây ảnh hưởng lớn cho thị trường tài chính. Sự sụp đổ
của Ngân hàng Lehman Brothers - “ngòi nổ” của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
Một làn sóng khủng hoảng niềm tin lan rộng toàn cầu sẽ tạo ra làn sóng bán tháo chứng
khoán. Hàng loạt đối tác cung cấp vốn cho Lehman kể cả các cổ đông có thể chịu các khoản tổn
thất nặng nề. Với quy mô tài sản trên 600 tỷ USD và hàng ngàn tỷ USD hợp đồng phái sinh, việc
thanh lý tài sản sẽ vô cùng khó khăn và làm giá chứng khoán và bất động sản càng thêm suy
giảm. Các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu và cho vay hoặc các hợp đồng phái sinh với Lehman sẽ
chịu các khoản lỗ lớn.
Mặc dù cái tên Lehmen Brothers đã bị xóa trên bản đồ tài chính ngân hàng thế giới từ
ngày 15/9/2008, song hậu quả của nó đối với nền kinh tế thế giới cho đến nay vẫn chưa thể khắc
phục hết, vì phía sau khủng hoảng tài chính là khủng hoảng kinh tế. Nhu cầu về tín dụng cạn kiệt,
khả năng cung cấp vốn của các ngân hàng giảm. Các nhà sản xuất gặp khó khăn khi phải giải tỏa
một khối lượng lớn hàng tồn đọng. Điều này dẫn đến sự đình trệ trong sản xuất, khiến khu vực
việc làm bị ảnh hưởng đột ngột và mạnh mẽ.
Nhiều công ty lớn, vốn từng là đối tác hoặc nhà đầu tư của Lehman Brothers, là những
Đại Suy Thoái kinh tế vào những năm 1930 của thế kỉ trước. Sẽ có thêm nhiều ngân hàng đầu tư
khác sẽ bị sụp đổ trong thời gian tới.
4.2.2. Xã hội
Kể từ tháng 8 năm 2007 đến hết tháng 8 năm 2008, trên 770000 căn nhà ở Mỹ bị ngân
hàng xiết nợ do các gia đình không đủ khả năng trả nợ tiền vay mua nhà. Cuộc khủng hoảng bất
động sản cũng khiến hàng trăm ngàn người mất việc làm.
6
Theo thống kê của chính phủ Mỹ, nền kinh tế Mỹ mất 605000 việc làm trong 8 tháng đầu
năm 2008, đẩy tỉ lệ thất nghiệp lên 6.1%, cao nhất trong năm năm trở lại đây. Sự mất giá của các
tài sản nhà đất cũng sẽ đẩy tỉ lệ nợ trên tài sản sở hữu của người tiêu dùng Mỹ lên cao hơn con số
18% hiên nay, bắt buộc họ phải thắt chặt hầu bao. Sự thay đổi thói quen tiêu dùng này sẽ tác
động lớn lên nền kinh tế Mỹ vốn phụ thuộc chính vào tiêu dùng nội địa, cũng như nền kinh tế của
các quốc gia xuất khẩu vào Mỹ.
4.2.3. Chính trị
Khoản tiền cứu trợ 700 tỉ đô la, chưa kể hàng trăm tỉ đô la chính phủ Mỹ đã chi trong năm
qua nhằm cứu nguy cho các công ty bất động sản, tài chính và ngân hàng, sẽ là gánh nặng lớn đối
với ngân sách của chính phủ Mỹ trong nhiệm kì tới.
Hiện tại, chưa kể những khoản tiền cứu trợ này, thâm hụt ngân sách trong năm 2008 đã
ước tính lên tới con số 482 tỉ đô, cao nhất trong lịch sử, và số tiền nợ của chính phủ Mỹ đã lên tới
con số kỉ lục trên 9.600 tỉ đô là, tương đương khoảng 60% Tổng thu nhập Quốc dân của Mỹ.
Gánh nặng ngân sách và đòi hỏi phải cấp tốc cải cách bộ máy chính quyền, phục hồi hệ
thống tài chính – ngân hàng, sẽ hạn chế chính phủ mới của Mỹ trong việc theo đuổi các chương
trình quốc nội và các cam kết quốc tế, đặc biệt là khả năng duy trì hai cuộc chiến tranh tại
Afghanistan và Iraq.
4.2.4. Đối với chính Lehman Brothers
Trong bối cảnh đó, sự kiện ngân hàng đầu tư Lehman Brothers mất hàng chục tỉ USD giá
trị cổ phiếu chỉ trong vài ngày không chỉ chấn động và làm đảo lộn thị trường tài chính Wall
Street, mà nhanh chóng tạo nên cơn địa chấn toàn cầu, đẩy cuộc khủng hoảng lên tới đỉnh điểm
mới.
Từ mức vốn hóa 45 tỷ USD vào đỉnh điểm 2007, giờ đây giá trị của Lehman gần như về