So sánh pháp luật của cộng hòa dân chủ nhân dân lào và cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa - Pdf 31

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
----000----

Somdeth KEOVONGSACK

SO SáNH PHáP LUậT CủA Cộng HòA DÂN CHủ NHÂN DÂN LàO
Và Cộng HòA Xã HộI CHủ NGHĩA VIệT NAM Về BảO Hộ
NHãN HIệU HàNG HóA

LUN N TIN S LUT HC

H NI - 2014


[[

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
----000----

Somdeth KEOVONGSACK

SO SáNH PHáP LUậT CủA Cộng HòA DÂN CHủ NHÂN DÂN LàO
Và Cộng HòA Xã HộI CHủ NGHĩA VIệT NAM Về BảO Hộ
NHãN HIệU HàNG HóA

Chuyờn ngnh : Lut Kinh t
Mó s

: 62 38 01 07


NHCN

Nhãn hiệu chứng nhận

NHHH

Nhãn hiệu hàng hóa

NHNT

Nhãn hiệu nổi tiếng

NHTT

Nhãn hiệu tập thể

SHCN

Sở hữu công nghiệp

SHTT

Sở hữu trí tuệ

WIPO

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới

WTO



CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HỘ NHÃN HIỆU
HÀNG HÓA CỦA LÀO TRONG SỰ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
VIỆT NAM ..................................................................................................... 69
3.1. Điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa ...................................... 70
3.2. Thực trạng pháp luật về xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa .... 73
3.2.1. Nguyên tắc xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa .............. 73
3.2.2. Thực trạng áp dụng quy định về xác lập quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa ..................................................................... 74
3.3. Thực trạng quy định pháp luật về chủ sở hữu, nội dung quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa ............................................................................... 83
3.3.1. Chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa.................................................. 83
3.3.2. Nội dung quyền sở hữu đối với nhãn hiệu hàng hóa .................. 84
3.4. Bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa ............................................ 88
3.4.1. Khái quát chung về bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa ..................................................................... 88
3.4.2. Quy định pháp luật về bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa ..................................................................... 91
3.4.3. Thực trạng các cơ quan bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa ..................................................................... 117
Kết luận chƣơng 3 ....................................................................................... 121
CHƢƠNG 4: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU
HÀNG HÓA TỪ KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM ............................. 123
4.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ...... 123
4.2. Kinh nghiệm của Việt Nam trong việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ... 125
4.2.1. Kinh nghiệm trong việc ban hành văn bản pháp luật về
bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ....................................................... 125


1998 và ký Hiệp định song phương về đầu tư thương mại với nhiều quốc gia
trong khu vực và thế giới. Đặc biệt nhất là ngày 3/2/2013 vừa qua Lào đã trở
thành thành viên thứ 158 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Đây có thể
được coi là thời khắc lịch sử trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế của Lào.
Trước khi gia nhập WTO, Chính phủ Lào cũng đã có nhiều cố gắng trong
việc cải cách hệ thống luật pháp và thể chế để đảm bảo cho nhân dân Lào có
được các điều kiện cần thiết nhằm thu được những tiềm năng kinh tế và lợi
ích từ quá trình phát triển. Chính phủ Lào tin rằng, việc gia nhập WTO sẽ
giúp thúc đẩy phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh tăng trưởng
kinh tế quốc gia. Ngoài ra, việc gia nhập WTO sẽ giúp mở đường để Lào có
thể thực hiện được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2020.
Trước những tiềm năng thuận lợi và thành công trong việc đàm phán gia
nhập WTO, thách thức và những khó khăn lớn đang ở phía trước Lào là phải
thực hiện đầy đủ và hiệu quả các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, đặc
biệt nhất là Lào phải xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT)
tuân thủ đầy đủ và hiệu quả theo quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên
1


quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs).
Trong khi đó, Lào cũng không khác với các nước đang phát triển khác,
tình trạng vi phạm quyền SHTT ở thị trường trong nước vẫn đang diễn ra
ngày càng gia tăng trên nhiều lĩnh vực khác nhau với các hành vi vi phạm đa
dạng và phức tạp, nhất là hàng hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng
hóa (NHHH). Bởi vì Lào có biên giới với các nước láng giềng hoàn toàn là
trên đất liền cho nên việc vận chuyển hàng hóa vi phạm quyền SHTT qua lại
biên giới và lưu thông trên thị trường của Lào là rất khó kiểm soát và trở nên
ngày càng gia tăng. Những gia tăng và lan rộng của hàng hóa vi phạm quyền
SHTT tại Lào là do nhận thức và hiểu biết của các doanh nghiệp, người tiêu
dùng lẫn cán bộ nhà nước từ Trung ương đến địa phương vẫn còn hạn chế về

đòi hỏi của thực tiễn khách quan xuất phát từ các điểm bất cập chính sau:
- Hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHTT chưa đáp ứng được tính đầy đủ
và hiệu quả theo đòi hỏi của Hiệp định TRIPs.
- Hoạt động thực thi bảo hộ quyền SHTT của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền chưa có hệ thống và biện pháp đồng bộ.
- Việc xử lý các vụ xâm phạm quyền SHTT của các cơ quan chức năng
còn thiếu nghiêm túc, mức xử phạt còn thấp, không đủ răn đe người vi phạm.
- Năng lực và kiến thức về SHTT nói chung và NHHH nói riêng của cán
bộ chuyên môn còn hạn chế, nhận thức của cộng đồng xã hội còn chưa cao.
Tình trạng này đã làm cho việc bảo hộ NHHH ở Lào chưa đạt được kết quả
cao, gây nản lòng cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Phải thừa nhận rằng, trên thực tế có rất nhiều cách để xây dựng hệ thống
bảo hộ quyền SHTT một cách có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của các điều
ước quốc tế và tương đồng với pháp luật của các nước trong khu vực. Trong
đó, cách nhanh chóng và hiệu quả nhất là tăng cường việc học hỏi kinh
nghiệm của quốc gia tiên phong như Việt Nam là rất quan trọng và bổ ích đối
3


với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ NHHH của Lào. Bởi vì, Việt
Nam và Lào là hai nước láng giềng thân thiết, có hệ thống chính trị cũng như
hệ thống pháp luật tương đồng, Việt Nam cũng là một trong những nước đứng
đầu về đầu tư nước ngoài tại Lào, hệ thống bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam
được xây dựng ngày càng hoàn thiện và được củng cố một cách tích cực để
thực hiện đầy đủ và hiệu quả các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài: “So sánh pháp luật của Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo
hộ nhãn hiệu hàng hóa” sẽ góp phần giải quyết được nhiều vấn đề lý luận và
thực tiễn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ NHHH của Lào,
nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu và người tiêu dùng, cũng

liên quan. Nghiên cứu những hoạt động bảo hộ NHHH của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền của Lào và Việt Nam.
Về mặt thời gian, luận án tập trung nghiên cứu pháp luật bảo hộ NHHH
của Lào từ năm 1995, đến hết 6 tháng đầu năm 2014 và đưa ra phương hướng
hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH của Lào đến năm 2020.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, tác
giả luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa
học pháp lý, như: Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu tại chương 2;
Phương pháp phân tích pháp luật được sử dụng chủ yếu tại chương 2 và
chương 3; Phương pháp so sánh pháp luật được sử dụng chủ yếu tại chương 2
và chương 3; Phương pháp đánh giá pháp luật được sử dụng chủ yếu tại
chương 2 và chương 3; Phương pháp tổng hợp được sử dụng ở tất cả các
chương của luận án để chỉ rõ những điểm tương đồng, điểm khác biệt và điểm
cần khắc phục của hệ thống pháp luật bảo hộ NHHH của Lào.
Để thực hiện các phương pháp trên, tác giả luận án sử dụng các tài liệu
5


pháp luật trong và ngoài nước, văn bản hành chính, bài nghiên cứu của các
nhà khoa học, sách, báo khoa học, báo pháp luật và những số liệu thống kê
của các cơ quan chức năng của Lào và Việt Nam và các tài liệu khác từ quá
trình tham gia hội nghị, cuộc họp khoa học về NHHH.
4. Những đóng góp mới của luận án
Đề tài này là công trình chuyên khảo đầu tiên đi sâu nghiên cứu một
cách toàn diện các quy định pháp luật bảo hộ NHHH của Lào trên cơ sở so
sánh và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp
luật bảo hộ NHHH của Việt Nam. Luận án đã có một số đóng góp mới đối với
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH của Lào, cụ thể như:
- Luận án đã tổng hợp và phân tích, đánh giá tổng quan các công trình

là môn học Luật so sánh. Luận án cũng có tính thời sự trong thực tiễn pháp lý
ở Lào và Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu và các kiến nghị của luận án có ý nghĩa quan trọng
góp phần hoàn thiện pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền SHTT nói chung và
bảo hộ NHHH nói riêng của Lào nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hóa và hiện đại hóa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
phần nội dung của luận án được cấu trúc thành bốn chương.
- Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
- Chương 2. Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa.
- Chương 3. Thực trạng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của Lào
trong sự so sánh với pháp luật Việt Nam.
- Chương 4. Những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa từ kinh nghiệm của
Việt Nam.
7


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu lý luận về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
- Tình hình nghiên cứu lý luận về nhãn hiệu hàng hóa:
Qua tìm hiểu một số tài liệu qua các kênh hiện có cho thấy, ở nước ngoài
cũng như ở Việt Nam việc nghiên cứu lý luận về NHHH luôn được các tác
giả, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó đáng chú ý nhất là các
công trình: “Philosophical and doctrinal foundations: Traditional and
contemporary functions of trademarks”, của RAVEEN Obhrai (12 J.
Contemp. Legal Issues 16 (2001)); “A New Economics of Trademarks” của
David W. Barnes (5 Nw. J, Tech. & Intell. Prop. 22 (2006)); Các công trình

như phân biệt NHHH với thương hiệu, phân biệt NHHH với nhãn hàng hóa,
phân biệt NHHH với chỉ dẫn địa lý.
Ngoài luận án tiến sĩ trên, còn có một số công trình, các bài nghiên cứu
đề cập đến lý luận về NHHH được công bố của Vũ Thị Hải Yến về “Khái
niệm NHHH trong Bộ luật dân sự”, Tạp chí Luật học số 3/2003, tr.86-91; Lê
Hồng Hạnh về “Các khái niệm chuẩn xác - Điều kiện tiên quyết cho việc giải
quyết có hiệu quả tranh chấp SHCN”, Tạp chí Luật học số 6/2004, tr.43-49;
Lê Mai Thanh về “Nhãn hiệu và các khái niệm pháp lý khác có liên quan”,
Tạc chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2006, tr.56-58; Đàm Thị Diễm Hạnh về
“Xây dựng khái niệm nhãn hiệu trong Luật SHTT”, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp số 8 tháng 4/2010 (169), tr.56-59; Lê Hồng Hạnh về “Thương hiệu hay
nhãn hiệu”, Tạp chí Luật học số 6/2003, tr.19-25; Nguyễn Thị Quế Anh về
“Phân loại nhãn hiệu theo hình thức của nhãn hiệu”, Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN, Luật học 26 (2010), tr.99-107. Các công trình này chủ yếu nghiên
cứu lý luận về NHHH dưới nhiều khía cạnh khác nhau như nghiên cứu, phân

9


tích khái niệm NHHH theo quy định pháp luật Việt Nam, phân biệt NHHH
với các đối tượng khác có liên quan và phân loại NHHH.
- Tinh hình nghiên cứu lý luận về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa:
Ngoài những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về NHHH nói
trên, qua tìm hiểu một số tài liệu hiện có thì có rất nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết đề cập đến lý luận về bảo hộ NHHH. Có thể nói là vấn đề bảo hộ
NHHH là vấn đề trọng tâm về NHHH được các nhà nghiên cứu, các tác giả
trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong đó nổi bật nhất là: “The
International Protection of Trademarks after the TRIPs agreement” của
Joanna Schmidt-Szalewski (9 Duke J.Comp. & Int’l L. 189 (1998));
“Trademark Protection in China: Trends and Directions” của Paul B. Birden

tỏ cơ sở lý luận về dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu.
Ngoài ra, tác giả còn khảo sát khung pháp lý và thực tiễn áp dụng dấu hiệu
mang chức năng trong pháp luật nhãn hiệu của Hoa Kỳ và Châu Âu. Sau đó,
tác giả xây dựng, đưa ra các kiến nghị về việc quy định dấu hiệu mang chức
năng trong pháp luật nhãn hiệu tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ Luật học “Hết
quyền đối với nhãn hiệu và những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật nhãn
hiệu của Việt Nam” của nghiên cứu sinh Nguyễn Như Quỳnh [56]. Công trình
này nghiên cứu và làm rõ những vấn đề về hết quyền đối với nhãn hiệu trên
cơ sở khai thác các khía cạnh lý thuyết pháp lý và thực tiễn của hết quyền đối
với nhãn hiệu theo quy định của Hiệp định TRIPs, pháp luật và thực tiễn của
Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam. Ngoài ra, tác giả đã so sánh mức độ tương
đồng và khác biệt giữa pháp luật cũng như thực tiễn của Việt Nam với Hoa
Kỳ và Châu Âu. Trên cơ sở đó, đưa ra các kiến nghị cho Việt Nam trong việc
hoàn thiện pháp luật về hết quyền đối với nhãn hiệu.
Riêng về công trình nghiên cứu lý luận về bảo hộ NHHH ở Lào trong
những năm qua là rất khiêm tốn. Vấn đề lý luận về bảo hộ NHHH chỉ được đề
11


cập tại một số luận văn thạc sĩ của các tác giả Lào như: Luận văn thạc sĩ của
Somdeth KEOVONGSACK (2009) “Lao PDR Trademark Protection in
Context”, trong luận văn của mình tác giả đã khái quát về khái niệm NHHH, thủ
tục xác lập quyền đối với NHHH. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra cách thức giải
quyết tranh chấp và xử lý các hành vi xâm phạm NHHH, tìm hiểu về khó khăn,
vướng mắc trong việc giải quyết tranh chấp và xử lý các hành vi xâm phạm
NHHH tại Lào, từ đó đưa ra giải pháp và phương hướng hoàn thiện pháp luật
Lào về bảo hộ NHHH; Bài viết của Souligna SISOMNUCK (2007) về
“Comparative Study on Japanese Trademark System and Lao Trademark
System”, tác giả đã so sánh từng vấn đề về hệ thống NHHH giữa Nhật Bản và
Lào như: so sánh về khái niệm, điều kiện chung đối với dấu hiệu được bảo hộ,

nhãn hiệu”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 6/2006 (37), tr.28-36.
Hơn nữa, đề nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu và đào tạo về việc
bảo hộ quyền SHTT nói chung và bảo hộ NHHH nói riêng, Việt Nam đã dịch
một số cuốn sách rất quan trọng sang tiếng Việt như:
- Cuốn sách “Cẩm nang SHTT: chính sách, pháp luật và áp dụng” của
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) [9]. Công trình này đề cập tới mọi
khía cạnh về bảo hộ quyền SHTT và giới thiếu khái quát về các điều ước quốc
tế quan trọng liên quan đến quyền SHTT. Ngoài ra, còn đề cập nhiều đến vai
trò của SHTT trong phát triển, việc khai thác lợi ích các đối tượng SHTT,
thực thi quyền SHTT, cũng như việc quản lý và giảng dạy về SHTT.
- Cuốn sách “SHTT, một công cụ đắc lực để phát triển kính tế” của
Kamil Idris [30]. Cuốn sách này đã dành riêng một chương để phân tích về lợi
ích kinh tế mang lại từ việc bảo hộ NHHH. Ngoài ra, cuốn sách đã hướng dẫn
thực hành về SHTT với vai trò một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế và
tạo ra sự thịnh vượng, nhằm phục vụ các đối tượng quan tâm không phải là
chuyên gia. Cuốn sách này giúp người đọc nhận thấy sự khác biệt về tài sản
13


thuộc SHTT giữa thế giới phát triển và đang phát triển cũng lớn tương tự như
sự khác biệt trong những biểu hiện khác của sự thịnh vượng. Trên cơ sở đó,
cuốn sách đã nêu đến sứ mạnh của WIPO trong việc thúc đầy bảo hộ quyền
SHTT trên phạm vi toàn cầu, cũng như trợ giúp cho việc mở rộng tầm với và
lợi ích của hệ thống SHTT quốc tế tới tất cả các quốc gia thành viên.
- Cuốn sách “Các điều ước quốc tế về SHTT trong quá trình hội nhập”
của chương trình hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thủy Sĩ về SHTT [8]. Công
trình này giới thiệu tóm tắt những nội dung quan trọng và các quy định của
công ước và hiệp định quốc tế về SHTT, trong đó có NHHH, đang được áp
dụng trong quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay.
1.2. Tình hình nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu

- Sách chuyên khảo “Những nội dung cơ bản của Luật sở hữu tri tuệ”
của Vụ công tác lập pháp, Bộ tư pháp [72]. Công trình này chủ yếu phân tích
về nội dung Luật SHTT 2005 Việt Nam, trong đó có nội dung về NHHH.
- Cuốn sách chuyên khảo “Thực thi quyền SHTT trong tiến trình hội
nhập quốc tế - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Bá
Diễn [16]. Cuốn sách này trình bày và luận giải khái niệm, cấu trúc, nội dung
của cơ chế pháp lý thực thi quyền SHTT ở Việt Nam trong mối quan hệ so
sánh với kinh nghiệm quốc tế và nước ngoài. Đồng thời tác giả hệ thống hóa,
phân tích những vấn đề thực tiễn liên quan đến cơ chế thực thi quyền SHTT,
trên cơ sở đó nêu ra các quan điểm, đề xuất nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế
thực thi quyền SHTT Việt Nam.
- Giáo trình “Pháp luật quốc tế về SHTT” của tác giả Nguyễn Thái Mai
- Vũ Thị Phương Lan [39]. Cuốn sách này dành riêng một chương phân tích
về pháp luật bảo hộ NHHH theo quy định của các điều ước quốc tế liên
quan. Ngoài ra, còn đề cập đến hầu hết các đối tượng quyền SHTT và các

15


điều ước quốc tế liên quan, nhằm bức tranh tổng quát nhất về hệ thống pháp
luật SHTT quốc tế.
Ngoài ra, còn có một số giáo trình do các Trường đại học soạn thảo nhằm
phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy về pháp luật SHTT Việt Nam, trong
đó có NHHH như: “Giáo trình Luật SHTT” của tác giả Lê Đình Nghị - Vũ Thị
Hải Yến [50]; “Giáo trình Luật SHTT Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà
Nội [71]; “Giáo trình Pháp luật SHTT” của tác giả Đoàn Đức Lương [37]. Các
giáo trình này chủ yếu trình bày về nội dung pháp luật bảo hộ quyền SHTT và
các văn bản hướng dẫn thi hành Luật SHTT Việt Nam. Nội dung về bảo hộ
NHHH được quy định chung với pháp luật bảo hộ quyền SHCN. Các giáo trình
trên chủ yếu được soạn thảo dựa trên cơ sở các quy định của Luật SHTT và các

định rõ nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan thực thi, khắc phục tình trạng
chồng chéo giữa các cơ quan này. Hơn nữa, các cơ quan thực thi phải đủ năng
lực để chủ động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả
và cần tăng cường sự phối hợp hành động của các cơ quan này trong hoạt
động thực thi. Thứ ba, tăng cường và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực thực thi bảo hộ NHHH. Mở rộng, tăng cường và nâng cao
chất lượng của các hoạt động hỗ trợ, bổ trợ về SHCN và tăng cường hoạt
động hợp tác quốc tế về bảo hộ NHHH.
- Trong Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Lê Mai Thanh đã đưa ra
thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ NHHH trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam như sau: một là, hoàn
thiện pháp luật liên quan đến việc xác lập quyền đối với NHHH; hai là, hoàn
thiện quy định pháp luật về nội dung và giới hạn quyền đối với NHHH; ba là,
hoàn thiện cơ chế và quy định pháp luật về thực thi quyền đối với NHHH,
trong đó phải hoàn thiện quy định pháp luật về các biện pháp thực thi, hoàn
17


thiện hệ thống các cơ quan thực thi và nâng cao ý thức tôn trọng quyền đối
với NHHH của các doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng và các tổ chức xã
hội nghề nghiệp có chức năng hỗ trợ quá trình thực thi.
Ngoài những luận án tiến sĩ trên đề cập trực tiếp đến thực trạng pháp luật
bảo hộ NHHH và các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu qủa thực hiện
pháp luật bảo hộ NHHH, còn có một số luận văn thạc sĩ luật của các học viên
cao học Việt Nam quan tâm nghiên cứu về thực trạng pháp luật bảo hộ
NHHH. Từ đó các tác giả đã đưa ra các phương hướng hoàn thiện và nâng
cao hiệu qủa thực thi pháp luật bảo hộ NHHH tại Việt Nam trên cơ sở so sánh
với pháp luật bảo hộ NHHH của một số nước và các điều ước quốc tế có liên
quan để góp phần hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH của Việt Nam phù hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status