BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ MAI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA
GIÁO DỤC TIỂU HỌC HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
2
NGHỆ AN, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ MAI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA
GIÁO DỤC TIỂU HỌC HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.01.14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HÀ VĂN HÙNG
NGHỆ AN, NĂM 2014
4
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm kính trọng và chân thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới:
Phòng Đào tạo sau đại học, Hội đồng khoa học, các giảng viên của
Trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Hà Văn Hùng,
người đã tận tâm bồi dưỡng kiến thức, năng lực tư duy, phương pháp nghiên
cứu và trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả cũng xin được cảm ơn Sở GD&ĐT Thanh Hóa; Phòng GD&ĐT
Kết luận chương 1 37
Chương 2. Thực trạng quản lý công tác XHH GD tiểu học huyện Hà
Trung - tỉnh Thanh Hóa 38
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử văn hóa và
kinh tế - xã hội của huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa 38
2.2. Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học ở huyện Hà
Trung, tỉnh Thanh Hóa 41
2.3. Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học huyện
Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa 46
2.4. Đánh giá thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học huyện
Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa 50
Kết luận chương 2 54
7
Chương 3. Một số giải pháp quản lý công tác XHH GD tiểu học huyện
Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa 56
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 56
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 56
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính tính toàn diện 56
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 56
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 56
3.2. Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học
huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa 57
3.2.1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về chủ trương xã hội
hóa giáo dục trong đó có giáo dục tiểu học 57
3.2.2. Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng cơ quan quản lý
Nhà nước và sự chỉ đạo ngành GD trong việc thực hiện XHH GD
61
3.2.3. Quản lý việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã
hội đầu tư cho trường tiểu học 67
3.2.4. Quản lý việc xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách, đổi
ĐHSP Đại học Sư phạm
TTHTCĐ Trung tâm học tập cộng đồng
TTGDTX-DN Trung tâm giáo dục thường xuyên- dạy nghề
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
KHCN Khoa học công nghệ
KT-XH Kinh tế xã hội
GV Giáo viên
CBGV Cán bộ giáo viên
CBQL Cán bộ quản lí
CNH Công nghiệp hóa
HĐH Hiện đại hóa
BDTX Bồi dưỡng thường xuyên
CSVC Cơ sở vật chất
HCMHS Hội cha mẹ học sinh
HĐGD Hội đồng giáo dục
PCGDTH Phổ cập giáo dục tiểu học
PCGDTHCS Phổ cập giáo dục trung học cơ sở
PHHS Phụ huynh học sinh
QLGD Quản lý giáo dục
SKKN Sáng kiến kinh nghiệm
CNTT Công nghệ thông tin
Pl-1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục (GD) luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội, có vai trò
quyết định tương lai của mỗi người và của mỗi quốc gia, cho nên nó là nhân tố
quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội. Theo K.Marx “Con người là sự tổng
hòa các mối quan hệ xã hội”, nhân cách của con người phải được hình thành
dưới tác động của gia đình, nhà trường và xã hội. Tức là phải xã hội hóa giáo
trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động
khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học
tập suốt đời” [25 ].
Ngày 18 tháng 04 năm 2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP
về đẩy mạnh XHH các hoạt động GD. Ngày 24/6/2005, Bộ GD& ĐT đã ban
hành quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT phê duyệt đề án “Quy hoạch phát
triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005 - 2010”.
Luật GD năm 2005 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Điều 12
về nội dung XHH GD nêu rõ: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự
nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát
triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình
thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham
gia phát triển sự nghiệp giáo dục. Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm
chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục,
xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn” [35].
Trên thực tế XHH GD không đơn thuần là một cuộc đại cải cách hệ thống
GD mà nó là một trong những nội dung quan trọng nhất trong chiến lược hoạch
định tương lai đất nước.
GD tiểu học là cấp học nền tảng của hệ thống GD quốc dân, là cấp học hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học ở các cấp
học tiếp theo. Đầu tư cho GD tiểu học là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho tương
lai, chuẩn bị lớp người lao động mới phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hoá(CNH) - hiện đại hoá (HĐH) đất nước.
Pl-3
Với đặc điểm “là một bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi”, GD
tiểu học gắn liền với chính sách dân trí và thực hiện Luật phổ cập GD.
Th c hi n các ch tr ng c a ng, Nh n c, t nh Thanh Hóa luôn quanự ệ ủ ươ ủ Đả à ướ ỉ
tâm n công tác XHH GD.T nh y, UBND v S đế ỉ ủ à ở GD& TĐ t nh Thanh Hóa ã cóỉ đ
nhi u ch tr ng, Ngh quy t, ch ng trình, án v XHH GD, ng th i tề ủ ươ ị ế ươ đề ề đồ ờ ổ
tài luận văn của mình. Hy vọng sẽ góp một phần nhỏ khắc phục những mặt hạn
chế, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động XHH GD ở huyện Hà Trung tỉnh
Thanh Hóa.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác XHH GD tiểu học trên địa bàn
huyện Hà Trung, từ đó góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT của huyện Hà
Trung.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách th nghiên c uể ứ
V n qu n lý công tác XHH GD ti u h c trên a b n Huy nấ đề ả ể ọ đị à ệ .
3.2. i t ng nghiên c uĐố ượ ứ
M t s gộ ố i i pháp qu n lí công tác ả ả XHH GD ti u h c ể ọ huy n ệ H Trungà ,
t nh Thanh Hóa.ỉ
4. Giả thuyết khoa học
Công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa sẽ
được đẩy mạnh nếu đề xuất và thực hiện các giải pháp quản lý có tính khoa học,
đồng bộ và khả thi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý giáo dục(QLGD) tiểu học.
5.2.Khảo sát đánh giá thực trạng công tác XHH GD tiểu học của huyện Hà
Trung tỉnh Thanh Hóa.
5.3.Đề xuất một số giải pháp quản lí công tác XHH GD ở các trường tiểu
học của huyện Hà Trung.
5.4. Thăm dò tính khả thi của đề tài trong thực tiễn
Pl-5
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu về mặt lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản của Đảng, Nhà nước, của tỉnh Thanh Hóa,
huyện Hà Trung và của các xã, phường thuộc huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa.
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản của Ngành GD&ĐT.
phải hướng mục tiêu đào tạo ra những người có đủ tri thức và kỷ năng, năng lực
và phẩm chất với tinh thần trách nhiệm đầy đủ của người công dân tham gia và
cuộc sống lao động” [45]. Vì vậy, phương hướng phát triển GD của các nước
trên thế giới trong thế kỷ XXI là: Tích cực chuyển nền GD sang hệ thống học
tập suốt đời; Phát triển các chương trình GD hướng mạnh vào tính cá nhân; Làm
cho hệ thống GD đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại (đa dạng, mềm dẻo,
liên thông) Tất cả đều hướng vào mục tiêu chung là thông qua phát triển
GD&ĐT, tạo ra động lực cho tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội của đất nước
mình. Vì vậy phát triển sự nghiệp GD&ĐT không chỉ riêng của Nhà nước và của
Ngành GD&ĐT mà là nhiệm vụ chung của mọi lực lượng xã hội. Mỗi quốc gia,
tùy thuộc đặc điểm riêng của mình đều có những hình thức làm GD theo một
cách riêng. Dưới đây, chúng tôi xin khái quát về cách làm GD của một số nước
trên thế giới, liên quan đến XHH GD.
Năm 1947, Nhật Bản đặt GD vào vị trí hàng đầu của các chính sách quốc
gia. Nhật Bản đẩy mạnh cải tổ hệ thống GD nhằm tạo ra một hệ thống GD mở
với mục đích tạo cho học sinh lòng ham học, tự chủ trong suy nghĩ, phát triển
những năng lực khác nhau nhằm tạo cơ hội thích hợp với nhu cầu học tập và
nghề nghiệp của học sinh, luôn dành cho địa phương và nhà trường quyền tự
chủ. Năm 1971, Nhật Bản thành lập Bộ GD, đề ra chính sách: Đối với các
trường tiểu học bắt buộc thì “sự bình đẳng” là nguyên tắc tối cao. Còn đối với
các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc “tài năng” là cao nhất [45].
Quan điểm này không những xoá bỏ sự bất bình đẳng trong xã hội về
GD, mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển tiềm năng của con người.
Pl-7
Để xây dựng xã hội học tập(XHHT), Chính phủ Nhật Bản đã lập ra Uỷ
ban Quốc gia về GD suốt đời. Ở Nhật Bản có hai hệ GD: GD nhà trường và GD
xã hội. GD nhà trường chính là hệ GD ban đầu, gồm trường mẫu giáo, trường
phổ thông và các loại hình trường đào tạo nghề từ trung cấp đến đại học. Nhật
Bản rất quan tâm đến hệ GD xã hội (GD tiếp tục) vì đây là hệ GD có tác dụng
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
đầu tư của nhà nước kết hợp với nguồn lực của tư nhân.
Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách đa
dạng hoá các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật, tổ chức nhiều
loại hình nghề nghiệp chính quy và phi chính quy để thích ứng với nhu cầu nhân
lực của thị trường lao động trong quá trình phát triển đất nước.
Như vậy, chúng ta thấy rằng các nước có đặc điểm riêng về kinh tế - xã hội
nhưng đều có điểm chung trong phương thức XHH GD: Đó là huy động mọi tiềm lực
của cộng đồng cho GD. Ở nhiều quốc gia, XHH GD là sự lựa chọn ưu tiên, có tính
chất quyết định cho mô hình phát triển GD của riêng mình [45].
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
Vi t Nam không th n m ngo i xu th chung ó trên th gi i. Tr cệ ể ằ à ế đ ế ớ ướ
yêu c u c a cu c s ng, c a s nghi p i m i kinh t , v n hóa n c ta c nầ ủ ộ ố ủ ự ệ đổ ớ ế ă ướ ầ
thi t ph i quan tâm n vi c xây d ng v phát tri n công tác XHH GD. Ph iế ả đế ệ ự à ể ả
t o i u ki n ng i dân tham gia h c t p th ng xuyên, h c t p su tạ đ ề ệ để ườ ọ ậ ườ ọ ậ ố
i. đờ
Nếu xét về bản chất thì XHH GD không phải là vấn để hoàn toàn mới ở
đất nước ta Nó đã có nguồn gốc từ rất lâu cùng với truyền thống hiếu học và tôn
sư trọng đạo của dân tộc ta.
Dưới thời phong kiến và thuộc địa, trường học chỉ mở rất ít dành cho con
em các bậc vua chúa, quan lại, địa chủ, con cái nhà giàu nhằm phục vụ cho giai
cấp thống trị. Con em của tầng lớp nghèo khổ đều do nhân dân tự lo liệu dưới
hình thức trường tư do các thầy đồ mở hoặc do nhân dân tự tổ chức và mời thầy
dạy. Việc đóng góp nuôi thầy là hoàn toàn tự nguyện, tùy theo khả năng kinh tế
mỗi gia đình.
Pl-9
Trong thời nhà Lý, các kỳ thi định kỳ được tổ chức để chọn người tài, không
phân biệt giàu nghèo và đẳng cấp xã hội. Người đỗ khoa bảng được cử ra giúp
dân, giúp nước. Nhân dân tôn vinh những người có học, đề cao những người
học thành tài bằng cách lập văn bia, văn miếu thờ các bậc tiền hiền, danh nhân
của địa phương và sẵn sàng đóng góp tiền của, công sức để rước vị tân khoa
nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp GD&ĐT, đóng góp trí
tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho GD&ĐT” [20].
Thực hiện chủ trương XHH GD, hàng loạt các đề án, đề tài về XHH GD
đã được các nhà khoa học, quản lí, các tổ chức quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh
những đề án lớn mang tầm cỡ quốc gia do Văn phòng Chính phủ chủ trì như
“Cơ sở lí luận của xã hội hóa giáo dục”, “Kinh nghiệm thế giới trong việc xã hội
hóa giáo dục” của Viện nghiên cứu phát triển GD, còn có nhiều tác giả viết về
hoạt động này như: “xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ
phận của đường lối GD, một con đường phát triển GD ở nước ta” của Phạm
Minh Hạc. Trong đó tác giả đã cung cấp nhiều thông tin cần thiết và bổ ích cho
các cấp quản lí, các tổ chức và đoàn thể, nhà trường, gia đình về mục đích, ý
nghĩa, nội dung hoạt động, phương thức tiến hành công tác quản lí và những
kinh nghiệm để nâng cao chất lượng XHH công tác GD [27].
Trong tài liệu “XHH GD nhìn từ góc độ pháp luật” (NXB Tư pháp - Hà
Nội 2004), tác giả Lê Quốc Hùng đã chỉ ra những hạn chế trong quản lí Nhà
nước về công tác XHH GD đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước đối với hoạt động này.
Các nhà nghiên cứu khác như: Trần Quang Nhiếp, Nguyễn Mậu Bành, Huy Ất,
Huy Ngân…có nhiều bài viết về XHH. Viện khoa học GD nước ta nhiều năm qua đã
tiến hành hệ thống các đề tài nghiên cứu về XHH GD, đúc kết kinh nghiệm để phát
triển lý luận và đề xuất chính sách nhằm hoàn thiện nhận thức lý luận, ban hành một
số văn bản hướng dẫn các địa phương, các đơn vị GD thực hiện và xây dựng những đề
án về công tác XHH GD.
“Xã hội hóa công tác giáo dục- nhận thức và hành động”do Viện khoa học giáo
dục Việt Nam xuất bản năm 1999. Nội dung tài liệu cụ thể hóa và hoàn thiện những
quan niệm cơ bản mà mọi người cần biết về XHH GD, đồng thời chỉ ra vai trò và
Pl-11
trách nhiệm của từng lực lượng trong XHH công tác GD, những nét chính về cách
tiến hành XHH công tác GD ở địa phương và cơ sở trường học. [45]
Trong cuốn“Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, tác giả
Điều 2, Điều lệ trường tiểu học được ban hành theo quyết đinh số 51/QĐ-
BGD ĐT ngày 31 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo cũng
qui định: Trường tiểu học là cơ sở GD của bậc tiểu học, bậc học nền tảng của hệ
thống GD quốc dân [26].
Đây là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi thực hiện trong 5
năm học từ lớp 1 đến lớp 5. Bậc học này nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở
ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và
các chức năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
- Là cấp học phổ cập bắt buộc trong hệ thống GD phổ thông.
- Là bậc thang đầu để biết học
Tóm lại giáo dục tiểu học có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống GD
quốc dân. Là bậc học có tính chất nền móng của GD phổ thông.
1.2.2. Xã hội hóa và xã hội hóa giáo dục trường tiểu học
1.2.2.1. Xã hội hóa
Có nhiều cách hiểu, định nghĩa XHH khác nhau:
- XHH là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội.
- XHH là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của
cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội.
- Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm XHH được hiểu là “Làm cho một
việc gì, một cái gì đó thành của chung xã hội”. [47]
Kể từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương cải cách tổ chức bộ
máy Nhà nước theo hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, thì thuật ngữ “XHH” được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện, hội
nghị, hội thảo…
Nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về XHH có các cách lý giải khác
nhau, song, tựu trung lại có thể khẳng định: Bản chất của XHH là cách làm, cách
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường tuyên truyền, huy
động và tổ chức sự tham gia của cộng đồng, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối
Pl-13
hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và
XHH GD, theo chúng tôi phải được hiểu trên phương diện rộng là toàn
thể xã hội tham gia vào sự nghiệp GD, làm cho hoạt động GD trở thành hoạt
động chung của toàn xã hội.
b) Xã hội hoá giáo dục trường tiểu học:
XHH GD trường tiểu học theo chúng tôi là việc huy động cộng đồng tham
gia gia xây dựng và phát triển trường tiểu học nhằm:
- Nâng cao nhận thức toàn xã hội về nội dung, bản chất của xã hội hoá và
sự cần thiết của xã hội hoá đối với GD tiểu học.
- Vận động cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục thông qua việc tổ
chức ĐHGD các cấp, thực hiện dân chủ hoá nhà trường.
- Huy động xã hội đầu từ các nguồn lực cho GD tiểu học thông qua các
hoạt động đóng góp tài chính, vật chất, công sức để xây dựng các điều kiện
chăm sóc GD trẻ tốt nhất ở nhà trường tiểu học.
- Tăng cường sự chỉ đạo của lãnh đạo. Nâng cao vai trò và trách nhiệm
của nhà trường, của hiệu trưởng trường tiểu học trong việc huy động các lực
lượng xã hội tham gia XHH GD.
1.2.3. Quản lý và quản lý giáo dục
1.2.3.1. Quản lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Có người cho rằng quản lý là cai
quản, điều hành, điều khiển, chỉ huy, hướng dẫn, trọng tài, cũng có người quan
niệm quản lý là “nghệ thuật” [47].
Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý về bản chất bao gồm quá
trình“quản”và quá trình“lý”. Quản là coi sóc, giữ gìn nhằm ổn định hệ thống. Lý là
thanh lý, xử lý, biện lý, sửa sang, chỉnh đốn nhằm làm cho hệ thống phát triển.
- Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu dẫn đến suy thoái.
- Hệ phát triển mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.
- Như vậy: quản lý = ổn định + phát triển.
Trong “quản” phải có mầm mống của “lý” và trong “lý” phải có hạt nhân của
“quản”. Điều này tạo ra mối liên hệ hiện thực: ổn định đi tới sự phát triển, phát
triển trong thế ổn định” [2].