SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“HỖ TRỢ HỌC SINH HỌC NGỮ VĂN THÔNG QUA MỘT SỐ
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN”
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay công nghệ thông tin (CNTT) chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã
hội. Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT đã và đang làm thay đổi cuộc sống con người.
Với máy vi tính, CNTT đã trở nên ngày càng phổ biến trong giáo dục. Công nghệ thông
tin được ứng dụng để giải quyết hầu hết các nhiệm vụ quản lý, điều hành và giảng dạy
trong nhà trường. Ứng dụng CNTT vào dạy-học nói chung và dạy học Ngữ Văn nói riêng
là một xu thế tất yếu. Tuy nhiên thực sự là, hiệu quả dạy học với sự hỗ trợ của máy tính
vẫn chưa được như những gì chúng ta mong muốn.
1. Những điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong
dạy học Ngữ Văn.
Nghị quyết TW2 của Đảng, khóa VIII đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương
pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy
sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện
vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học
sinh ”
Xuất phát từ định hướng đó, hiện nay các trường phổ thông đều trang bị phòng
máy, phòng trình chiếu đa năng, nối mạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức,
tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình. Những
ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người sử dụng qua
những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện
cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để học sinh học tập trong hoạt động và bằng
hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu.
Một bộ phận lớn học sinh có điều kiện làm quen tiếp xúc với máy tính và Internet
từ khá sớm. Các em thực sự say mê với những ứng dụng công nghệ thông tin. Như vậy,
nếu biết ứng dụng CNTT hợp lý sẽ thúc đẩy sự hứng thú, yêu thích môn Ngữ Văn trong
học sinh.
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp
dẫn của giáo viên
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Viện Chiến lược và Chương
trình giáo dục, được thực hiện trong 2 năm (2003-2005) thì có 4 mức ứng dụng CNTT cơ
bản nhất căn cứ vào hoạt động của quản lý, của người dạy và người học:
- Mức 1: Sử dụng CNTT để trợ giúp giáo viên trong một số thao tác nghề nghiệp như
soạn giáo án in ấn tài liệu, sưu tầm tài liệu,… nhưng chưa sử dụng CNTT trong tổ chức
dạy học các tiết học cụ thể của môn học.
- Mức 2: Ứng dụng CNTT để hỗ trợ một khâu, một công việc nào đó trong toàn bộ quá
trình dạy học
- Mức 3: Sử dụng phần mềm dạy học để tổ chức dạy học một chương, một số tiết, một
vài chủ đề môn học
- Mức 4: Tích hợp CNTT vào quá trình dạy học.
Như vậy việc hỗ trợ học sinh học Ngữ Văn thông qua một số ứng dụng công nghệ
thông tin thực chất là triển khai mức 2, 3 và 4. Điều này đặt ra cho người thực hiện những
yêu cầu khá cao và cần có một lộ trình hợp lý, vừa sức phù hợp với điều kiện thực tế và
khả năng của học sinh. Chính vì thế các việc làm của người giáo viên không thể vội vàng
và ép buộc học sinh phải thực hiện. Do vậy, trình tự của các bước thực hiện việc hỗ trợ
học sinh có thể diễn ra như sau:
1. Điều tra thực trạng sự dụng công nghệ thông tin trong học sinh
Với điều kiện kinh tế xã hội phát triển trong những năm gần đây, nhiều gia đình đã
mua sắm máy vi tính, nối mạng internet phục vụ cho các mục đích khác nhau. Vì thế đối
với học sinh, máy vi tính đã không còn xa lạ. Nhiều em đã biết sử dụng thành thạo để
chơi điện tử, chat với bạn bè, nghe nhạc, xem phim ngoài ra một số học sinh đã biết sử
dụng máy vi tính, internet cho các mục đích học tập. Tuy nhiên không phải em nào cũng
sử dụng thành thạo, do vậy người giáo viên cần phải điều tra thực trạng sử dụng công
nghệ thông tin để nắm bắt trình độ và khả năng sử dụng máy vi tính của học sinh để có
các giải pháp hỗ trợ phù hợp.
Việc điều tra có thể tiến hành thông qua các bước sau:
+ Tìm hiểu qua giáo viên dạy tin học: Hiện nay Tin học được giảng dạy ở nhà
Từ kết quả điều tra chúng tôi quyết định chủ yếu nghiên cứu và vận dụng việc hỗ trợ học
sinh học Ngữ Văn ở các khâu:
- Tìm tư liệu học tập thông qua mạng internet,
- Tăng cường làm bài tập ở nhà qua trao đổi email với giáo viên,
- Củng cố kiến thức bằng trò chơi ô chữ.
2. Công tác chuẩn bị:
a. Giáo viên:
Nắm vững chương trình và sách giáo khoa, linh hoạt trong vận dụng phương pháp
giảng dạy. Tìm hiểu và lên kế hoạch dự kiến sẽ hỗ trợ học sinh ở các bài nào, vấn đề gì
một cách cụ thể. Sử dụng tương đối thành thạo các phần mềm ứng dụng công nghệ thông
tin phổ biến như Microsoft Word, Microsoft PowerPoint, hiểu biết cơ bản trong việc sử
dụng Internet để tìm kiếm thông tin, sưu tầm địa chỉ các trang WEB có ích, sử dụng
thành thạo việc trao đổi thông tin qua email (thư điện tử). Tham gia vào các diễn đàn có
liên quan trên mạng Internet. Nếu có điều kiện giáo viên nên lập Blog ( một hình thức
trang WEB) để thông tin cho học sinh những nội dung cần thiết và nhận sự phản hồi từ
học sinh.
Thu thập địa chỉ email của học sinh. Thông báo với Ban giám hiệu nhà trường, Hội
phụ huynh học sinh các công việc mà giáo viên tiến hành. Phổ biến cho học sinh những
yêu cầu của giáo viên khi sử dụng internet
Trong quá trình giảng dạy người giáo viên bổ sung vào bài giảng các kênh hình,
tiếng, màu sắc, các hiệu ứng để tăng tính hấp dẫn sinh động cho giờ học Ngữ Văn. Tuy
nhiên không được biến giờ học Ngữ Văn thành giờ trình diễn. Kết hợp các phương pháp
dạy học đổi mới, tích cực, giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học đa dạng phong phú
bằng phương pháp dạy học trình chiếu, dạy học theo nhóm, dạy học theo dự án để giờ
học sinh động, hiệu quả, học sinh chủ động nắm bắt kiến thức.
b. Học sinh:
Tự học hỏi rèn luyện kĩ năng sử dụng máy vi tính. Có ý thức sử dụng máy vi tính
và các ứng dụng CNTT vào những việc có ích.
Lập hộp thư điện tử và thường xuyên sử dụng để trao đổi thông tin. Nếu có điều
kiện trang bị những phương tiện cần thiết như USB.
- http://tracnghiem.tuoitre.net.vn/
- http://truongtructuyen.vn/Home/tabid/92/Default.aspx
Trên đây là một số trang WEB của các tổ chức uy tín mà chúng tôi đã kiểm chứng
về tính chân thực của thông tin, không vi phạm thuần phong mĩ tục cũng như không có
những bài viết chống phá đất nước. Người giáo viên có thể yêu cầu học sinh tìm kiếm
một vài vấn đề cụ thể mà sách giáo khoa chưa đề cập, không để học sinh tự do tìm kiếm
dẫn đến thông tin sai lạc, không phù hợp. Ví dụ như: Nguyên bản truyện ngắn Chiếc lược
ngà của Nguyễn Quang Sáng, cập nhật năm mất của các tác giả Chính Hữu, Nhà thơ
Phạm Tiến Duật, Có các bản in Truyện Kiều khắc gỗ nào ? Tìm tranh vẽ về truyện
Kiều Chân dung một số nhà văn, tìm bài hát ca ngợi biển đảo Việt Nam Đây là việc
làm cần hướng dẫn cụ thể vì thông tin trên internet rất đa dạng phục vụ cho nhiều mục
đích khác nhau do vậy giáo viên cần cung cấp địa chỉ từng trang web cụ thể chứa thông
tin cần thiết chứ không để học sinh tự tìm.
Một vài thông tin Internet:
Dữ liệu về Nguyễn Tuân trên wikipedia.org
Dữ liệu về Huy Cận trên thivien.net
Giao công việc tìm kiếm thông tin cho từng nhóm hoặc cá nhân cụ thể. Yêu cầu
học sinh ghi lại thông tin lấy từ nguồn nào để giáo viên kiểm chứng. Tập hợp các thông
tin tìm kiếm được, xử lý và lấy thông tin cần thiết. Giáo viên xem trước và chỉnh sửa báo
cáo của học sinh. Trong giờ học gọi các em trình bày hoặc yêu cầu học sinh lưu trữ để
dùng khi cần thiết.
Việc hướng dẫn học sinh tìm kiếm thông tin trên mạng Internet có những mặt tích
cực như kích thích việc chủ động tìm tòi của học sinh, tạo cho các em hứng thú khi học
tập, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, theo dự án Tuy nhiên giáo viên phải chú
ý theo dõi, định hướng kĩ càng cho học sinh bằng các yêu cầu chọn lọc, vừa sức, không
chiếm nhiều thời gian và quan trong hơn là không truy cập vào các thông tin nhạy cảm
liên quan đến chủ trương đường lối chính sách của Đảng, nhà nước, đến thuần phong mĩ
tục Thông qua việc tìm kiếm thông tin, giáo viên dần dần hình thành cho học sinh thói
quen sưu tầm các tác phẩm văn chương có giá trị về nội dung và nghệ thuật.
b. Sử dụng thư điện tử để tăng cường bài tập cho học sinh
Mã đề thi
CETK4
Câu 1: Có người cho rằng chân dung của Thuý Vân, Thuý Kiều là những chân dung tính
cách số phận. Đúng hay sai?
A. Đúng. B. Sai.
Câu 2: Các phép tu từ đã sử dụng nhằm thể hiện vẻ đẹp gì của Thuý Vân?
A. Quý phái. B. Phúc hậu.
C. Gợi sự hoà hợp êm đềm. D. Cả A ,B đều đúng.
Câu 3: Theo em với cách miêu tả Thuý Kiều, Nguyễn Du dự báo cuộc đời Kiều diễn ra
theo chiều hướng nào?
A. Trắc trở đau khổ. B. Giàu sang phú quý.
C. Hạnh phúc vinh hiển. D. Bình lặng suôn sẻ.
Câu 4: Bốn câu thơ đầu của đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” có tác dụng gì?
A. Gợi tả vẻ đẹp của Thuý Kiều. B. Gợi tả vẻ đẹp của Thuý vân.
C. Giới thiệu khái quát các nhân vật. D. Cả A, B, C đều đúng.
Câu 5: Đoạn “Chị em thuý Kiều” nói về những nhân vật nào?
A. Thuý Kiều và Kim Trọng. B. Thuý Kiều và Từ Hải.
C. Thuý Kiều và Vương Quan. D. Thuý Kiều và Thuý Vân.
Câu 6: Câu thơ “Kiều càng sắc sảo mặn mà”giới thiệu vẻ đẹp Thuý Kiều ở phương
diện nào?
A. Nụ cười và giọng nói. B. Trí tuệ và tâm hồn.
C. Làn da và mái tóc. D. Khuôn mặt và hàm răng.
Câu 7: “Mai cốt cách tuyết tinh thần” - câu thơ ý nói cả hai chị em:
A. đều trắng như tuyết B. đều xinh đẹp như cây mai
C. đều duyên dáng, thanh cao trong trắng D. cả A, B, C đều sai
Câu 8: Khi miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân, tác giả không sử dụng phép tu từ nào?
A. Ẩn dụ. B. Nhân hoá. C. So sánh. D. Liệt kê.
Câu 9: Điểm chung trong cách tả hai nhân vật Thuý Vân và Thuý Kiều là:
A. Tả hình dáng để thể hiện tính cách, dự báo số phận.
B. Dùng thủ pháp ước lệ.
hoặc thuyết giảng. Môn Ngữ Văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Kiến thức
của nó liên quan mật thiết đến ngôn ngữ và dựa trên ngôn ngữ. Do vậy áp dụng một trò
chơi ngôn ngữ để khắc sâu kiến thức là việc làm cần thiết. Theo quan điểm dạy học mà
sách giáo khoa mới đã đề ra, học sinh được phát huy tối đa tính tích cực, tính sáng tạo
thông qua các hoạt động, trò chơi chính là “đất lành” để các em thể hiện.
- Cách tiến hành: Khi thiết kế ô chữ giáo viên tập trung vào nội dung kiến thức
học sinh được học trước đó. Kiến thức phải trọng tâm. Tốt nhất là kiến thức có trong sách
giáo khoa. Kiến thức phải có cả phần văn bản, đọc hiểu văn bản, nội dung tiếng Việt và
nội dung tập làm văn. Vì thời gian cho phần củng cố của mỗi tiết học khá ít ( thông
thường là 5phút) nên tổng số các từ hàng ngang và hàng dọc không nên quá 8 từ, đối với
bài tổng kết cả tác phẩm thì không quá 20 từ. Cụm từ không quá dài. Các gợi ý phải được
diễn đạt rõ ràng, trong sáng về ngữ nghĩa. dễ hiểu, nhưng không được dùng chính các từ
có thể tiết lộ thông tin của cụm từ. Nên gợi ý bằng cách hiểu vui, bất ngờ.
Trong bài viết này xin trình bày một kinh nghiệm thực hiện nhanh và có hiệu quả
nhất mà người viết đã lựa chọn trong nhiều cách. Đó là sử dụng phần mềm tin học HOT
POTATOES phiên bản 6.0 - sản phẩm giáo dục của trung tâm máy tính và truyền
thông thuộc đại học Victoria Humanities – Địa chỉ website
http://www.halfbakedsoftware.com/hotpot/. Phần mềm này cũng đã được TS Vũ
Hùng giới thiệu trên trang tài nguyên mạng edu.net.vn ( mạng giáo dục – Bộ
GDĐT). Đây là phần mềm miễn phí. Sau khi cài đặt phần mềm này, chúng ta chọn
Jcross trên thẻ Potatoes. Để chương trình có thể tự động giúp tạo ô chữ chúng ta
chọn lệnh Automatic Grid – Maker sau đó đánh các cụm từ đa lựa chọn vào và nhấn
nút lệnh Make the grid máy sẽ tự động tạo ra ô chữ. Sửa chữa các lỗi về Font tiếng
Việt xong chúng ta sẽ có một ô chữ hoàn chỉnh. Mọi hoạt động chỉ mất khoảng 5
phút để hoàn thành ô chữ. Kết hợp trình chiếu để hướng dẫn học sinh củng cố bài học.
Giáo viên cũng có thể sử dụng các ô chữ phức tạp hơn để gửi bài tập cho học sinh.
Ô chữ được thiết kế bằng phần mềm Hotpotatoes
Sau đây là ô chữ tổng kết Truyện Kiều- Giáo viên đã sử dụng ô chữ này như một
bài tập gửi cho học sinh qua thư điện tử:
Ô CHỮ TRUYỆN KIỀU
11. Một ngày hội trong truyện Kiều
12. Địa danh quê hương của Nguyễn Du
13. Nơi Tú Bà đưa Kiều đến giam lỏng
14. Người bạn đồng môn với Kim Trọng
15. Tên chữ của Nguyễn Du
16. Kẻ đã phô bày bộ mặt con buôn xảo trá đê tiện trong cuộc mua bán Kiều
BẢNG TRẢ LỜI
HÀNG TRẢ LỜI
NGANG
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Hàng dọc là :
III. KẾT QUẢ ỨNG DỤNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Kết quả:
Từ đầu năm học 2008 – 2009 chúng tôi bắt đầu sử dụng các ứng dụng công nghệ
chưa đúng
20 10 7 3
Ở các lớp không áp dụng trò chơi:
Số HS được
kiểm tra
Trả lời
đúng-
nhanh
Trả lời
đúng
Trả lời
chưa đúng
20 7 8 5
Theo đánh giá chủ quan của chúng tôi, giờ học có sử dụng trò chơi ô chữ sôi nổi và
hứng thú hơn. Cho đến nay mặc dù đã tiến hành được gần ba năm học nhưng hoạt động
này vẫn còn mang tính thử nghiệm nên việc tổng kết chưa thể tiến hành. Tuy nhiên có thể
khẳng định các mục đích đặt ra ban đầu đều có kết quả tốt.
2. Bài học kinh nghiệm:
Từ thực tiễn vận dụng việc hỗ trợ học sinh thông qua các ứng dụng CNTT những
năm học vừa qua và trong học kì I năm học 2008-2009 tại trường THCS Nguyễn Du,
chúng tôi đã bước đầu tổng kết và rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:
- Muốn làm tốt việc hỗ trợ học sinh học Ngữ Văn thông qua các ứng dụng công
nghệ thông tin, người giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình, sách giáo khoa và
vận dụng tốt phương pháp dạy học môn Ngữ Văn. Ngoài ra người giáo viên cần phải có
kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin tương đối thành thạo.
- Kĩ năng sử dụng máy tính và các ứng dụng internet là việc làm mới mẻ và tương
đối khó nên đối tượng sử dụng phải là học sinh lớp 8, 9 và áp dụng có chọn lọc đối với
học sinh lớp 6, 7.
- Giáo viên phải lập kế hoạch, nghiên cứu bài một cách hệ thống. Chọn lựa những
đơn vị kiến thức thật phù hợp để áp dụng. Các thao tác phải tiến hành cẩn thận. Giáo viên
- Phương pháp giảng dạy Tiếng Việt cấp 2 phổ thông ( Chử Anh Đào –
Nguyễn Chương – 1992)
- Tạp chí Tài hoa trẻ số 37
- Bài trắc nghiệm Ngữ Văn 6+ 9 ( NXB Giáo dục )
- Teaching Practice Handbook - NXB Heinemann
- A Course in Language Teaching – NXB Cambridge
- Phần mềm HOT POTATOES 6.0
- website http://www.halfbakedsoftware.com/hotpot/.
- website http://tinhoctuoitho.org/
- website http://edu.net.vn
- website http://dayhocintel.org/diendan/
- Một số WEBSITE khác có liên quan