SKKN Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý lớp 9 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"SKKN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN VẬT LÝ
LỚP 9 "
A. Lý do chọn chuyên đề
Trong tiến trình lịch sử mỗi xã hội có cách riêng để chuẩn bị cho thanh thiếu niên
vào đời, tuỳ những quan niệm về quá khứ, hiện tại, tương lai của xã hội đó.
Nền kinh tế nước ta được chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước được nhiều năm. Công cuộc đổi mới này đề ra những
yêu cầu mới đối vơí hệ thống giáo dục, Nghị quyết lần thứ 4 của BCH TW Đảng khẳng
định: " Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo".
Mục tiêu đào tạo, nghị quyết nhấn mạnh đến đào tạo ra những con người lao động,
tự chủ, năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề do thực tiễn đặt ra, tự lo
được việc làm, lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống. Để qua đó góp phần xây dựng
đất nước giầu mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Vật lý học là một trong những môn khoa học về tự nhiên, nhiệm vụ chủ yếu của nó
là nghiên cứu các hiện tượng vật lý, tìm nguyên nhân, khám phá ra các định luật vật lý
phục vụ lợi ích của con người.
Vật lý là cơ sở cho nhiều ngành kỹ thuật. Những thành tựu của vật lý và kỹ thuật
phục vụ rất nhiều cho cuộc sống của con người trên mọi mặt.
Vì vậy trong đổi mới phương pháp giáo dục thì phát triển trí tuệ và năng lực sáng
tạo của học sinh có ý nghĩa quan trọng. Để có hiệu quả cao trong giảng dạy thì người
giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu, sử dụng những thành quả của những môn khoa
học có liên quan, cần phải tiếp thu những thành tựu tiên tiến, những kinh nghiệm và
phương pháp giảng dạy theo hướng đổi mới.
Với những lý do trên nên tôi chọn chuyên đề:
" Đổi mới phương pháp dạy học môn vật lý"
B. Nội dung và phương pháp thực hiện chuyên đề
1. Cơ sở lý luận:
- Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đào tạo của đất nước hiện nay.
Phải đào tạo ra thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ đất nước, có trình độ văn

- Xuất phát từ xu thế giáo dục của thế giới hiện nay:
Về đổi mới phương pháp là vấn đề cấp bách của thời đại đối với chúng ta. Ngày
nay sự đổi mới phương pháp dạy học là sự sống của giáo dục Việt Nam. Vì trước những
bước tiến của nhân loại, đất nước ta đang đổi mới nền kinh tế để hoà nhập với thế giới
hiện đại. Do vậy việc đổi mới phương pháp dạy học là không thể thiếu được trong nhà
trường hiệnnay. Dạy học, lấy học sinh làm trung tâm là cốt lõi của việc đổi mới phương
pháp dạy học. Có như vậy thì mới có phát huy được nang lực. Năng lực đó phải được đào
tạo và rèn luyện thành thói quen, phải được hình thành từ nhà trường phổ thông cũng như
của môn khoa học tự nhiên khác. Vì môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm nó là cơ sở
cho nhiều ngành kỹ thuật, các máy móc được chế tạo dựa trên các thành tựu vật lý: Động
cơ ô tô, máy bay được chế tạo dựa vào kiến thức về nhiệt, Máy phát điện, động cơ điện,
vô tuyến truyền hình được chế tạo dựa trên kiến thức về điện những thành tựu của
vật lý và kỹ thuật phục vụ rất nhiều cho cuộc sống của con người trên mọi mặt. Vì vậy
việc đổi mới phương pháp trong dạy học vật lý là không thể thiếu được.
II. Những thực tế hiện nay khi chưa Được thực hiện chuyên đề
Trong những năm cải cách giáo dục (1981 đến nay) chúng ta đang cố gắng và đa
dạng hoá cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Cải cách giáo dục trên cả 3 mặt: hệ thống
giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học. Song phương pháp giáo dục vẫn chưa được
quan tâm và phương pháp dạy học chưa được đổi mới tương xứng. Mặc dù những năm
gần đây có cố gắng mà cụ thẻ là số giáo viên giỏi, học sinh giỏi cũng đã tăng nhiều so với
những năm trước. Tuy nhiên tình trạng phổ biến vẫn là:
+ Các bài dạy chưa có đầy đủ các thí nghiệm, vẫn còn tình trạng dạy chay. Các
bài thực hành thì không có nhiều bộ đồ dùng để học sinh tự làm mà chỉ có 1 đến 2 bộ thí
nghiệm.
+ Giáo viên thuyết trình kết hợp với đàm thoại chưa đưa học sinh vào tình huống
có vấn đề. Giáo viên chỉ sợ học sinh không trả lời được do đó học sinh nhiều khi chỉ cần
trả lởi "có" hay "không".
+ Học sinh được luyện tập ở mức tối thiểu và chủ yếu là vận dụng tri thức một
cách máy móc đơn giản.
III. Những biện pháp để đổi mới phương pháp dạy học môn vật lý ở trường

triển hoàn chỉnh phương án để trở thành khả thi hoặc thảo luận để chọn phương án tối ưu.
Cần hướng dẫn học sinh thực hiện một số phương pháp suy luận khác như phương pháp
tương tự, phương pháp tìm nguyên nhân của hiện tượng. Những hiểu biết về phương
pháp nhận thức đó, nhằm rèn luyện cho học sinh thói quen mỗi khi rút ra một kết luận
không thể dựa vào cảm tính mà phải có căn cứ thực tế và biết cách suy luận chặt chẽ.
b. Về kỹ năng và khả năng
- Về kỹ năng quan sát:
Bước đầu xây dựng cho học sinh biết quan sát mục đích, có kế hoạch. Trong một số
trường hợp đơn giản học sinh có thể tự vạch ra kế hoạch quan sát chứ không phải tuỳ tiện
ngẫu nhiên, có khi phải tổ chức cho học sinh trao đổi kỹ trong nhóm về mục đích kế quan
sát rồi mới thực hiện quan sát.
- Kỹ năng thu thập xử lý thông tin từ quan sát thí nghiệm chú trọng trong việc ghi
chép các thông tin thu thập được, lập thành biểu bảng một cách trung thực. Việc xử lý
thông tin, dữ liệu thu được phải theo những phương pháp xác định, thực chất phương
pháp suy luận là để từ những dữ liệu, số liệu cụ thể rút ra kết luạn chung (quy nạp) hay từ
những tính chất quy luật chung suy ra những biểu hiện cụ thể trong thực tiễn (suy diễn).
Chú trọng ngôn ngữ phát triển, ngôn ngữ vật lý ở học sinh. Yêu cầu học sinh phải sử
dụng những khái niện mới để mô tả và giải thích các hiện tượng, các quá trình, rèn luyện
kỹ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác ngôn ngữ của vật lý, thông qua việc trình bày các kết
quả quan sát nghiên cứu và trong thảo luận ở nhóm, ở lớp. Tạo điều kiện để học sinh nói
nhiều hơn ở nhóm, ở lớp.
c. Về tình cảm, thái độ:
Học sinh bước đầu được làm quen với cách học tập mới, cá nhân độc lập suy nghĩ
làm việc theo nhóm, tranh luận ở lớp. Không khí học sôi nổi, vui vẻ, thoải mái, hào hứng
hơn. Song giáo viên vẫn phải uốn nắn đưa vào nề nếp.
Yêu cầu học sinh trung thực, tỷ mỉ, cẩn thận trong khi làm việc cá nhân. Khuyến
khích học sinh mạnh dạn nêu ý kiến của mình, không dựa dẫm vào bạn. Có tinh thần
cộng tác phối hợp với các bạn trong hoạt động chung của nhóm. Phân công mỗi người
một việc, mỗi lần một người trình bày ý kiến của tổ, biết nghe ý kiến của bạn, thảo luận
một cách dân chủ. Biết kiềm chế mình, trao đổi trong nhóm đủ nghe không gây ồn ào ảnh

tuổi, địa điểm
- Tác dụng: Giúp học sinh ôn lại những gì đã học.
- Cách đặt câu: Cái gì? bao nhiêu?, hãy định nghĩa?
Em biết những gì, hãy mô tả,c ái nào? bao giờ? khi nào?
b, Câu hỏi "hiểu"
- Mục tiêu: Kiểm tra học sinh cách liên hệ, kết nối các số liệu dữ kiện, định nghĩa.
- Tác dụng cho thấy học sinh có khả năng diễn tả được lời nói nêu được các yếu tố
cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong bài học.
- Cách đặt cây hỏi: Tại sao? Hãy liên hệ? Hãy so sánh? Hãy tính?
c, Câu hỏi "vận dụng"
- Mục tiêu: Kiểm tra khả năng áp dụng các dữ kiện, khái niệm, phương pháp vào
hoàn cảnh và điều kiện mới.
- Tác dụng: Cho thấy học sinh có khả nằng hiểu được các quy luật, khái niệm, lựa
chọn phương pháp, giải quyết và vận dụng vào thực tiễn.
- Cách đặt câu hỏi:
Làm thế nào? Hãy tính sự chênh lệch? hoặc em có thể giải quyết khó khăn về vấn
đề này như thế nào?
d, Câu hỏi "phân tích":
- Mục tiêu: Kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề từ đó đi đến kết luận hoặc
tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh vấn đề nào đó.
- Tác dụng: Cho thấy khả năng tìm ra mối quan hệ mới tự diễn giải và đưa ra kết
luận.
- Câu hỏi: Tại sao?
Em có nhận xét gì ?
Hãy chứng minh ?
e. Câu hỏi "tổng hợp" :
- Mục tieu: Kiểm tra học sinh có thể đưa ra những dự đoán giải quyết một vấn đề,
hay đưa câu hỏi trả lời có sáng tạo.
- Tác dụng: Thúc đẩy sáng tạo của học sinh. Học sinh tìm ra nhân tố ý tưởng mới
để bổ sung cho nội dung.

+ Tư duy logic:
Để phát triển tư duy logic cần sử dụng việc đánh giá những quan sát và thực
nghiệm. Việc giải thích những mối liên hệ tương hỗ của những hiện tượng vật lý, việc dự
đoán những kết quả mong muốn, việc kiểm tra bằng thực nghiệm những hệ quả tút ra từ
các giả thuyết và thuyết.
+ Tư duy biện chứng:
Các hiện tượng và quá trình vật lý cần được khảo sát hoàn toàn phù hợp với sự sự
phát triển biện chứng của chúng. Điều đó có nghĩa là chúng phải được phân tích toàn
diện, được xem xét trong những mối quan hệ tương hỗ của chúng trong sự phát triển lịch
sử và mâu thuẫn nội taị. Việc dạy học vật lý ngay từ những bài đầu tiên cũng đòi hỏi việc
phát triển tư duy biện chứng.
Ví dụ 1:
Nghiên cứu ma sát cần giải thích cho học sinh rằng: Trong những trường hợp này
ma sát có hại, nhưng những trường hợp khác lại có lợi.
Ví dụ 2:
Định luật Ôm chỉ áp dụng đối với kim loại, khôgn áp dụng được cho chất bán dẫn.
+ Tư duy vật lý tư duy khoa học kỹ thuật:
Tư duy vật lý là kỹ năng quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một hiện tượng
phức tạp thành những bộ phận, thành phần phần xác lập ở trong chúng mối liên hệ và
những sự phụ thuộc xác định. Tìm ra mặt định tính, định lượng của các hiện tượng và các
đại lượng vật lý, đoán trước được các hệ quả từ các lý thuyết và áp dụng được kiến thức
của mình.
Tư duy KH-KT bao gồm kỹ năng tìm ra mối liên hệ sâu sắc giữa một bên là Toán
học, Vật lý học và một bên là ứng dụng kỹ thuật khác của các khoa học đó, biến các tư
tưởng khoa học thành sơ đồ, mô hình, kết cấu kỹ thuật.
- Phát triển năng lực áp dụng các phương pháp nhận thức tổng quát của khoa học.
Vật lý học là môn có nhiều khả năng để làm việc này. Hình thứuc vận động vật lý
là hình thức hoạt động đơn giản, phổ biến nhất. Vì thế trong các giờ học vật lý với các ví
dụ tương đối đơn giản, quen thuộc có thể hấp dẫn học sinh tới chỗ hiểu và áp dụng các
phương pháp nhận thức khoa học.

- Tổ chức định hướng hành động chiếm lĩnh tri thức vật lý của học sinh theo tiến
trình dạy học, giải quyết vấn đề nhằm phát triển năng lực tìm tòi, sáng tạo của học sinh
trong quá trình học tập.
+ Dạy học giải quyết vấn đề.
+ Khái niệm vấn đề và tình huống có vấn đề.
* Khái niệm vấn đề.
* Khái niệm tình huống có vấn đề
* Các kiểu tình huống có vấn đề
* Tình thế lựa chọn.
* Tình thế bất ngờ
* Tình thế bế tắc
* Tình thế không phù hợp.
* Tình thế phán xét
* Tình thế đối lập.
+ Tiến trình giải quyết vấn đề khi xây dựng, vận dụng tri thức vật lý bằng sơ đồ sau
"Đề xuất vấn đề - suy đoán giải pháp và khảo sát lý thuyết hoặc thực nghiệm - kiểm
tra, vận dụng kết quả"
+ Điều kiện cần thiết của việc tạo tình huống vấn đề và định hướng hành động giải
quyết vấn đề trong dạy học vật lý.
+ Các pha của tiến trình dạy học giải quyết vấn đề.
* Pha thứ nhất: Chuyển giao nhiệm vụ, bất ổn định hoá tri thức, phát biểu vấn đề.
* Pha thứ hai: Học sinh hành động độc lập, tự chủ, trao đổi, tìm tòi giải quyết vấn
đề.
* Pha thứ ba: Tranh luận, thể chế hoá, vận dụng tri thức mới
Tóm lại về phía giáo viên:
1. Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm chứng minh trên lớp.
2. Xây dựng một hệ thống câu hỏi logic, chất lượng và phải biết hướng dẫn học
sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả thí nghiệm, vận dụng các kiến thức có liên
quan để đi đến tri thức mới, song phải mang tính phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo
của học sinh.

S
ρ
.
C. R =

S.
ρ
D.R=
ρ
.S
Từ công thức đúng trên có những cách nào làm thay đổi điện trở của dây dẫn.
- Giáo viên: cách thay đổi chiều dài của dây dẫn dễ thực hiện, khi thay đổi chiều dài dây
dẫn thì trị số điện trở thay đổi, điện trở thay đổi được trị số được gọi là biến trở.
Ghi bảng Hoạt động của trò Hoạt động của thầy
I/ Biến trở
1. Tìm hiểu cấu tạo và
hoạt động của biến
trở.
* Cấu tạo:
- Con chạy (tay quay)
- Cuộn dây dẫn
*Hoạt động:
Mắc biến trở vào
mạch nhờ các chốt
+ A và N
+ Ký hiệu
* Hoạt động 2( 10')
Cấu tạo và hoạt động
của biến trở.
- Là điện trở có thể thay

gạch
chéo phần biến trở có
dòng điện đi qua hình
10.2
H10.2
2. Sử dụng biến trở đề
điều chỉnh I
H10.3
* Hoạt động 3 (10')
Sử dụng biến trở để điều
chỉnh cường độ dòng
điện
- Một học sinh lên bảng
vẽ
- Dưới lớp làm vào vở
- Học sinh nhận đồ dùng
tiến hành thí nghiệm, trả
lời C
5
.
+ 20 ôm - 2A
Điện trở lớn nhất của biến
trở là 20 ôm, I
Max
qua biến
trở là 2A.
+ C  trái R
b
giảm nên
điện trở mạch giảm

Kết luận
* Hoạt động 4 (5')
Nhận dạng 2 loại điện
trở
- Học sinh mỏng nên S
nhỏ thì R lớn.
- Hoạt động nhóm
+ Đèn sáng nhất tại C vị
trí nào? tại sao?
* Biến trở dùng đề làm
gì?
- Yêu cầu ghi đúng kết
luận vào vở.
- Giáo viên liên hệ thực
tế: Như chiết áp trong ti
vi, đài.
* Giáo viên: Yêu cầu trả
lời C
7
- Giáo viên gợi ý:
Lớp than hay kim loại
mỏng có S lớn hay nhỏ
=> R như thế nào?
- Yêu cầu học sinh quan
sát điện trở dùng trong kỹ
III/ Vận dụng
C
9
đọc trị số của các
điện trở kỹ thuật trong

. R
Max
=
2,5 . 50 = 1,25V
c) R =
R
S
S
 .
ρ
ρ
=⇒
S =
6
6
10.1,1
50
50.10.1,1


=
m
2
thuật, kết hợp C
8
nhận
dạng 2 loại R
Trong kỹ thuật
- Yêu cầu học sinh hoàn
thành C

Số bài Điểm
0
Điểm
1,2
Điểm 3,4 Điểm 5,6 Điểm 7,8 Điểm
9,10
108 0 0 15 45 36 12
Đạt
86,1%
0% 0% 13,9% 41,1) 33,9% 11,1%
Kết quả thu được khi dạy theo phương pháp mới:
Số bài Điểm
0
Điểm
1,2
Điểm 3,4 Điểm 5,6 Điểm 7,8 Điểm
9,10
108 0 0 0 3 66 39
Đạt
86,1%
0% 0% 0% 2,8% 61,1% 36,1%
C. Kết luận
Để đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu giáo dục đào tạo của đất nước ta, xu thế giáo
dục của thế giới hiện nay thì việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn vật lý
nói riêng là không thể thiếu được.
Trên đây là những giải pháp của tôi trong đổi mới phương pháp dạy học môn Vật
lý. Tôi đã mạnh dạn vận dụng vào trong giảng dạy đã thu hút được kết quả. Cụ thể là học
sinh ham học và yêu thích môn Vật lý hơn, số học sinh khấ giỏi tăng lên. Các em đã thấy
được tầm quan trọng của môn vật lý, thấy được những thành tựu của vật lý và kỹ thuật
phục vụ rất nhiều cho cuộc sống của con người trên mọi mặt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status