Thư viện điện tử
GIÚP HỌC SINH GIẢI TOÁN CÓ VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN LỚP BA.
Cô Huỳnh Thị Việt
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH GIẢI TOÁN CÓ VĂN TRONG
CHƯƠNG TRÌNH TOÁN LỚP BA.
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
1.Tầm quan trọng , thực trạng và lí do chọn đề tài:
Chương trình toán 3 là một bộ phận của chương trình toán tiểu học. Chương trình này
tiếp tục thực hiện những đổi mới về giáo dục toán học ở các lớp 1và 2; khắc phục những
tồn tại của dạy toán lớp 1,2,3 theo chương trình cũ; góp phần thực hiện đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông, nhằm đáp ứng những yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai
đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong chương
trình dạy-học toán ở tiểu học, thì chương trình toán lớp 3 đóng một vai trò trọng yếu. Lớp
3 là lớp kết thúc giai đoạn đầu của bậc tiểu học, do vậy cần phải chuẩn bị đầy đủ kiến
thức cơ sở để học sinh học tốt giai đoạn cuối của bậc tiểu học và làm nền tảng cho các
cấp học sau này.
Ở lớp ba cùng với việc học các phép tính cộng trừ nhân, chia trong phạm vi 100,
1000,10000,100000 học sinh bắt đầu làm quen và giải loại toán hợp Bài toán giải bằng
hai phép tính( cộng, trừ, nhân, chia) từ những loại toán đơn nên các em còn ngỡ ngàng
Qua 7 năm dạy thay sách lớp 3, trên thực tế của lớp tôi có một số em giỏi toán và một số
em học toán chậm, nhất là loại toán giải có văn.Trong từng tiết học, để những học sinh
yếu này tiếp thu, giải được những bài toán có lời văn là cả một vấn đề khó khăn. Các em
thường rất ngại làm bài, sợ giải toán vì khả năng tư duy (phân tích, tổng hợp) của các em
có nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, do đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi, các em còn vội
vàng, hấp tấp, đơn giản hoá vấn đề nên đôi khi chưa đọc kĩ đề, chưa hiểu kĩ đề đã vội
vàng làm bài, dẫn đến kết quả còn nhiều khi sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đủ.Với
mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục, phát triển nhân cách cho
học sinh, góp phần nâng cao chất lượng học tập của các em đồng thời nâng cao năng lực
sư phạm cho bản thân, trong quá trình giảng dạy tôi đã đúc kết Một số biện pháp giúp học
Hệ thống lại kiến thức đã học ở lớp 1,2 là tối cần thiết. Ở lớp 1,các em đã học các bài
toán đơn giản giải bằng một phép tính cộng hoặc một phép chủ yếu là các bài toán thêm
bớt một số đơn vị trừ . Loại toán này đơn giản nhưng cũng phải củng cố cho các em nắm
vững thì mới làm được các bài toán trên.
Ví dụ:
- Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An có mấy con gà?
- Đàn vịt có 5 con ở dưới ao và 4 con ở trên bờ Hỏi đàn vịt có bao nhiêu con?
- Lớp 1B có 35 bạn,trong đó có 20 bạn nữ. Hỏi lớp 1B có bao nhiêu học sinh nam?
- Nhà An có 9 con gà ,mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn mấy con gà?
Đây là những bài toán có dữ kiện cụ thể. Các em cần suy nghĩ làm tính cộng hay tính trừ
là đúng và chú ý dựa vào câu hỏi mà trả lời cho đúng.
b/ Hệ thống lại kiến thức ở lớp 2:
Ở lớp hai các em được ôn lại các dạng toán lớp một và luyện thêm các dạng toán mới.
Giải các bài toán bằng một phép tính cộng hoặc trừ hoặc nhân hoặc chia (trong đó có
các bài toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị; bài toán nhân, chia).
Ví dụ:
- Con lợn to cân nặng 92kg, con lợn bé nhẹ hơn con lợn to 16kg. Con lợn bé cân nặng
bao nhiêu kg?
- Lan hái được 24 bông hoa, Liên hái được nhiều hơn Lan 16 bông hoa. Hỏi Liên hái
được bao nhiêu bông hoa?
-Có 15 kg gạo chia đều vào 3 túi. Hỏi mỗi túi có mấy kg gạo?
- Có 35 quả cam xếp vào các đĩa mỗi đĩa 5 quả cam. Hỏi xếp được vào mấy đĩa?
- Mỗi can đựng 3 lít dầu. Hỏi 5 can như thế đựng được bao nhêu lít dầu?
Đây là các bài toán cũng có dữ kiện cụ thể. Cho học sinh nhận xét dữ kiện, tóm tắt đề
toán, tìm ra cách giải, suy nghĩ làm tính cộng hay tính trừ hay tính nhân hay tính chia là
đúng và chú ý dựa vào câu hỏi mà trả lời cho đúng.Với cách làm này, học sinh mạnh dạn
tự tin vào bản thân, dần ham thích giải toán, để thể hiện khả năng của chính mình.
Vai trò của người thầy cũng rất quan trọng. Lời phát biểu của các em dù đúng hay sai,
giáo viên cần phải có lời động viên hợp lí. Nếu học sinh phát biểu sai hoặc chưa đúng,
giáo viên động viên: "gần đúng rồi, em cần suy nghĩ thêm tí nữa sẽ tìm ra lời giải chính
• HSTB: Số vải đã bán quan hệ thế nào với số vải trong cuộn vải?(đã bán được cuộn
vải)
Đi tìm cuộn vải tức là tìm một phần mấy của một số ta làm thế nào?(lấy số vải
trong cuộn chia 3)
+ Gọi HS nêu bài giải theo hướng ngược lại.
Bài giải:
Số vải đã bán là:
81: 3 = 27(m)
Số vải còn lại là:
81- 27 = 54(m)
Đáp số: 54m
Ví dụ 2:
Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ, mỗi tủ 4 ngăn. Hỏi mỗi ngăn có bao nhiêu quyển
sách, biết rằng mỗi ngăn có số sách như nhau?
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, phân tích tách riêng từng câu của đề bài theo
hướng từ đầu đến cuối.
Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ ta tìm được gì?( Số sách mỗi tủ là 240:2 = 120
(quyển))
Mỗi tủ có 120 quyển mà mỗi tủ có 4 ngăn ta tìm được gì?( Số sách mỗi ngăn là
120:4=30(quyển))
Bài giải:
Số sách mỗi tủ là
240:2=120 (quyển)
số sách mỗi ngăn là:
120:4=30(quyển)
Đáp số:30 quyển
*Với bài toán có nhiều câu hỏi:
Ví dụ:
Năm nay em 6 tuổi, chị 12 tuổi. Hỏi:
a. Chị hơn em bao nhiêu tuổi?
trên( vì người ta cho số bé, yêu cầu tìm số lớn)
- Ít hơn một số đơn vị : Làm tính cộng
- Nhiều hơn một số đơn vị: Làm tính trừ
- Gấp một số lần: Làm tính chia
- Giảm một số lần: Làm tính nhân
Ví dụ 1:
Tùng có 15 hòn bi ,Tùng có nhiều hơn Bình 2 hòn bi. Hỏi hai bạn có bao nhiêu hòn bi?
Hướng dẫn HS: Đề bài cho biết gì? Đề bài hỏi gì?
Để tìm số bi hai bạn, trước tiên ta phải tìm số bi của ai?(của bạn Bình)
Số bi của bạn Bình liên hệ với số bi của bạn Hùng như thế nào? (Tùng nhiều hơn Bình 2
hòn bi)
Vậy số bi của bạn Bình như thế nào với số bi của bạn Tùng? (ít hơn)
Bài giải:
Số bi của Bình có là: 15 - 2 = 13 (hòn bi)
Số bi của hai bạn có là: 15 + 13 = 28 (hòn bi)
Đáp số: 28 hòn bi
Ví dụ 2:
Thuỳ có 30 que tính, Thuỳ có gấp 3 lần Hà. Hỏi hai bạn có tất cả bao nhiêu que tính.
Bài giải:
Số que tính của Hà là: 30 : 3 = 10 (que tính)
Số que tính của hai bạn là: 30 + 10 = 40 (que tính)
Đáp số: 40 que tính
Ví dụ 3:
Lớp 3/2 có số học sinh của lớp tham gia lao động, biết số học sinh tham gia lao động
là 7 em. Hỏi lớp 3/2 có tất cả bao nhiêu em?
Với biện pháp này, các em được nâng cao trình độ tư duy lên một bước. Từ đó các em
chọn cách giải đúng, chính xác để hình thành kĩ năng giải toán có lời văn rõ ràng, chính
xác.
*Đối với các bài toán có nội dung hình học:
Yêu cầu HS trước tiên phải hiểu và thuộc công thức tính chu vi, diện tích và biết vận
Số bọc giấy của 100 tập là: 100 : 10 = 10 (bọc)
Đáp số: 10 bọc
Lưu ý: Đây là bài toán hợp, liên quan đến việc rút về đơn vị. Tên đơn vị của hai phép tính
khác nhau. Phép tính trên có tên đơn vị đại lượng 1. Phép tính dưới có tên đơn vị của đại
lượng 2(đại lượng phải đi tìm chính là đáp số bài toán).
5. Giúp học sinh tư duy, sáng tạo
Vào buổi thứ hai trong ngày để phát huy tính sáng tạo, óc quan sát sự suy nghĩ và cũng để
kiểm tra kiến thức của học sinh. Giáo viên có thể cho học sinh tự nêu câu hỏi trong đề
toán mà những dữ kiện giáo viên đã cho sẵn
Ví dụ 1: Gà có 18 con , vịt có 6 con. Hỏi ?
Cho học sinh tự nêu câu hỏi, mỗi em một câu không trùng nhau để bài toán giải bằng một
phép tính, sau đó nêu cách giải ứng với từng câu hỏi.
HSA: Gà hơn vịt bao nhiêu con?
HSB: Gà ít hơn vịt bao nhiêu con?
HSC: Số gà gấp số vịt bao nhiêu lần?
HSD: Số vịt bằng một phần mấy số gà?
HSE: Gà và vịt có bao nhiêu con?
HSG: Số vịt bằng số gà giảm đi mấy lần?
Tương ứng với mỗi câu hỏi là một bài toán đơn và bắt buộc học sinh suy nghĩ tìm ra
cách giải, như vậy ta vừa kiểm tra được kiến thức của học sinh vừa ôn tập các dạng toán
đã học qua cho các em.
Ví dụ 2:
Cửa hàng có 369 chiếc xe, người ta đã bán số xe. Hỏi ?
Để bài toán giải bằng 1 phép tính thì đặt câu hỏi như thế nào? Học sinh sẽ tự nêu câu hỏi.
VD: Người ta đã bán bao nhiêu xe?
Để bài toán giải bằng 2 phép tính thì đặt câu hỏi như thế nào? Học sinh sẽ tự nêu câu hỏi.
VD: Cửa hàng còn bao nhiêu xe?
Tương tự với những dạng toán khác.
6. Giúp học sinh tìm nhiều cách giải:
Tính cách giải đúng là chưa đủ, giáo viên còn cần phải giúp học sinh tìm nhiều cách giải.
Ví dụ 2:
Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ, mỗi tủ 4 ngăn. Hỏi mỗi ngăn có bao nhiêu quyển
sách, biết rằng mỗi ngăn có số sách như nhau?
Cách 1:
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, phân tích tách riêng từng câu của đề bài theo
hướng từ đầu đến cuối.
Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ ta tìm được gì?( Số sách mỗi tủ là
240:2=120 (quyển))
Mỗi tủ có 120 quyển mà mỗi tủ có 4 ngăn ta tìm được gì?( Số sách mỗi ngăn là
120:4=30(quyển))
Bài giải:
Số sách mỗi tủ là
240:2=120 (quyển)
số sách mỗi ngăn là:
120:4=30(quyển)
Đáp số:30 quyển
Cách 2:
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, phân tích tách riêng từng câu của đề bài từ
giữa.
2 tủ, mỗi tủ 4 ngăn ta tìm được gì? ( Số ngăn của hai tủ là 2 4 = 8 ngăn)
Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ (8 ngăn) ta tìm được gì?( Số sách mỗi ngăn là
240:8=30(quyển))
Bài giải:
Số ngăn sách hai tủ là
2 4 = 8( ngăn)
số sách mỗi ngăn là:
240:8=30(quyển)
Đáp số:30 quyển
` Để thực hiện được nhiều cách giải, giáo viên phải yêu cầu các em thật chú ý đến yêu
cầu của đề, hiểu kỹ đề, tên đơn vị của mỗi phép tính; phải gợi ý dần dần, từng bước để
Ngoài sự tiến bộ của các em trên, tỉ lệ học sinh khá, giỏi về môn toán của cả lớp cũng
tăng lên đáng kể, thể hiện qua bảng sau:
XÕp lo¹i KSCL
ĐN GIỮA KÌ I CUỐI KÌ I GIỮA KÌ II CUỐI KÌ II CẢ NĂM
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
Giỏi 18 53.6 23 71.0 27 79.4
Khá 10 29.0 8 23.2 7 17.7
Trung bình 4 11.6 2 5.8 1 2,9
Yếu 2 5.8 0 0 0 0
(Hai bảng thống kê trên chưa có kết quả giữa kỳ II)
Những con số thống kê này cũng thể hiện được phần nào thành công bước đầu của tôi
qua gần một năm áp dụng một số kinh nghiệm như ở phần trình bày trên.
IV/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Trên cơ sở kết quả đạt được của học sinh, tôi rút ra một số kinh nghiệm bước đầu như
sau:
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải xác định chính xác năng lực, trình độ của
học sinh từ đó phân loại học sinh để dạy theo hướng phân hóa đối tượng, chú trọng nhiều
đến đối tượng học sinh trung bình, khá. Trong mỗi tiết học giáo viên cần quan tâm đến
từng đối tượng HS tùy theo trình độ, tố chất của các em. Giáo viên cần nêu những câu
hỏi, bài toán vừa với sức học, tránh những yêu cầu quá dễ hoặc quá khó làm cho HS
giỏi, khá thấy nhàm chán, hoặc ngược lại tạo tình trạng căng thẳng cho HS trung bình,
yếu kém từ đó dễ nảy sinh tâm lý chán nản, lười biếng trong HS.
- Dạy học sinh các bài tập từ dễ đến khó, nhất là phân tích các bài toán hợp thành các
bài toán đơn trong các mối quan hệ để học sinh tự giải.
- Chú trọng rèn luyện kĩ năng đọc kỹ đề, phân tích, tìm ra yêu cầu một cách đầy đủ và
chính xác
- Rèn kĩ năng tính toán chính xác, những em chưa thuộc bảng nhân, chia, cộng, trừ thì
GV qui định thời gian cho các em học và thường xuyên kiểm tra .
Trên đây là một vài kinh nghiệm của bản thân trong việc sử dụng các biện pháp để