PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đánh giá thực trạng, tiềm năng và các giải pháp phát triển ngành chăn
nuôi của huyện Cẩm Xuyên là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu.
Thật vậy, tỷ trọng ngành chăn nuôi của huyện Cẩm Xuyên còn thấp so với
ngành trồng trọt. Theo thống kê của huyện tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm
35,1% (năm 2007).
Vấn đề đặt ra là phải làm gì, làm như thế nào để đưa tỷ trọng của
ngành chăn nuôi tăng lên, đồng thời khai thác các tiềm năng, lợi thế sẵn có
như đất đai, lao động để khắc phục những khó khăn, đề ra các giải pháp phát
triển ngành chăn nuôi của huyện một cách có hiệu quả và giải quyết công ăn
việc làm và đem lại nguồn thu nhập cao cho người dân.
Đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi trước hết cần có bức tranh
về thực trạng và xác định được tiềm năng. Từ bức tranh thực trạng đó để có
hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, cần có kiến thức khoa
học kỹ thuật để áp dụng rộng rãi vào sản xuất làm tăng năng suất, chất lượng
cây trồng, vật nuôi.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài :
”Động thái phát triển nông nghiệp và một số đề xuất phát triển chăn nuôi
ở huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.”1
PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Tình hình cơ bản của huyện Cẩm Xuyên
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh là một huyện đồng bằng ven biển
thuộc vùng Duyên Hải Bắc Trung Bộ, nằm phía Đông Nam của tĩnh Hà
Tĩnh, có toạ độ địa lý từ 18002’18” đến 18020’51” vĩ độ Bắc và từ
Cũng như toàn Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên năm trong vùng khí hậu nhiệt
đới gió mùa và chịu ảnh hưởng lớn của gió nóng Tây Nam (gió Lào), nhưng
nhìn chung khí hậu khá khắc nghiệt và được phân thành 2 mùa rõ rệt. Mùa
nắng từ tháng 4 đến tháng 8 mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Trong
năm chủ yếu có 3 hướng gió chính đó là:
+ Gió đông bắc vào mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
+ Gió đông nam (gió nồm) vào các tháng 9 đến tháng 10 và xen lén
vào các tháng trong năm.
+ Gió tây nam vào mùa nắng từ tháng 4 đến tháng 8.
Tổng lượng mưa bình quân tương đối lớn trên 2000 mm, phân bố
không đều giữa các tháng trong năm, Độ ẩm bình quân năm là 86 %.
2.1.1.4. Chế độ thuỷ văn:
Huyện có hệ thống sông, suối khá dày đặc, nhưng nhìn chung, chiều
dài của các con sông ngắn, lưu vực nhỏ, suối có độ dốc nhỏ và tốc độ dòng
chảy lớn, chủ yếu về mùa mưa lũ gây xói mòn, rữa trôi đất. Cẩm Xuyên có
nguồn nước mặt khá dồi dào nhờ hệ thống sông, suối, kênh mương dày đặc
và nhiều hồ đập. Đặc biệt phải kể đến các hồ như hồ Kẻ Gỗ, hồ sông Rác, hồ
Bộc Nguyên, hồ Thượng Tuy. Chỉ tính riêng hồ Kẻ Gỗ với dung tích 450
triệu m
3
nước, không những đủ cung cấp nguồn nước sinh hoạt và sản xuất
cho huyện mà còn cung cấp nước tưới cho một số vùng lân cận như thị xã
Hà Tĩnh, huyện Thạch Hà.
2.1.1.5. Quản lý đất đai:
Đến năm 2007 huyện Cẩm Xuyên đã hoàn thành việc lập QH-KH sử
dụng đất đến năm 2010 cho 26/27 xã, thị trấn ( đạt 96,3 %, QHSD đất cấp
xã) đưa vào công bố QH-KH sử dụng đất đai đảm bảo theo QH-KH đã được
phê duyệt.
Hiện nay, huyện đang tập trung tổ chức lập QHSD đất đến năm 2015
và định hướng sử dụng đất đến năm 2020 cho đơn vị thị trấn Cẩm Xuyên.
xuất khẩu.
Tổng mức bán lẽ hàng hoá và dịch vụ ước đạt 230.683 triệu đồng, đạt
110,5 so với cùng kỳ.
4
2.1.2.2.Tình hình xã hội:
* Dân số
Theo số liệu thống kê đến ngày 31/12/2007 thì dân số của huyện là
157.506 người với 36.682 hộ; năm 2006 dân số huyện là 154.645 người. Tỷ
lệ phát triển dân số đang có xu hướng giảm dần đến 1 %/năm, bình quân mỗi
năm từ 2,5 - 3 %. Năm 2007 tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giảm xuống 0,62
% ( năm 2006 là 0,65 %) .
Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đã có xu hướng giảm. Tuy nhiên tỷ lệ
đó còn cao, số lượng người năm trước so với năm sau chênh lệch còn quá
lớn.
* Lao động và việc làm:
Đến năm 2007 huyện có 68.334 lao động chiếm 43,38 % dân số.
Trong đó, lao động nông nghiệp có 57.316 người chiếm 83,87 % trong tổng
số lao động; còn lại 16,13 % là lao động tham gia trong các lĩnh vực khác.
2.1.3. Tình hình cải tạo chất lượng đàn giống của huyện Cẩm Xuyên
những năm qua
2.1.3. 1 Đối với đại gia súc Trâu Bò
Những năm qua huyện Cẩm Xuyên đã được sự quan tâm của nhà
nước, của tỉnh nhà, song thực chất kết quả đạt được chưa cao, chưa tương
xứng với tiềm năng của huyện. Đó là do nhiều yếu tố quan trọng tác động.
- Chuyển dịch kinh tế thấp, tiềm năng để phát triển chăn nuôi còn lớn
nhưng chưa khai thác đúng mức.
- Nhận thức của cán bộ và nhân dân về kinh tế thị trường còn hạn chế,
thiếu thông tin về thị trường nên công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi còn chậm và nhỏ lẻ, tư duy làm kinh tế còn mang tính bảo thủ, chưa
mạnh dạn đầu tư lớn, hiệu quả đạt được còn thấp.
lệ nạc cao, tăng trọng nhanh, đã được đưa vào chăn nuôi thu hiệu quả kinh tế
cao. Hiện nay, trước cơ chế thị trường việc tiến tới nạc hoá đàn lợn đang
được chú ý, việc lai tạo cho ra con lai 3/4 máu ngoại đang được quan tâm
nhiều.Trong mục tiêu chiến lược đến năm 2015 Huyện Cẩm Xuyên có
hướng chuyển đổi đàn lợn như sau:
Đưa quy mô đàn lợn lên 145.000 con, trong đó đàn lợn siêu nạc đạt
70% tổng đàn lợn thịt. Đàn lợn nái là 30.000 con chủ yếu là nái ngoại và lai
máu ngoại để thực hiện nạc hoá đàn lợn. Sản lương thịt xô lọc đạt trên
67.000 tấn.
Tập trung phát triển các cơ sở chăn nuôi lợn quy mô lớn từ 100 con trở
lên.
Tăng cường hình thức liên doanh liên kết trong chăn nuôi nhằm tranh
thủ nguồn vốn , kỹ thuật sản xuất và bảo đảm đầu ra cho sản phẩm
6
Mở rộng mạng lưới thụ tinh nhân tạo, giải quyết tốt công tác phòng trừ
dịch bệnh vệ sinh thú y, xây dựng vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh gắn với
việc xây dựng các cơ sở giết mổ chế biến theo tiêu chuẩn.
2.1.3.3 Về gia cầm
+ Đàn gà: do nguồn gốc gà ta có nhiều ưu điểm như trứng, thịt thơm
ngon, khéo nuôi con nhưng tầm vóc nhỏ bé. Thì hiện nay, ta đã lai tạo thành
công một số giống gà như:
- Từ dòng 433 x dòng 488 sau hai thế hệ cho ra con lai 3 máu 791 chất
lượng, hiệu quả cao.
- Từ dòng V3 xV5 sau hai thế hệ cho ra con lai 3 máu V1, V3, V5,
chất lượng tốt, năng suất hiệu quả kinh tế cao.
Trong các năm gần đây huyện đã nhập về một số giống có năng suất
cao gia cầm lai, gà Tam Hoàng, giống gà Lương Phượng. Hiện nay, giống gà
lai giữa gà địa phương với Tam Hoàng hoặc gà Lương Phượng có mức tăng
trọng nhanh hơn, được người tiêu dùng ưa chuộng đang được nuôi phổ biến.
Phấn đấu đến năm 2015 có quy mô đàn gia cầm là: 920.000 con. Phát
lượng đàn trâu, bò khá lớn tính thích nghi cao, nguồn sản phẩm phụ nông
nghiệp dồi dào, có nhiều bãi chăn thả lớn. Đây chính là những thuận lợi để
phát triển ngành chăn nuôi.
Diện tích gieo trồng cây lương thực và hoa màu lớn, tạo nên lượng lớn
các sản phẩm phụ và phế phụ phẩm. Nếu được chế biến bảo quản tốt thì đây
là nguồn thức ăn dồi dào cho gia súc, gia cầm trong những tháng mưa rét.
Bên cạnh đó huyện có nhiều cơ hội, được nhiều dự án hỗ trợ cho phát
triển chăn nuôi, có một thị trường rộng lớn đó là khu vực phụ cận của thành
phố Hà Tĩnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu kinh tế xã hội mà đã đạt được.
Huyện nhà vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, đó là: quy mô phát triển kinh tế
còn nhỏ lẻ , nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp người dân xử lý chế biến chưa
khoa học, chưa đảm bảo với yêu cầu chất lượng thức ăn và để dự trữ lâu dài.
Hệ thống dịch vụ chăn nuôi thú y còn hạn chế, chưa đáp ứng với nhu
cầu của người dân.
Hệ thống chuồng trại chưa được đầu tư thích đáng, người dân chưa
dám mạnh dạn đầu tư lớn cho chăn nuôi theo hướng công nghiệp sản xuất
hàng hóa.
2.2. Các hệ thống chăn nuôi
2.2.1 Hệ thống chăn nuôi trâu bò
+ Hệ thống quảng canh
Là hệ thống phù hợp với vùng gò đồi, có diện tích đồng cỏ rộng, số
đầu gia súc ít, gia súc chủ yếu tự thu nhặt thức ăn trên đồng cỏ ít được bổ
8
sung thêm các loại thức ăn tinh bột. Với hệ thống chăn nuôi này đem lại
năng suất và lợi nhuận thấp.
Hệ thống chăn nuôi kết hợp với trồng trọt
Hệ thống chăn nuôi này hiện nay đang được áp dụng nhiều. ở đây mùa
vụ được bố trí quanh năm, vai trò của kiểu chăn nuôi này là tận dụng các sản
phẩm dư thừa trong ngành trồng trọt nhưng phải đảm bảo không xâm hại đến
protein, chất dinh dưỡng, chất khoáng cho vật nuôi, góp phần làm giảm
lượng nhu cầu tinh bột trong khẩu phần thức ăn, tăng hiệu quả kinh tế, hạ giá
thành sản phẩm.
+ Chăn nuôi kết hợp chăn dắt, bổ sung thức ăn
Các chất dinh dưỡng hằng ngày động vật đưa vào cơ thể từ thức ăn
trên đồng cỏ như như protein, tinh bột, khoáng, vitamine không đủ so với
nhu cầu và cần được bổ sung hàng ngày nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi.
Mô hình này đã trở thành biện pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất sản
phẩm và phẩm chất của thịt gia súc.
Theo Preston và Leng (1986) thì việc bổ sung thức ăn nhằm tạo ra một
hệ thống sinh thái (Ecosystem) hữu hiệu giúp cho sự lên men tiêu hóa chất
xơ trong dạ cỏ, để từ đó các sản phẩm đã được tạo ra từ sự lên men với các
chất dinh dưỡng thoát qua (ByPass) trong khẩu phần để tạo ra sản phẩm cần
thiết.
Việc bổ sung thức ăn hằng ngày điều chú ý nhất là thức ăn đa dinh
dưỡng. Vì trong cơ thể khi được cung cấp đầy đủ thức ăn đa dinh dưỡng thì
nó làm cân bằng hệ sinh thái đường ruột, thúc đẩy mạnh quá trình tiêu hóa,
giúp cho con vật ăn được nhiều, tỷ lệ tiêu hóa cao. Bên cạnh đó, việc bổ sung
các loại thức ăn thô xanh đã phần nào được chú ý, nhưng biện pháp bổ sung
thức ăn thô xơ khô đã được chế biến từ các sản phẩm phụ của ngành trồng
trọt chưa được quan tâm và chú ý đến nhiều còn đang quá lãng phí.
2.2.2. Hệ thống chăn nuôi lợn
+ Hệ thống chăn nuôi kiêm dụng
Mục đích của nghề nuôi lợn là sử dụng các sản phẩm dư thừa của
trồng trọt, các phụ phế phẩm của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm như
rau khoai, sắn, bã mắm, bột cá, đầu tôm, cua, bã bia, rượu.v.v. và chuyển
chúng thành các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, đồng
thời lại cung cấp cho ngành trồng trọt một lượng phân hữu cơ có giá trị cho
cây trồng phát triển. Bên cạnh đó tận dụng một cách tối đa sức lao động dư
thừa của ngành nông nghiệp và có thể tận dụng cả sức lao động người già và
quân trứng/mái/năm, giữ nguyên hoặc giảm đầu gà mái, khai thác trứng đến
75 - 78 tuần tuổi, sản lượng trứng đạt 290 - 315 quả/con/năm.
- Loại mô hình này tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, nên chú ý đến việc
hạn chế , việc phát triển trọng lượng gà.
- Điều kiện gà mái đạt 50% tỷ lệ đẻ ở tuổi sớm hơn trước là từ 150 -
155 ngày tuổi (Loman, Dekalb) .
- Chất lượng trứng tốt, tỷ lệ dập vỡ không quá 2%, muốn đạt được
theo hướng này thì cần chọn lọc, lai tạo để tạo ra giòng tốt.
+ Nuôi gà hướng thịt: là mô hình chăn nuôi công nghiệp phát triển
theo xu thế công nghiệp hóa nhằm vào thị trường để phát triển và cung cấp
thịt cho tiêu dùng và cho xuất khẩu. Việc tạo ra các giống có thể trọng lớn,
tốc độ sinh trưởng nhanh, sử dụng thức ăn tốt, có lông màu trắng, rút ngắn
thời gian nuôi, chất lượng thức ăn cao, đảm bảo tỷ lệ Protein thô từ 24 -
26%. Phải tìm cách giảm chi phí thức ăn trên một đơn vị sản phẩm, tìm các
nguồn thức ăn mới, tận dụng tối đa các phế phụ phẩm của công nghiệp chế
biến để phát triển.
2.2.4 Hệ thống chăn nuôi vịt
Bên cạnh việc phát triển gia súc, gia cầm thì các mô hình chăn nuôi vịt
nói riêng và thủy cầm nói chung đã có nhiều hướng phát triển tốt trên thế
giới và trong nước nó cũng tồn tại và phát triển theo các xu hướng sau.
+ Nuôi với hình thức kiêm dụng có tính chất chăn thả tự nhiên trên các
cánh đồng, ao hồ, đập, tự tìm kiếm các loại thức ăn rơi vãi chủ yếu với mục
đích nuôi để cải thiện đời sống, có tính nhỏ lẻ, một hộ nuôi từ 10 - 15 con
12
nhằm cung cấp một phần thực phẩm hằng ngày cho con người. Do vậy tính
chất hàng hóa của kiểu mô hình này thấp, tính chuyên nghiệp chưa cao,
không thể trở thành chăn nuôi hàng hóa.
+ Chăn nuôi kết hợp với sản xuất lúa nước đây là mô hình được áp
dụng ở các vùng đồng bằng hay còn gọi là mô hình " Vịt - Lúa". Đối với mô
hình này vịt (ngan) có thể tự tìm kiếm thức ăn ở trên các cánh đồng và đồng
+ Có khả năng thích nghi cao, chống chịu bệnh khá, đặc biệt như bệnh
ký sinh trùng và các bệnh khác.
+ Khả năng sử dụng thức ăn thô cao, phù hợp với điều kiện phát triển,
hiện nay đó là (trồng trọt, chăn nuôi).
Giống bò Zebu : Đây là nhóm bò thuộc gốc nhiệt đới như Ấn Độ
Pakistand, nó bao gồm các giống như: Redsindhi - Sahiwal - Guzerat
-Ongole.
Hiện nay các nước nhiệt đới ẩm trên thế giới đang dùng bò Zebu để
cải tạo đàn giống bò cao sản, chủ yếu là về sức chịu đựng. Mặt khác do tính
năng các giống bò này tốt và hợp với điều kiện ở Việt nam.
Ngoài ra hiện nay đã có một số giống đã và đang nuôi tại Việt Nam
như: Holstein nó được nhập vào Việt Nam những năm 1959 qua con đường
Trung Quốc, lúc đầu nuôi ở Ba Vì song do điều kiện thích nghi không tốt
đàn bò bị giảm xuống thì năm 1962 được đưa lên nuôi ở Mộc Châu, Sơn La
thì dần dần phát triển trở lại bình thường.
Những năm sau này nó được đưa vào Việt nam qua con đường từ
Cuba vào Mộc Châu, Lâm Đồng và hiện nay phát triển khá, sản lượng sữa
cho từ 4000 - 5000 kg/chu kỳ.
+ Công tác giống lợn
Lợn là loại được con người thuần hóa từ rất lâu đời, nó có nguồn gốc
chủ yếu là từ lợn rừng châu Âu và châu á. (Susscrofa và Susvitatus,
Susorientalis.). Lợn Móng Cái hiện là giống nội có tầm ảnh hưởng lớn nhất
trong cả nước và nó đang được làm nền trong công tác lai tạo giống.
Lợn Móng cái có nguồn gốc tại huyện Đầm Hà, Hà Cối, Tiên Yên (Quảng
Ninh).
Ngoại hình có đầu đen, giữa trán có chấm trắng, hình tam giác hoặc
hình thoi, vai và cổ có vành trắng vắt qua tạo thành hình yên ngựa.
Đặc điểm sinh sản, thành thục về tính tương đối sớm, lợn con sơ sinh
có trọng lượng từ 0,5 - 0,6kg/con. Tăng trọng trung bình 3 - 10kg/tháng. Thịt
ngon thơm. Về ưu điểm có ngoại hình đồng nhất, bụng gọn vú nhiều, phát
việc phát triển chăn nuôi vì qua nhiều đề tài nghiên cứu của nhiều nhóm
khoa học và nhất là việc đưa bò sữa nuôi ở Việt nam năm 1959 tại Ba Vì đã
cho thấy. Mặc dầu giống bò sữa Holsteinfriz là giống tốt nhưng khi đến Ba
Vì do điều kiện không thích hợp nên năng suất giảm rõ rệt, sau đó đưa lên
Mộc Châu nó lại phát triển bình thường.
15
Ví dụ: Điều kiện dịch bệnh nếu xẩy ra sẽ làm cho quá trình phát triển
của gia súc chậm lại. Trong mùa hè khí hậu nóng làm con vật phải tăng
cường hô hấp vừa phải tiêu hao nhiều năng lượng, lượng ăn vào giảm lại bị
mệt mỏi dẫn đến gầy yếu, trọng lượng cơ thể và các sản phẩm thịt, sữa, sức
cày kéo đều giảm.
Các yếu tố hạn hán, giá rét, mùa vụ cũng làm ảnh hưởng đến vật nuôi,
thông qua việc đáp ứng đầy đủ, hay thiếu thức ăn, dinh dưỡng cho gia súc ,
đặc biệt trâu, bò yếu tố mùa vụ có ảnh hưởng lớn nhất. Vì quá trình sinh
trưởng của nó hầu như phụ thuộc cơ bản vào thức ăn thực vật, cây cỏ và các
loại thức ăn thô xanh, khác.
Để giải quyết vấn đề trên, đồng thời khắc phục tình trạng thường vẫn
xẩy ra là mất cân đối thức ăn giữa các mùa trong năm, cần làm tốt các giải
pháp sau đây.
Cần có kế hoạch và biện pháp tác động kỹ thuật vào việc sơ chế, chế
biến bảo quản các phụ phế phẩm của ngành trồng trọt như rơm, rạ, lá sắn,
đậu đỗ.
2.3.3 Điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc
Ngoài các yếu tố trên công tác nuôi dưỡng chăm sóc phải có tính khoa
học, đầu tư chăm sóc hợp lý thì đem lại hiệu quả kinh tế cao và rõ nét hơn.
Ví dụ: Giống bò: HereFord lúc 12 tháng tuổi, nếu chăn thả tự nhiên không
bổ sung thêm các thức ăn giàu dinh dưỡng thì trọng lượng chỉ đạt khoảng
120 - 130kg.
Ngược lại nuôi theo mô hình công nghiệp thức ăn đảm bảo thì trọng
lượng cơ thể đạt từ 230 - 260kg , hoặc như bò vàng Việt Nam nếu có chế độ
o
C, thân nhiệt
bên trong lên đến 39,7
o
C, bên cạnh đó bò Jersey có thân nhiệt bên trong chỉ
39,3
o
C , từ đó ta thấy bò Holstein Hà Lan đã đi tìm chỗ bóng mát để nghỉ
còn bò Jersey vẫn đi lại gặm bình thường.
Qua nghiên cứu trên nhiều loài động vật thông qua điều tra
NA.Crapxco (1963) đã chia sự thích nghi ra thành 3 cấp độ khác nhau đó là
+ Nếu giống thích nghi thì sinh trưởng và phát triển bình thường.
+ Nếu giống chưa hoàn toàn thích nghi ngay với điều kiện mới thì sau
một vài đời nuôi thuần chủng nó có thể thích nghi bình thường.
+ Nếu giống không thích nghi thì sau một vài đời thoái hóa và diệt
vong.
17
Điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn với sự thích nghi, do đó cần
phải chú ý khi nhập các loại con giống. Vì không dễ gì khi nhập một loại
giống vào để sử dụng mà nó thích nghi ngay với điều kiện mới.
Theo Hutte (1958) thông báo bò nhập từ vùng ôn đới vào nhiệt đới,
thường hay bị bệnh lao, bò gốc ôn đới khi nhập vào vùng nhiệt đới thì hay bị
ghẻ lở, các bệnh sinh dục.
Để tạo giống thích nghi con người đã biết cách vận dụng bằng cách
dùng chủ yếu là con đực ngoại có năng suất cao cho lai với con cái địa
phương, kết quả thu được khá hơn và có hiệu quả tốt hơn.
Sau một thời gian dài nghiên cứu, một số nhóm nhà khoa học đã kết
luận: ở môi trường mới thì loại gia súc nhỏ dễ thích nghi hơn gia súc lớn.
2.3.5. Thị trường và mức độ tiêu thụ sản phẩm ngành chăn nuôi
Trong tất cả các ngành sản xuất, yếu tố thị trường là động lực thúc đẩy
nâng cao chất lượng sản phẩn và hiệu quả kinh doanh mà thu hút được đại bộ
phận lao động dư thừa, tăng năng suất lao động xã hội, giải quyết việc làm,
tăng thu nhập và cải thiện đời sống nông dân. Trên cơ sở xúc tiến công
nghiệp hóa (CNH) nói chung, CNH nông nghiệp, nông thôn nói riêng mà
thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh,
vững chắc, có hiệu quả.
Đối với công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, phương hướng chung là tăng
nhanh tỷ trọng những ngành này trong cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn,
đa dạng hóa ngành nghề và dịch vụ phi nông nghiệp, phấn đấu đến năm 2000
đạt cơ cấu 50% nông nghiệp, 25% công nghiệp và 25% dịch vụ.
Về chích sách tài chính, NQTW5 chỉ rõ : Nhà nước dành phần đầu tư từ
ngân sách thỏa đáng đồng thời có chính sách và hình thức huy động nguồn
đầu tư của các thành phần kinh tế khác cho xây dựng kết cấu hạ tầng nông
thôn như thủy lợi, giao thông, điện, thông tin liên lạc, các cơ sở văn hóa, y
tế, giáo dục. Thay thuế nông nghiệp bằng thuế sử dụng đất, dành toàn bộ
nguồn thu từ thuế sử dụng đất đầu tư trở lại cho nông nghiệp và kết cấu hạ
tầng nông thôn, giảm giá thủy lợi phí và giá điện nông thôn.
Trong tình hình thị trường và giá cả không ổn định, Đảng và Nhà nước
đã có nhiều chủ trương, chính sách kinh tế, tài chính để hỗ trợ sản xuất nông
nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển nhanh và vững chắc. Chủ trương trợ
giá xuất khẩu cà phê, mua lúa tạm trữ 2 triệu tấn trong vụ đông xuân năm
2000 ở đồng băng sông Cửu Long, ổn định giá phân bón là rất đúng đắn và
kịp thờ . Đặc biệt, nghi quyết 09/NQ - CP ngày 15 tháng 6 năm 2000 của
Chính phủ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
19
đã tạo cơ sở pháp lý để phát triển nông nghiệp hàng hóa và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ rõ nét và cụ thể hơn.
Bước sang thế kỷ XXI , Đại hội IX của Đảng - Đại hội của trí tuệ, dân
chủ, đoàn kết, đổi mới là mốc son lịch sử đánh dấu thời kỳ phát triển mới
của Việt Nam với nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH
Lương thực hàng hóa tăng nhanh đảm bảo thỏa mãn mọi nhu cầu tiêu
dùng của dân cư với mức độ tăng dân số trên 1,3 triệu người/năm, bổ sung
nguồn thức ăn cho chăn nuôi và đáp ứng đầy đủ nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến với số lượng ngày càng tăng, sản phẩm ngày càng đa dạng.
Nhờ vậy mà an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm vững chắc kể cả
trong tình huống phức tạp của thời tiết. Nhiều năm qua trên phạm vi cả nước
không xẩy ra cơn sốt thị trường về giá cả lương thực, kể cả những năm thiên
tai lũ lụt lớn, hạn hán. Nạn đói giáp hạt cơ bản bị đẩy lùi và không có khả
năng tái diễn trên phạp vi rộng lớn. Hiện nay Việt Nam vẫn giữ vững vị trí
thứ 2 về xuất khẩu gạo của thế giới, chỉ đứng sau Thái Lan, thành tựu này
được cả thế giới công nhận.
Đa dạng hóa cây trồng, xóa dần thế độc canh lúa. Đó là nét mới, nét tiến
bộ khá rõ hiện nay. Sự phát triển của các cây cà phê, cao su, chè trong những
năm gần đây đã bước đầu xóa bỏ được tình trạng tự túc lương thực theo
phương hướng tự cung tự cấp ở các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.
Phương thức canh tác " đất nào cây nấy " lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu
đã được thực hiện ở nhiều vùng, nhiều địa phương từ miền núi đến đồng
bằng. ở những vùng có truyền thống độc canh cây lúa như đồng bằng Sông
Hồng, đồng bằng Sông Cửu Long cũng đã có chuyển biến tích cực về đa
dạng hóa cây trồng.
Chăn nuôi phát triển nhanh và toàn diện theo hướng hàng hóa. Năm
2000, đàn lợn đạt 19,52 triệu con, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng là 1,4
triệu tấn, tăng 67% và gấp 2,3 lần so với năm 1986. Đặc biệt đàn bò sữa tăng
khá, năm 2000 đạt gần 50 ngàn con , trong đó có 11951 con cho sữa, sản
lượng 37 ngàn tấn sữa tươi. Nét đổi mới của chăn nuôi bò sữa kỳ này là hình
thành và phát triển mô hình trang trại, nhập giống bò ngoại có năng suất cho
sữa cao, mở rộng phạm vi nuôi bò sữa ra nhiêu vùng. Cùng với bò sữa nhiều
ngành chăn nuôi mới tiếp tục phát triển theo hướng hàng hóa như nuôi cừu,
nuôi ong mật, nuôi gà công nghiệp, vịt siêu thịt, siêu trứng, ngan giống
ngoại, lợn hướng nạc. Đã góp phần đa dạng hóa vật nuôi và làm phong phú
Thực tế sản xuất ở các địa phương cho thấy vào những năm sản xuất
trồng trọt ổn định, tỷ trọng giá trị chăn nuôi chiếm trong nông nghiệp còn
thấp, mối tương quan về tăng trưởng chưa tương xứng. Theo số liệu thống kê
ở huyện Triệu Phong Quảng Trị riêng năm 1998 tỷ trọng giá trị chăn nuôi
đạt 31,8% trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, cao nhất trong cả thời kỳ
22
1996 -2000 nhưng không phải do sự phát triển tăng đột biến mà do năm
1998 ngành trồng trọt bị mất mùa nặng do thiên tai.
Tốc độ tăng tưởng ngành chăn nuôi ở các địa phương còn thấp, hiệu quả
kinh tế mang lại chưa cao. Thu nhập bình quân ước tính đầu người/năm từ
sản xuất chăn nuôi ở các tỉnh miền Trung là: 0,34 triệu đồng, chiếm 13,2 %
trong tổng thu nhập của nông hộ.
- Cơ cấu đàn chăn nuôi hiện nay chủ yếu là: Trâu, Bò, Lợn, Gà, Vịt đây
là những vật nuôi truyền thống từ lâu, chất lượng đàn thấp: trọng lượng xuất
chuồng bình quân: Trâu 200 kg, Bò 160 kg, lợn: 50 đến 55 kg. Mức tăng
trưởng sản lượng thịt hơi xuất chuồng bình quân hiện thời của các huyện là
khoảng 200 tấn, mức này còn thấp. Sản phẩm chăn nuôi chưa đa dạng và chủ
yếu là thịt và trứng.
Hệ thống sản suất nông nghiệp của các làng xã là trồng trọt và chăn
nuôi kết hợp để phục vụ cho nhu cầu lương thực thực phẩm của con người và
phần dư thừa được sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi. Các sản phẩm heo,
trâu, bò và gia cầm và một phần dư của sản phẩm trồng trọt như lạc và đậu
đỗ được bán để phục vụ cho các nhu cầu khác của gia đình nông dân. Hệ
thống sản xuất trên đã bộc lộ những điểm yếu chính sau:
- Tính chuyên nghiệp trong sản xuất thấp nên hàng hóa chưa đủ tiêu
chuẩn để xuất khẩu.
- Tạo ra tình trạng “cung lớn hơn cầu” và giá mua sản phẩm hạ làm
cho thu nhập của nông dân bị thấp đi.
Hơn thế nữa, nông dân Miền Trung lại bị bão lụt đe dọa thường xuyên
gây ra những hậu quả xấu cho sản xuất chăn nuôi như số đầu gia súc giảm,
vùng chăn nuôi chưa hợp lý nên thể trọng không tăng và có xu hướng giảm,
tỷ lệ đực mất cân đối nên thời gian sinh trưởng kéo dài, hầu hết trâu được
nuôi rải rác với qui mô đàn nhỏ, không có khả năng gia tăng tổng đàn.
Từ năm 1995 đến năm 1998, đàn trâu có xu hướng giảm nhưng từ năm 1999
đến nay trâu có xu hướng tăng trưởng trở lại do nhu cầu phát triển thực phẩm
hàng hóa. Đây là một xu hướng tất yếu, tuy nhiên việc phát triển đàn trâu
còn tùy thuộc vào thái độ của những nhà hoạch định chính sách và sự hỗ trợ
dân cho duy trì và phát triển đàn trâu của các địa phương.
+ Nuôi bò ở nông hộ
24
Tổng đàn bò ở các địa phương có xu thế tăng nhanh trong những năm
vừa qua. Tuy vậy có thể nói tốc độ tăng này chưa tương xứng với tiềm năng
của một địa bàn có nhiều đồng cỏ tự nhiên ở vùng gò đồi.
Lai bò Sind là cách để nâng cao trọng lượng nhưng nhiều chương trình
bò lai bị thất bại vì lý do sinh sản thấp (kĩ thuật thụ tinh nhân tạo bằng tinh
đông viên). Bãi chăn tự nhiên là khẩu phần chính của trâu bò và thường
xuyên bị ăn trụi nhất là vào mùa khô. Mùa này được gọi là giai đoạn khan
hiếm thức ăn xanh.
Còn có những hạn chế khác đến năng suất chăn nuôi trâu bò đó là theo
cách chăn nuôi truyền thống trâu bò nhốt tại chuồng vào ban đêm nhưng
không được ăn thêm. Hạn chế này đã làm giảm thời gian ăn, hơn thế nữa do
sự khan hiếm thức ăn và thức ăn cỏ, lá kém dinh dưỡng đã gây cho gia súc
những Stress dinh dưỡng. Vì vậy có thể nhận định rằng năng xuất chăn nuôi
trâu bò thấp là do mất cân bằng về dinh dưỡng hơn là giống trâu bò nội chưa
tốt.
Theo số liệu thống kê ở Triệu Phong, Quảng trị là một ví dụ trong
những năm trở lại đây, việc chăn nuôi bò trên địa bàn có xu hướng chững lại,
nhất là ở vùng gò đồi. Nguyên nhân chính ở đây là do tập quán chăn thả tự
nhiên thiếu sự kiểm tra, quản lý, hơn nữa chất lượng đàn bò ở trên địa bàn
còn thấp, giống đàn chủ yếu hiện nay là Bò vàng Việt Nam, thể trạng thấp,