LỜI MỞ ĐẦU
Nhìn lại chặng đường đổi mới nền kinh tế, chúng ta có thể thấy được vài trò
và sự sáng suốt của Đảng và Nhà nước trong quá trình đưa đất nước đi lên. Với
quan điểm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đưa đất nước trở
nên hùng mạnh có thể sánh vai được với các cường quốc trên thế giới. Đảng và
Nhà nước luôn luôn quan tâm đầu tư phát triển tất cả các thành phần kinh tế, các
ngành. Với trọng tâm phát triển ngành công nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn
hiện nay thì sự đầu tư phát triển ngành công nghiệp nhẹ là một lợi thế của chúng
ta.
Ngành công nghiệp da giầy cũng là một trong những ngành được đặc biệt
quan tâm, không chỉ bởi nó đem lại một nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước
mà nó còn là một trong những ngành giải quyết được nhiều gánh nặng cho đất
nước (như việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân...). Tuy nhiên trong giai
đoạn hiện nay thì ngành da giầy của chúng ta so với ngành da giầy của các nước
khác trên thế giới còn nhiều lạc hậu. Để có thể có được các thị trường mạnh như
Mỹ, EU, Nhật đòi hỏi chúng ta phải có sự đầu tư hơn nữa trong những năm tới.
Đặc biệt là chúng ta đã ra nhập AFTA và tiến tới là nhập vào tổ chức thương
mại quốc tế WTO. Do đó chúng ta cần một phương hướng, một chiến lược, một
kế hoạch đầu tư phát triển ngành công nghiệp da giầy trong những năm tới.
Từ sự cấp thiết của vấn đề trên mà em xin chọn lựa đề tài : “Phương hướng
đầu tư phát triển ngành công nghiệp da giầy đến năm 201 ”.
Bài viết ngoài phần lời mở đầu và phần kết luận gồm ba phần:
Phần I : Lý luận chung
Phần II : Thực trạng đầu tư phát triển ngành công nghiệp da
giầy
Phần III : Phương hướng và giải pháp đầu tư phát triển ngành công
nghiệp da giầy đến năm 2010
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Hà đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Tuy nhiên, do sự hạn chế về kinh nghiệm cũng như thời gian nên bài viết không
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong có được sự góp ý của thầy cô cùng bạn
đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát
triển sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung.
c- Đầu tư phát triển.
Đầu tư là một bộ phận cơ bản của đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để
tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm
lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để
tạo việc làm nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc
bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang
thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực,
thực hiên các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các cơ sở đang
tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.
2- Đặc điểm của đầu tư phát triển.
Từ việc xem xét khái niệm đầu tư phát triển trên ta có thể đưa ra được các
đặc điểm cơ bản của đầu tư phát triển như sau:
- Thứ nhất : Tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho một công
cuộc đầu tư thường là rất lớn.
2
- Thứ hai : Thời gian kể từ khi bắt đầu tiến hành một công đầu
tư cho đến khi các thành quả của một công cuộc đầu tư đó phát huy tác dụng
đem lại lợi ích kinh tế xã hội thường kéo dài.
- Thứ ba: Thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng thường
kéo dài, nhiều khi là vĩnh viễn.
- Thứ tư : Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình
xây dựng, vật kiến trúc như nhà máy, hầm mỏ, các công trình thuỷ lợi đường xá
cầu cống bến cảng... sẽ hoạt ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Do đó, các
điều kiện về địa lý, địa hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu
tư cũng như tác động sau này của các kết quả đầu tư.
- Thứ năm : Với đặc điểm là thời gian thực hiện đàu tư dài, vốn
lớn, lao động nhiều, thời gian vận hành các kết quả đầu tư dài. Do đó nó tạo ra
Vốn đầu tư
Ta có: ICOR =
Mức gia tăng GDP
Vốn đầu tư
Suy ra : Mức gia tăng GDP(g) =
ICOR
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước là khác nhau, nó tuỳ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế của mỗi nước.
Thứ tư : Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Sự tác động của đầu tư làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ nông nghiệp
sang công nghiệp và từ công nghiệp dần sang dịch vụ. Chuyển dần các vùng
lãnh thổ nghèo kém, chậm phát triển thành các vùng có tốc độ phát triển cao
hơn, đẩy lùi được đói nghèo.
Thư năm : Đầu tư tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ của đất
nước.
Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải có công
nghệ thiết bị tiên tiến. Mà để có công nghệ thiết bị hiện đại phù hợp với yêu cầu
phất triển thì có hai con đường đó là tự nghiên cứu và tiến hành đầu tư mua công
nghệ tư nước ngoài. Bất cứ con đường nào cũng đòi hỏi phải có sự đầu tư và chỉ
có đầu tư mới phát triển được trình độ phát triển khoa học công nghệ của đất
nước.
b-Đứng trên góc độ vi mô.
Trên góc độ vi mô, ta thấy đầu tư có vai trò quyết dịnh đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Bởi doanh nghiệp chỉ có
thể tồn tại khi sản phẩm đầu ra được tiêu thụ. Muốn vậy thì các sản phẩm của
doanh nghiệp phải có chất lượng cao, giá rẻ, đẹp. Để có được điều này thì cầc
tăng cường hoạt động đầu tư bởi vì:
-Đầu tư làm tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động.
-Đầu tư tác động đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm.
-Đầu tư dẫn đến làm giảm chi phí sản xuất, tư đó sẽ giảm giá thành sản
-Mức đóng góp vào ngân sách (các khoản nộp vào ngân sách khi các kết
quả của hoạt động đầu tư bắt đầu đi vào hoạt động như thuế doanh thu, thuế lợi
tức, thuế xuất nhập khẩu, thuế đát, lệ phí chuyển nhượng...) từng năm của
ngành.
-Số chỗ làm việc tăng thêm của từng năm do hoạt động đầu tư của nghành
tạo ra :
Phương pháp
tính :
Số làm việc
tăng thêm
=
Số lao động
thu hút thêm
-
Số lao động
mất việc làm
-Số ngoại tệ thu hút được từ hoạt động đầu tư đem lại :
Phương pháp
tính :
Số ngoại tệ
thực thu
=
Tổng thu
ngoại tệ
-
Tổng chi
ngoại ệ
-Mức tăng năng suất lao động sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư.
-Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường do tiến hành đầu tư.
tham khảo) không thể sử dụng giá thị trường để tính các khoản thu chi và lợi ích
kinh tế xã hội vì giá thị trường chịu sự chi phối của các chính sách tài chính,
kinh tế của nhà nước.
Vì vậy, khi tính toán hiệu quả kinh tế xã hội của những công cuộc đầu tư
có tầm cỡ lớn bao quát cả một vùng, một ngàn rộng lớn hay quan trọng với nền
kinh tế thì phải điều chỉnh lại giá này theo giá xã hội, phải lưu ý đến các yếu tố
bên ngoài có ảnh hưởng đến dự án và ngược lại.
3. Các chi tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của đầu tư xét ở
tầm vĩ mô.
Chỉ tiêu 1: giá trị sản phẩm thuần tuý tăng thêm (NVA).
Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của đầu tư. NVA
là mức chênh lệch gữa giá trị đầu gia và giá trị đầu vào.
Phương pháp tính : NVA = O - (Mi+i
v
)
Trong đó : NVA là giá trị sản phẩm thuần tuý tăng thêm do đầu tư đem
lại.
O: là giá trị đầu ra của công cuộc đầu tư
Mi: là giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và dịch vụ mua
ngoài theo yêu cầu để đạt được đầu ra trên đây.
i
v
: là vốn đầu tư hoặc khấu hao
NVA có thể được tính theo từng năm như sau:
Phương pháp tính : NVA
i
= O
i
- (Mi
i
các khoản thanh toán khác không được đưa vào trong đầu vào nguyên vật liệu.
NNVA là chỉ tiêu biểu thị sự đóng góp của đầu tư đối với nền kinh tế của
đất nước.
Ta có:
Chỉ tiêu 2: Số lao động có việc làm do thực hiện dự án và có việc làm tính
trên một đơi vị giá trị vốn đầu tư.
-Số lao động có việc làm ở đây bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp
cho dự án và số lao động có việc làm ở các dự án liên đới (số lao động gián
tiếp).
-Số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư :
Để tính chỉ tiêu số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư, cũng
tương tự như đối với số lao động, ta phải tính số vốn đầu tư trực tiếp của dự án
đang xem xét và số vốn đầu tư của các dự án liên đới. Sau đó ta tính toán các chỉ
tiêu :
• Số lao động có việc làm trực tiếp tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu
tư trực tiếp (Id).
Id =
Ld
Ivd
Ld : là số lao động trực tiếp.
Ivd : Số vốn đầu tư trực tiếp
• Toàn bộ số lao động có việc làm trên một đơn vị giá trị vốn đầu tư đầy
đủ (It)
It =
Lt
Ivt
Lt : là toàn bộ số lao động có việc làm trực tiếp và gián tiếp.
Ivt : là toàn bộ số vốn đầu tư đầy đủ.
Lt = Ld +Lind (Lind: số lao động có việc làm gián tiếp)
Bước 3: Tính mức chênh lệch thu chi ngoại tệ dự án trực tiếp và gián tiếp
bằng cách cộng bước1 và bước2.
Bước 4: Xác định số ngoại tệ tiết kiệm do sản xuất hàng thay thế hàng
nhập khẩu không phải nhập của nước ngoài.
Bước 5: Xác định mức tiếp kiệm ngoại tệ bằng cách cộng toàn bộ mức
chênh lệch của bước 3 và bước4.
Chỉ tiêu 4: Tác động của dự án tới việc phân phối thu nhập trong xã hội.
Bước 1: Tính mức gia tăng phân phối hàng năm cho các nhóm đối tượng.
Bước 2: Tính mức giá trị gia tăng phân phối cho vùng.
Chỉ tiêu này được tính bằng phần giá trị gia tăng phân phối hàng năm cho
các nhóm đối tượng thuộc vùng đó.
Bước 3: Xác định tỷ trọng giữa giá trị gia tăng phân phối hàng năm cho
từng nhóm đối tượng so với tổng mức giá trị gia tăng hàng năm của dự án
Chỉ tiêu 5: Khả năng cạnh tranh quốc tế.
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm do dự
án sản xuất ra trên thị trường quốc tế.
Phương pháp tính chỉ tiêu này như sau:
-Xác định P(FE).
Tính đầu vào của dự án từ nguồn trong nước (vốn đầu tư, nguyên vật liệu,
dịch vụ kết cấu hạ tầng, tiên lương trả cho người lao động trong nước...)phục vụ
cho sản xuất hàng xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu. Giá trị các đầu vào này
được tính theo giá thị trường trong nước điều chỉnh, ở mặt bằng thời gian hiện
tại và tỷ giá hối đoái điều chỉnh.
So sánh số ngoại tệ tiết kiệm với giá trị các đầu vào trong nước. Nếu tỷ số
này >1 thì sản phẩm của dự án có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Ta có :
Trong đó: iC: là chỉ tiêu biểu thị khả năng cạnh tranh quốc tế
DR: là các đầu vào trong nước dùng để sản xuất sản phẩm xuất
khẩu.
cuộc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vai trò của
ngành công nghịêp da giầy được biểu hiện qua một số điểm như sau:
Một là, Giải quyết công ăn việc làm cho toàn xã hội. Đây là một vai trò to
lớn của ngành bởi vì trong giai đoạn phát triển kinh tế của chúng ta hiện nay thì
vấn đề việc làm trở thành gánh nặng cho Nhà nước. Với việc tăng trưởng và
phát triển còn khiêm tốn thì việc phát triển các ngành nghề giải quyết được
nhiều việc làm, đặc biệt là các việc làm thủ công, không đòi hỏi trình độ cao trở
lên hết sức quan trọng.
Hai là, Đóng góp vào tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong
những năm qua sự phát triển của ngành công nghiệp da giầy đã đem lại cho Nhà
nước nhiều khoản thu, thông qua việc mở rộng sản xuất, tăng kim ngạch xuất
nhập khẩu. Tăng thu ngoại tệ, làm giảm bớt sự thâm hụt trong cán cân thanh
toán. Tạo ra sự tăng trưởng và phát triển tương đối trong những năm vừa qua.
Ba là, Đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Bốn là, Có vai trò trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên
trong nước.
3.Vai trò đầu tư với việc phát triển ngành da giầy.
Trong những năm vừa qua ngành da giầy đã có những bước đi mang tính
đột phá. Sản phẩm không ngừng tăng, quy mô không ngừng phát triển. Đã tạo ra
cho mình một vai trò, vị trí tương đối trong việc thúc đẩy sự phát triển nền sản
xuất kinh tế xã hội. Đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng và phát triển cuả
đất nước. Để có được những kết quả đó chúng ta phải kể đến vai trò của hoạt
9
động đầu tư phát triển. Thông qua hoạt động đầu tư mà tác động đến ngành da
giầy được cụ thể ở một số vai trò như sau.
-Thứ nhất: Đầu tư tác động đến quy mô của ngành da giầy. Nhờ có chính
sách khuyến khích của Nhà nước, thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam, cùng với sự phát triển của ngành giầy thế giới và các nước trong khu
vực. Các hoạt động đầu tư phát triển của ngành da giầy ngày càng nhiều và hiệu
Song thông qua sự phát triển một cách nhanh chóng mà ngành da giầy
cũng tác động trở lại đến đầu tư. Bởi vì sự tăng trưởng và phát triển nhanh tạo ra
một môi trường đầu tư tương đối hấp dẫn. Do đó mà Nhà nước cũng như các
doanh nghiệp, các nhà đầu tư đều có kế hoạch, chiến lược đầu tư phát triển
ngành da giầy trong tương lai.
10