1
Chương 1
THAM VẤN LÀ MỘT KHOA HỌC ỨNG DỤNG, MỘT NGHỀ
CHUYÊN MÔN
1. KHÁI NIỆM THAM VẤN
1.1. Tham vấn, mục đích và đặc điểm của tham vấn
1.1.1. Định nghĩa về tham vấn
- Tham vấn theo tiếng Anh là Couselling, đầy là một hình thức trợ giúp
tâm lý xuất hiện đã lâu ở Phương Tây, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ
và thường được gọi là tư vấn tâm lý hoặc gọi chung là tư vấn. Tham vấn không
phải là một hình thức tư vấn thông thường. Tham vấn là nói đến việc trợ giúp
về mặt tâm lý chứ không đơn thuần là việc giải đáp thông tin, kiến thức.
- Hiện nay, còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ Tham
vấn tâm lý. Theo tài liệu tập huấn về công tác tham vấn cho trẻ em của
UNICEF: “Tham vấn không giống như một cuộc nói chuyện. Tham vấn là một
mối quan hệ, một quá trình trong đó nhà tham vấn giúp thân chủ cải thiện cuộc
sống của họ bằng cách khai thác, hiểu và nhìn nhận được nội dung, ý nghĩa,
cảm giác và hành vi của họ. Nhà tham vấn không giải quyết vấn đề cho thân
chủ”. Cụ thể là “Nhà tham vấn giúp đỡ thân chủ cải thiện “trạng thái tâm lý của
họ”. Việc này được xem như một quá trình giúp thân chủ “nghĩ, cảm giác và
hành động khác với trước và để từ đó họ có thể đương đầu với những khó khăn
trong cuộc sống của họ một cách có hiệu quả hơn”.
- Theo Trần Thị Giồng, Một nhà tham vấn Việt Nam được đào tạo
chính quy ở Mỹ đã đưa ra khái niệm tham vấn gói gọn trong “ chữ T”. Khái
niệm này sau đó được mở rộng và phát triển lên bởi quá trình đào tạo, tập
huấn của các giảng viên dạy môn này.
2
tại, những vấn đề hiện nay và ngay bây giờ của mình. Quá trình tự quyết
giúp thân chủ mạnh dần lên, dám nghĩ, dám làm, dám đối đầu với thực tế
của mình. Tham vấn là “Tạo ra những triển mọng và khả năng mới cho thân
chủ để họ thay đổi cuộc sống của mình” trong đó nhà tham vấn đóng vai trò
chủ động thiết lập nên mối quan hệ hợp tác giữa nhà tham vấn và thân chủ,
trợ giúp thân chủ “hiểu hoàn cảnh của mình một cách rõ rang; nhận diện vấn
đề để cải thiện tình huống; lựa chọn những cách thức phù hợp với giá trị,
tình cảm và nhu cầu của mình, tự quyết định và hành động theo những quyết
định đó; khả năng đương đầu tốt với vấn đề”. Nhà tham vấn lỗi lạc Carl
Rogers đã đưa ra triết lý của tham vấn là “giúp thân chủ tự giúp mình giải
quyết vấn đề”. Như vậy, qua những định nghĩa trên có thể thấy tham vấn tức
là thân chủ tự giúp chính mình tự giải quyết vấn đề của mình. Vấn đề của
thân chủ không phải được thực hiện bằng sự bày vẽ, chỉ bảo của nhà tham
vấn mà trong quá trình tham vấn (thông qua những thông tin từ thân chủ),
nhà tham vấn phải khơi gợi được ở thân chủ những yếu tố nội sinh tự lực để
họ tự chịu trách nhiệm về vấn đề của họ và cả cuộc sống sau này của họ.
Tham vấn thành công khi thân chủ cảm thấy đủ mạnh để đối đầu với những
vấn đề của họ mà không cần đến sự trợ giúp của nhà tham vấn hay lệ thuộc
vào những người xung quanh.
Nhưng trên thực tế tham vấn là một quá trình tăng cường năng lực
trong đó nhà tham vấn giúp thân chủ nhận thức được những nguyên nhân
sâu xa của vấn đề, từ đó thay đổi cách suy nghĩ, cảm nhận và xử sự để giải
quyết vấn đề của chính họ .
Như vậy, tham vấn hoàn toàn là một quá trình chia sẻ và đặt trọng
tâm nơi thân chủ chứ không phải là sự chỉ bảo, cho lời khuyên, an ủi hình
thức, buộc thân chủ nhìn nhận vấn đề theo các chuẩn mực xã hội. Thân chủ
là một con người riêng biệt và nhà tham vấn phải chấp nhận thân chủ.
4
năng tự ứng phó với hoàn cảnh khó khăn không chỉ trong hiện tại mà cả
trong tương lai.
1.1.3. Bản chất của tham vấn
- Yếu tố tâm lý là động cơ rõ rệt thúc đẩy con người tìm đến sự giúp
đỡ. Do đó khái niệm tham vấn nói đến sự trợ giúp tâm lý, chứ không đơn
thuần là sự hỏi đáp về thông tin, kiến thức.
- Giúp thân chủ nhìn nhận vấn đề của mình như nó vốn có.
Một nghề trợ giúp người khác giúp đỡ chính họ! Giúp thân chủ tự
giúp chính mình (tự giải quyết vấn đề của mình).
1.1.4. Các loại hình tham vấn
* Căn cứ vào hình thức tham vấn: tham vấn chia thành 2 loại:
+ Hình thức tham vấn trực tiếp: Thân chủ và nhà tham vấn đối thoại
với nhau một cách trực tiếp, nhà tham vấn dùng các kĩ năng của mình giúp
thân chủ hiểu, nhìn nhận lại sự kiện một cách tích cực hơn, các nguyên nhân
dẫn đến sự kiện đó khơi dậy những tiềm năng của thân chủ, để họ tự lựa
chọn các giải pháp giải quyết vấn đề của chính mình .
Đặc điểm:
- Thông tin 2 chiều trong một thời gian ngắn.
- Các kĩ năng tham vấn được sử dụng một cách có hiệu quả.
Loại hình: Tham vấn trực tiếp qua điện thoại, tham vấn trực tuyến
qua Internet, tham vấn trực tiếp tại trung tâm tham vấn.
+ Tham vấn gián tiếp:
Thân chủ và nhà tham vấn không đối thoại trực tiếp mà thường
thông qua khâu trung gian như qua báo chí, qua đài, qua điện thoại, qua
internet
6
Đặc điểm:
- Thông tin một chiều
thì tham vấn qua đài là tham vấn qua phương tiện thông tin đại chúng nên
nguyên tắc giữ bí mật cũng không được thực hịên tuyệt đối.
+ Tham vấn qua điện thoại
Loại hình tham vấn này khá phát triển trong thời gian gần đây. Thân chủ
có khó khăn trong cuộc sống gọi điện thoại đến để được hỗ trợ vượt qua những
khó khăn này. Loại hình này dã bắt đầu đáp ứng được nhu cầu của khách hàng,
trong loại hình tham vấn này nguyên tắc bí mật được thực hiện tốt. Hiện nay ở
Việt Nam có nhiều trung tâm tham vấn qua điện thoại như “Trung tâm tư vấn
hạnh phúc gia đình” “Trung tâm tư sức khoẻ sinh sản”. Đường dây tư vấn và hỗ
trợ trẻ em của Uỷ Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam.
+ Tham vấn trực tiếp tại trung tâm tham vấn.
Nhà tham vấn và thân chủ đối thoại trực tiếp với nhau. Loại hình này là
cách tối ưu nhất giúp thân chủ vượt qua những khó khăn bởi loại hình tham vấn
này giúp nhà tham vấn hiểu sâu sắc hơn về vấn đề của thân chủ. Chính vì thế nó
được coi là một loại hình tham vấn có hiệu quả nhất đồng thời cũng là loại hình
đòi hỏi nhà tham vấn phải sử dụng phối hợp các kĩ năng tham vấn để khai thác
thông tin, phản hồi cảm xúc, phản ánh lại Có những vấn đề của thân chủ chỉ
giải quyết thành công thông qua hình thức tham vấn này. Loại hình tham vấn
này cho phép khám phá thành công chiều sâu vô thức của thân chủ và chiều sâu
cảm xúc tình, cảm của họ. Có thể là tham vấn cá nhân, tham vấn gia đình và
tham vấn nhóm. Với loại hình này nguyên tắc bí mật tuyệt đối được thực hiện.
+ Tham vấn qua Internet.
Loại hình tham vấn này mới phát triển trong giai đoạn gần đây và nó
bắt đầu đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng Internet. ở đây, thân chủ
8
sử dụng hình thức viết thư điện tử, qua đó thực hiện mong muốn được tham
vấn về những khó khăn của mình, hay bằng hình thức tham vấn trực tuyến
(trực tiếp) và loại hình này có những đặc điểm giống loại hình tham vấn qua
những vấn đề trong gia đình, vấn đề đó có thể liên quan đến toàn bộ gia đình
hay một bộ phận, xem xét mỗi thành viên nhìn nhận vấn đề như thế nào,
nguyên nhân từ đâu ra và cần phải làm gì để giải quyết.
- Tham vấn nhóm:
Là hình thức mà đối tượng tham vấn là những cá nhân tuy không liên
quan chặt chẽ với nhau nhưng cùng tập hợp lại để thông qua tham vấn đạt
được mục đích nào đó (vd: tham vấn cho nhóm đồng đẳng – những người bị
nhiễm HIV).
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA THAM VẤN
2.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của tham vấn
2.1.1. Sự ra đời của Tham vấn trên thế giới
- Tham vấn là một ngành nghề đại diện cho sự hợp nhất lại của nhiều
sự ảnh hưởng như phong trào đấu tranh để có được những biện pháp điều
trị nhân đạo cho bệnh nhân tâm thần từ thế kỷ XIX ở Pháp như phân tâm
học- Freud; những khảo cứu khoa học và phương pháp tiếp cận hành vi; sự
ra đời và được chuẩn hóa các trắc nghiệm tâm lý; tâm lý học hiện sinh; tâm
lý học nhân văn và những thành tựu rõ ràng của lĩnh vực hướng nghiệp, tư
vấn nghề.
Sau khi xem xét lịch sử của các chuyên ngành hỗ trợ tham vấn chúng
ta bắt đầu đi sâu tìm hiểu lịch sử của Tham vấn, bởi vì lịch sử phát triển của
ngành tham vấn gắn với sự ra đời của các phương pháp tiếp cận thân chủ
trong tham vấn.
* Tham vấn được ra đời và phát triển theo các giai đoạn sau:
10
- Từ 1900 đến 1950: Những tiền đề cho sự ra đời của ngành, nghề
tham vấn.
Tiền đề đầu tiên phải kể đến là sự phát triển của công tác hướng
nghiệp, tư vấn nghề và sự ra đời của những NTV nghề đầu tiên.
+ Từ đầu thế kỷ XX, công tác xã hội đã mang lại quan tâm và những
+ Một là: sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng, sở
thích hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của bạn đối với nghề;
động lực thúc đẩy bạn chọn nghề.
+ Hai là: kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công,
những thuận lợi và khó khăn; sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng
phát triển trong các giới hạn khác nhau của công việc.
+ Ba là: nguyên nhân thực sự trong mối liên hệ của hai nhóm trong thực
tế”.
- Tuy nhiên, những xem xét sâu sắc, tỉ mỉ của Parson trong công việc
của ông đã chỉ ra cho chúng ta thấy nhiều điểm trong các nguyên tắc này
thực sự trở thành nguyên lý của nghề Tham vấn. Ví dụ, ông nhấn mạnh tầm
quan trọng của việc phải có một người hướng dẫn chuyên nghiệp và gợi ý
rằng một người hướng dẫn tốt không thể đưa ra các quyết định cho người
khác, những người mà một cách cơ bản phải quyết định điều gì tốt nhất cho
anh ta hoặc cô ta. Ông cũng cho rằng một NTV nên thân tình, cởi mở, trung
thực và tốt bụng với TC. Điều đó có ý nghĩa quyết định đối với các NTV
trong sự nỗ lực giúp đỡ TC phát triển những tiềm năng riêng của họ. Với
những tư tưởng nêu trên, Parsons không những xứng đáng với danh hiệu là
người sáng lập ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp mà còn xứng đáng
với danh hiệu người sáng lập của tham vấn.
12
- Sau này, mặc dù công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề nghiệp trong
trường học được phát triển, song nhiều người đã tán thành việc cần có một
cách tiếp cận rộng hơn với tham vấn trong trường học. Những người này cho
rằng những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp không nên chỉ tập trung quan
tâm về ngành nghề mà còn nên chú ý đến sự khác biệt lớn trong những nhu
cầu về tâm lý và giáo dục của học sinh. Nói cách khác những chuyên gia tư
vấn hướng nghiệp phải là những NTV.
- Công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp tồn tại và phát triển được
dục ở đây.
- Từ 1950-2000: Sự ra đời và phát triển của tham vấn hiện đại Những
năm 50 của thế kỷ XX Tham vấn hiện đại được ra đời gắn liền với tên tuổi
của Carl Rogers, nhà Tâm lý học Mỹ theo trường phải tâm lý học nhân văn.
Cuốn sách thứ hai của ông có tựa đề “Thân chủ - Trọng tâm trị liệu” (Client
– Centered Therapy) xuất bản năm 1951 để khẳng định “một cách tiếp cận
trị liệu mới nhấn mạnh đến các giá trị nhân văn và nhấn mạnh đến sự trắc
nghiệm có ý thức của từng cá nhân”{12, 83}.
+ Thập kỷ này cũng in dấu sự phát triển của các thuyết khác trong lĩnh
vực tham vấn như Jean Piaget (1896-1980), nhà Tâm lý học Thuỵ Sĩ với
những nghiên cứu về sự phát triển của trẻ 1954 cho rằng “trẻ em đạt được
những hành vi và kỹ năng riêng biệt ở những giai đoạn phát triển riêng biệt
và nhìn nhận các giai đoạn phát triển nhận thức”.
+ Khác với học thuyết về nhận thức của J. Piaget, Erick Erickson
(1902-1994) với quan niệm “cá nhân có tiềm năng giải quyết các vấn đề
riêng của mình” . Erickson chia cuộc sống con người thành hệ thống “8 cơn
khủng hoảng tâm lý xã hội đặc trưng cho mỗi lứa tuổi của cuộc đời, mà hậu
quả thuận lợi và không thuận lợi, sẽ có tính quyết định đến sự phát triển nảy
14
nở về sau của mỗi người” . Erickson tin rằng “sức mạnh – bản ngã đạt được
nhờ giải quyết thành công các đợt khủng hoảng về phát triển”, cơn khủng
hoảng 1 là lòng tin cậy hoặc ngờ vực; cơn khủng hoảng 2 là tự trị hoặc hổ
thẹn hoặc hoài nghi; cơn khủng hoảng 3 là óc sáng kiến hoặc mặc cảm tội
lỗi; cơn khủng hoảng 4 là việc làm hoặc sự kém cỏi; cơn khủng hoảng 5 là
bản sắc hoặc lẫn lột vai trò; cơn khủng hoảng 6 là thân mật hoặc cách ly; cơn
khủng hoảng 7 là sinh sản hay trì trệ và cơn khủng hoảng 8 là toàn vẹn cá
nhân hay thất vọng. Tham vấn chính thức trở thành một ngành khoa học độc
lập và một ngành nghề chuyên môn trên thế giới.
+ Tham vấn phát triển mạnh mẽ vào những năm 60 của thế kỷ XX.
nhận, quan tâm, của người tham vấn đối với từng thân chủ có những đặc
trưng về lứa tuổi, giới tính, kinh nghiệm, trình độ văn hoá khác nhau.
+ Hiện nay đang có những quan điểm rất đa dạng bàn về việc nhà
tham vấn nên dùng phương pháp tham vấn nào. Trên thế giới đang tồn tài rất
nhiều cách tham vấn.
Một số theo quan điểm của phân tâm tìm ra những nguồn gốc từ vô
thức, những cơ chế tự vệ do lo hãi, sự chuyển vai tích cực…
Số khác theo phép trị liệu hành vi cảm xúc thuần lý là cho lời khuyên
trực tiếp giải thích trực tiếp hành vi của thân chủ do thân chủ xuất phát từ
niềm tin phi lý dẫn đến những cảm nghĩ tiêu cực.
Số khác chủ yếu theo phép trị liệu Gestalt nhấn mạnh nhiều đến kinh
nghiệm hiện tại của cảm xúc – tư tưởng.
Số khác thì theo trị liệu nhân văn để thân chủ tìm ra cách khám phá và
tự giải quyết vấn đề của mình.
Một trong những thay đổi lớn nhất của tham vấn trong giai đoạn hiện
nay là tập trung vào lĩnh vực văn hoá hay còn gọi là tham vấn xuyên văn
16
hoá. Các nhà tham vấn hiện nay đều cho rằng sẽ rất khó khăn trong việc giúp
đỡ khách hàng nếu nhà tham vấn không nắm được nền tảng văn hoá của
khách hàng.
2.1.2. Lịch sử Tham vấn ở Việt Nam
Tham vấn ở Việt Nam chưa có một lịch sử nghề nghiệp và bề dày như
tham vấn trên thế giới, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở hình thức tự phát của việc
ra đời các dịch vụ tư vấn tình yêu, hôn nhân, gia đình, sức khoẻ sinh sản…
trên khía cạnh thực hành và một số bài báo, tác phẩm ít ỏi về lý thuyết.
- Về lý thuyết tham vấn, chúng tôi chỉ tìm kiếm được một số lượng
sách báo khá khiêm tốn chủ yếu được dịch của các tác giả nước ngoài đang
tồn tại ở phía Bắc. Giới thiệu tổng quát về tham vấn, lịch sử, các kỹ năng
tham vấn có tác phẩm “Công tác tham vấn trẻ em, Giới thiệu thực hành” của
ngành khoa học, một nghề chuyên môn; bài "Tư vấn hay tham vấn – Thuật
ngữ và cách tiếp cận" của PGS.TS. Trần Thị Minh Đức, ĐHKHXH & NV
Hà Nội đăng trên Kỷ yếu hội nghị Tâm lý học, tháng 2/2003 bàn về sự khác
nhau của tư vấn và tham vấn và các cách tiếp cận khác nhau khi giúp đỡ
thân chủ; bài “Tư vấn tâm lý - Một nhu cầu xã hội cần được đáp ứng” của
TS. Vũ Kim Thanh – Khoa Tâm lý – Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội về nhu
cầu Tư vấn tâm lý, Tạp chí Tâm lý học số 2-2001. Ngoài ra còn có những
bài báo giới thiệu phương pháp tham vấn như “Các phản ứng tư vấn cơ bản”
của Đỗ Ngọc Khanh CBNC, Viện Tâm lý học, Tạp chí Tâm lý học số
8,9/2002, “Về kỹ năng tìm hiểu trong tham vấn tâm lý trực tiếp” của Mai
Thanh Thế, CBNC, Viện Tâm lý học, Tạp chí Tâm lý học số 1/2000; những
bài báo hỗ trợ tham vấn chuyên môn như “Một số cảm xúc tiêu cực ở người
nhiễm HIV/AIDS và cách thức hỗ trợ” của TS. Trần Thị Minh Đức và cử
nhân Tâm lý học Trương Phúc Hưng, Tạp chí Tâm lý học số 6/2000; đánh
18
giá thực trạng tham vấn Việt Nam như “Bàn về hiệu quả của Tư vấn trên
báo”, PGS.TS. Trần Thị Minh Đức, Tạp chí Tâm lý học số 7, 2002; “Thực
trạng tham vấn ở Việt Nam: Từ lý thuyết đến thực tế”, PGS. TS Trần Thị
Minh Đức, Tạp chí Tâm lý học số 2/2003.
- Về thực hành tham vấn, sự ra đời của các trung tâm, dịch vụ hỗ trợ
giúp tâm lý, xã hội tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh trong khoảng 10 năm lại đây đã góp phần không nhỏ vào việc phát
triển nghề tham vấn thực hành. Đó là các trung tâm: Tư vấn tình cảm linh
tâm (1088 - Hà Nội); Trung tâm tư vấn tâm lý (số 1 Tăng Bạt Hổ, Hà Nội);
Chương trình “Cửa sổ Tình yêu”. Chuyên mục phát thanh thanh niên, đài
tiếng nói Việt Nam; Trung tâm tư vấn tâm lý (số 9 Ngọc Khánh Hà Nội);
Trung tâm tư vấn tâm lý giáo dục và Tình yêu – Hôn nhân – gia đình (43
Nguyễn Thông – 93 – Thành phố Hồ Chí Minh); Tư vấn 1088 – Thành phố
Hồ Chí Minh và các chuyên mục tư vấn trên báo như Nỗi niềm biết tỏ cùng
yêu (hoặc chồng, vợ phản bội)…
+ Cá nhân thường gây bất bình cho những người xung quanh. Sự gây
bất bình có thể là không ủng hộ, đi ngược với quyền lợi, việc làm của người
xung quanh; cá nhân gây sự ức chế, khó chịu với người xung quanh (cùng
gia gia đình, lớp học, cơ quan…) khi có biểu hiện không phù hợp về giao
tiếp, ứng xử, lối sống
+ Cá nhân xuất hiện cá tính (biểu hiện về thái độ, hành vi) hiếm khi
thấy trong hành động tiền lệ, quá khứ. Chẳng hạn, trước đây hồn nhiên, vui
tươi, nay lầm lì, ít nói, lo âu; trước hiền lành, nay cáu gắt, giận giữ; trước
nhiệt tình, hăng say, nay thờ ơ, lạnh nhạt; trước quan tâm, nay bất cần…
20
+ Cá nhân thấy buồn chán, lo âu, căng thẳng, đau khổ, sợ hãi, những
điều này lặp đi, lặp lại và ảnh hưởng đến hoạt động của họ.
+ Cá nhân nói nhiều trong một thời điểm nào đó về một hoặc một số
vấn đề và luôn không cảm thấy hài lòng.
+ Tính phi lý trong nhận thức của cá nhân thể hiện ở hành động mà
người khác cho là không bình thường.
+ Tính không thích nghi hoặc khó thích nghi, luôn hành động theo
cách mà nó ảnh hưởng đến mục tiêu hoặc những hoạt động bình thường của
cá nhân và những người xung quanh.
Nhờ tham vấn, cá nhân ý thức được vấn đề của mình và họ có thể vượt
qua được những khó khăn của bản thân, đương đầu được với thực tế gây ra
rối nhiễu tâm lý. Trong thực tế, nhiều khi cá nhân không nhận ra được là
mình đang có vấn đề do thiếu hiểu biết, do không thừa nhận sự không bình
thường nơi mình, do không muốn người ngoài biết những rắc rối của mình.
Việc lưu trữ lâu ngày những cảm xúc bị dồn nén, tiêu cực dễ gây ra những
hành vi chống đối mang tính huỷ hoại.
Một ca tham vấn được gọi là thành công khi thân chủ tự giải quyết
được vấn đề của mình (sau quá trình tham vấn) mà không cần đến sự giúp
Để thực hiện tham vấn có hiệu quả, nhà tham vấn phải phân biệt một
cách rõ ràng các hình thức trên. Trong đó, đặc biệt chú ý đến sự khác nhau
giữa tham vấn và cố vấn.
- Cố vấn là sự trợ giúp mang tính chỉ dẫn của những chuyên gia về
một lĩnh vực nào đó (luật pháp, kinh tế, quân sự, thương mại, hôn nhân gia
đình) nhằm giúp đối tượng hoàn thành công việc đặt ra.
22
+ Sự khác biệt giữa tham vấn và cố vấn thể hiện ở bảng sau:
TIÊU
CHÍ
THAM VẤN CỐ VẤN
Bản chất
Là quá trình trao đổi giữa nhà
tham vấn với một hoặc một vài
người đang cần sự hỗ trợ để đối
mặt với khó khăn hoặc thách thức
trong cuộc sống. Tham vấn khác
nói chuyện ở chỗ trọng tâm của
cuộc tham vấn nhằm vào người
nhận tham vấn
Là một cuộc nói chuyện giữa
một “chuyên gia” về một lĩnh
vực nhất định với một hoặc
nhiều người đang cần lời
khuyên hay chỉ dẫn về lĩnh vực
đó.
Mối
quan hệ
Mối quan hệ tham vấn quyết
Vai trò
của nhà
tham
vấn
Nhà tham vấn thể hiện sự tin
tưởng vào khả năng tự ra các
quyết định tốt nhất của thân chủ;
vai trò của nhà tham vấn chỉ là để
“lái” cho thân chủ tới những
Nhà cố vấn nói với thân chủ về
những quyết định họ cho là phù
hợp nhất đối với tình huống của
thân chủ thay vì tăng cường khả
23
TIÊU
CHÍ
THAM VẤN CỐ VẤN
hướng lành mạnh nhất. năng cho thân chủ.
Kiến
thức và
kỹ năng
Nhà tham vấn có kiến thức về
hành vi và sự phát triển con
người. Họ có các kỹ năng nghe
và giao tiếp, có khả năng khai
thác những vấn đề và cảm xúc
của thân chủ.
Nhà cố vấn có kiến thức về
những lĩnh vực cụ thể và có khả
đề, nhà cố vấn làm chủ cuộc
nói chuyện và đưa ra những lời
khuyên.
Việc ra
quyết
định
Nhà tham vấn hỗ trợ thân chủ ra
quyết định bằng cách giúp họ xác
định và làm sáng tỏ vấn đề, xem
xét tất cả các khả năng và đưa ra
lựa chọn tối ưu nhất cho chính họ
sau khi xem xét kỹ lưỡng các
quan điểm khác nhau
Nhà cố vấn giúp thân chủ ra
quyết định bằng cách đưa ra
những lời khuyên “mang tính
chuyên môn” cho thân chủ. 24
* Phân biệt tham vấn và công tác xã hội
Hiện nay, nhiều người nhầm lẫn giữa nghề tham vấn với nghề công
tác xã hội. Sự nhầm lẫn này gây không ít phiền phức cho cả nhân viên công
tác xã hội cũng như tham vấn viên Vậy giữa Công tác xã hội và tham vấn
có sự giống và khác nhau như thế nào? Mối quan hệ của chúng ra sao?
Đây là hai lĩnh vực khoa học biệt lập nhưng rất gần gũi nhau, có
những nguyên tắc và giá trị giống nhau, hoạt động bổ sung cho nhau. Công
việc của họ gặp nhau ở điểm tiếp xúc trực tiếp với đối tượng được giúp đỡ,
nhưng công việc của người tham vấn tâm lý (NTV) thu hẹp vào mối quan hệ
mặt đối mặt với thân chủ và đi vào chiều sâu tâm lý, còn nhân viên công tác