Báo Cáo Vấn đề môi trường quan trọng tại khu vực kênh nhiêu lộc - thị nghè - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG
Môn học
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
BTKN 03
Chủ đề :
VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG QUAN TRỌNG
Nhóm: 06
Sinh viên Mã số sinh viên
1 Nguyễn Quang Minh 91202152
2 Đỗ Phan Cát Phương 91202177
3 Đinh Thị Thu Hương 91202018
4 Nguyễn Thị Mỹ Hạnh 91202012
5 Huỳnh Công Chánh 91202075
6 Nguyễn Thanh Tuấn 91202256
Nộp bài: 23g30 ngày 17/09/2014
Tp. Hồ Chí Minh, 2014
1

MỤC LỤC
2
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC KÊNH NHIÊU LỘC - THỊ
NGHÈ
1.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
1.1.1. Vị trí địa lý
Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè là 1 con kênh lớn nằm trong khu vực nội thành thành
phố Hồ Chí Minh. Kênh bắt đầu từ quận Tân Bình chảy qua địa bàn các quận Phú
Nhuận, quận 3, quận 1 và quận Bình Thạnh, kết thúc vảo nhánh sông Sài Gòn (cạnh
xưởng sửa chữa tàu Ba Son).
Lưu vực kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè có diện tích 3.324 ha nằm trên địa bàn 7 quận nội
thành (quận 1, quận 3, quận 10, quận Phú Nhuận, quận Bình Thạnh, quận Gò Vấp và

Nguồn: Viện Tài nguyên và Môi trường
4
Chế độ thủy văn: kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đây cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi chế
độ thủy văn từ sông Sài Gòn. Thủy triều ở Tp.HCM theo chế bán nhật triều có 2 đỉnh
triều cao và một đỉnh triều thấp (một cao một thấp) và 2 đáy triều (một cao, một thấp).
Khác biệt giữa mực nước triều cường và mực nước triều rộng thay đổi trong khoảng
2,7 - 3,3 m ở gần Tp HCM và 2,5 – 4m ở các cửa sơng. Một chu kỳ thủy triều đầy đủ
kéo dài trung bình 15-17 ngày. Gồm 5 - 7 ngày triều cường và 3 - 5 ngày triều rộng.
Thời gian triều lên vào khoảng từ 15-20 giờ trong khi đó thời gian triều xuống chỉ vào
khoảng 4-8 giờ điều này không có lợi cho hệ thống thoát nước mưa. Biên độ triều khá
lớn ít biến động qua nhiều năm tại trạm đo Phú An biên độ triều trung bình vào khoảng
1,7 - 2,5 m cao nhất là 3,95m. Độ chênh lệch biên độ ở các tần suất khác nhau nhỏ vào
khoảng 20-30 cm.
Do kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè có lượng kênh nhỏ hẹp, nông, bị lấn chiếm và ảnh
hưởng của chất thải nên đã cản trở đến dòng kênh, mặt khác do cao độ địa hình thay
đổi nhanh ảnh hưởng của thủy triều suy giảm mạnh nên nước lắng đọng gây ô nhiễm
trong lòng kênh.
5
1.2. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KÊNH NHIÊU LỘC-THỊ NGHÈ
Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè bao gồm hai phần chính: kênh Nhiêu Lộc (nơi thượng
nguồn) và kênh Thị Nghè (nơi hạ nguồn) và một số kênh rạch nhỏ khác, trong đó rạch
Cầu Bông và Văn Thánh là lớn nhất. Lưu vực kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè có diện tích
khoảng 33 km
2
nằm trong 7 quận của Tp.HCM đổ vào sông Sài Gòn.
Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè và các lưu chi (rạch Miễu, rạch ông Buông, rạch Văn
Thánh) có chiều dài rạch chính khoảng 9.500 m, các chi lưu có chiều dài 8.700m, tổng
chiều dài trên 18.000m chảy xuyên suốt thành phố tiếp nhận nước thải từ quận Phú
Nhuận, quận 3, quận Tân Bình, quận Bình Thạnh và một phần quận Gó Vấp. Chiều
rộng kênh thay đổi từ Nhiêu Lộc - Thị Nghè là 10 – 20 - 30 m. Diện tích mặt nước

2
/người nhưng trên thực
tế chỉ 5-30% diện tích dành cho các hoạt động thương mại, dịch vụ nên chỉ tiêu sàn chỉ
có 5,8 m
2
/người. (Nguồn: Viện quy hoạch và thiết kế đô thị).
Hiện trạng sản xuất công nghiệp: Có nhiều loại hình sản xuất công nghiệp đa dạng,
nhưng không mang tính tập trung cao thường nằm xen kẽ trong dân cư nên ảnh hưởng
đến môi trường. Nguyên liệu và sản phẩm khá đa dạng. Trình độ sản xuất từ hiện đại
đến thô sơ. Có thể liệt kê một số doanh nghiệp hoạt động tại khu vực như: ngành dệt
nhuộm, công nghiệp thực phẩm, hóa học, cơ khí…
Hầu hết các cơ sở sản xuất này đều chưa có hệ thống xử lý nước thải hoặc đã có trang
bị nhưng chưa hoàn chỉnh, thuộc diện phải di dời do ô nhiễm môi trường. Đây chính là
nguồn gây ô nhiễm lớn cho lưu vực kênh.
7
CHƯƠNG 2. CÁC VẤN ĐỂ MÔI TRƯỜNG QUAN TRỌNG CỦA DỰ ÁN:
NẠO VÉT CẢI TẠO KÊNH NHIÊU LỘC – THỊ NGHÈ.
2.1 KHÁI QUÁT CÁC VẤN ĐỀ CỦA DỰ ÁN
Việc đầu tư cống kiểm soát kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè được triển khai theo
quyết định phê duyệt dự án đầu tư để đảm bảo đồng bộ và tiến độ xây dựng theo quyết
định của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 1547/QĐ – TTg ngày 28 tháng 10 năm
2008 về phê duyệt Quy hoạch Thủy lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí
Minh. Chấp nhận đề xuất của Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước
Thành phố và các sở - ngành dự họp.
Theo đó, cống kiểm soát triều Nhiêu Lộc – Thị Nghè sẽ được xây dựng riêng và
theo đúng tiến độ dự án đã phê duyệt; không kết hợp cống kiểm soát triều với tuyến
đường sắt dọc kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè vì: Đồ án “ lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ
1/2000 và Quy chế quản lý đô thị cấp II cho Khu trung tâm hiện hữu thành phoó Hồ Chí
Minh, diện tích 930 ha” hiện nay chưa được phê duyệt, chưa xác định vị trí và thời điểm
đầu tư kết hợp đường giao thông. Giao sở Tài Nguyên và Môi trường hoàn tất thủ tục đề

3.400ha tại các quận I, Bình Thạnh, Phú Nhuận.
Việc hoàn thành hệ thống cống kiểm soát ngăn triều chống ngập khu vực Nhiêu Lộc-
Thị Nghè, dự án cống thoát nước Bình Lợi (phường 13, quận Bình Thạnh) cùng với
cống ngăn triều Bình Triệu sẽ giảm tình trạng ngập úng do mưa hay triều cường trên
quy mô 7 quận: 1, 3, 10, Bình Thạnh, Tân Bình, Phú Nhuận và Gò Vấp. - TP đang tiếp
tục thực hiện các dự án nhằm xóa giảm các điểm ngập do mưa và triều kết hợp như: 2
tuyến đê bao hai bờ tả, hữu sông Sài Gòn với tổng chiều dài khoảng 220 km; 13 cống
kiểm soát, trong đó có dự án xây dựng cống kiểm soát triều Nhiêu Lộc-Thị Nghè với
tổng vốn đầu tư 290 tỷ đồng để giảm ngập cho khu vực hai bên kênh Nhiêu Lộc-Thị
Nghè, dự kiến hoàn thành và vận hành vào cuối năm 2013. - Tiến hành lắp đặt 1.077
van ngăn triều trên các kênh rạch thường xuyên ngập nước, 290 công trình cấp bách
(xây dựng tường tạm, đấu nối mở hướng thoát nước,…) đã góp phần kéo giảm tình
trạng ngập nặng do triều từ 95 điểm (2008) còn 2 điểm (2013).
2.2.2. Chất lượng nước sông Nhiêu Lộc – Thị Nghè.
• Trước khi có DA:
Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè được xem là kênh ô nhiễm nặng nhất Sài Gòn, ô nhiễm
nhất là đoạn cuối kênh, thuộc địa bàn Q.Tân Bình. Theo GS.TS Lê Huy Bá, Viện trưởng
Viện Khoa học - Công nghệ và quản lý môi trường (ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh)
cho hay: “Môi trường nước trên các tuyến kênh, rạch địa bàn thành phố, trong đó đáng
chú ý là kênh NLTN lại đang ô nhiễm trở lại. Kết quả quan trắc cho thấy, phần lớn tuyến
kênh này có nồng độ BOD
5
(lượng oxy sinh hóa) đạt ngưỡng 3.200 đến 3.500 mmg/lít
nước, vượt khoảng 10 lần so với tiêu chuẩn cho phép. Trong khi đó lượng COD (oxy
hóa học để xử lý và tiêu hủy chất hữu cơ) dao động từ 4.000 đến 4.500 mmg/lít nước,
vượt 4 đến 5 lần mức quy định. Ngược lại, lượng DO (oxy hòa tan) xuống mức 0
mmg/lít nước - mức khiến cho cá không thể sống nổi do thiếu oxy”.
9
Hình 2.2.2.1. Ô nhiễm kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè.
Sự ô nhiễm trên do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó tình trạng xả rác xuống

dòng kênh ô nhiễm này thành một trong những điểm nhấn lớn về cảnh quan đô thị.
Giai đoạn 1 của dự án này vừa hoàn thành, mới dừng ở việc xây dựng bờ bao, nạo vét
kênh, làm các tuyến cống thu gom nước thải. Ở giai đoạn 2, công tác quan trọng nhất,
có ý nghĩa quyết định đến chất lượng môi trường nước trong khu vực là xử lý nước thải.
Hiện nay, nước thải sau khi được thu gom vẫn đổ thẳng ra sông Sài Gòn. Tuy vậy, nước
sông ở kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè cũng đã cải thiện được tốt hơn.
Hình 2.2.2.2. Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè dần đang được phủ xanh
2.2.3. Môi trường sống của những người dân xung quanh.
• Trước khi có dự án:
Với sự ô nhiễm trầm trọng của kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, đã làm ảnh hưởng rất
xấu đến đời sống sinh hoạt, sức khỏe của người dân sống hai bên bờ kênh, không những
11
thế vấn đề ô nhiễm trên kênh Nhiêu Lộc còn gây mất mỹ quan khu đô thị, ảnh hưởng
đến phát triển du lịch của Thành phố.
Hình 2.2.3.1. Sự ô nhiễm của kênh ảnh hưởng xấu đến chất lượng người dân nơi đây
• Sau khi dự án hoàn thành (hoàn thành xong giai đoạn 1)
12
Hình 2.2.3.2. Cuộc sống của người dân đang dần được cải thiện tốt hơn.
Hàng loạt dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, nạo vét kênh rạch, xử lý môi trường nước,
di dời và giải tỏa nhà ven kênh rạch… được đồng loạt triển khai, hoàn thành. Theo ông
Phan Châu Thuận, Giám đốc Ban Quản lý Dự án Cải thiện môi trường lưu vực Nhiêu
Lộc-Thị Nghè, dự án cải thiện môi trường nước giai đoạn 1 cho tuyến kênh Nhiêu Lộc-
Thị Nghè với nguồn kinh phí hơn 8.600 tỷ đồng, được triển khai hơn 13 năm qua đã
hoàn thành và hiện nay, giai đoạn 2 với nguồn vốn 524 triệu USD đang được triển khai
nhằm hoàn chỉnh hệ thống thu gom, xử lý rác thải kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè, khôi phục
và bảo tồn hệ sinh thái sông Sài Gòn, hạ lưu sông Đồng Nai
Theo Sở GTCC, với diện tích lưu vực là 3.320 ha, dự án này nhằm cải thiện chất
lượng cuộc sống của khoảng 1,2 triệu người thuộc địa bàn 7 quận, trong đó hầu hết là
những hộ nghèo sống dọc theo kênh và ở những vùng hay bị ngập úng. Ngoài ra, dự án
còn hướng đến việc cải thiện tình trạng sức khỏe, giảm chi phí y tế, cải thiện tình trạng

Nó đã được xác định cũng như sau:
• Phân tích các nguyên tắc của phương pháp, quy tắc và định đề sử dụng bởi một
ngành.
• Nghiên cứu có hệ thống các phương pháp đó là, có thể được, hoặc đã được áp
dụng trong một chuyên ngành.
• Nghiên cứu hoặc mô tả các phương pháp.
Bất cứ một ngành khoa học nào cũng có phương pháp của họ. Điều đó có nghĩa
phương pháp luận phải có cấu trúc chung và chúng ta có thể nhìn nhận cấu trúc chỉnh
thể ấy từ 3 bộ phận:
 Những nguyên lý thế giới quan: Đây là bộ phận hết sức quan trọng. Tuy nhiên, không
phải mọi nguyên lý thế giới quan đều được đưa đồng đều vào phương pháp luận của các
khoa học mà chỉ sử dụng những nguyên lý thích hợp để có thể thực hiện được nhiệm vụ
chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở tuỳ theo tính chất của từng khoa học hoặc từng nhóm khoa
học.
 Lý luận về một hệ thống các phương pháp: Điều này có nghĩa là nói đến lý luận về một
hay nhiều phương pháp có thể dùng chung cho nhiều khoa học. Vấn đề ở đây là phải
làm rõ nội dung của phương pháp đó là gì? quan hệ giữa các phương pháp? phạm vi,
khả năng và nguyên tắc ứng dụng của các phương pháp?
 Lý luận về một phương pháp cụ thể nào đó sẽ được sử dụng ở bộ môn này hay bộ môn
khác. Nói cách khác thì đó chính là phương pháp nghiên cứu đặc thù của một môn khoa
học (những nguyên lý và lý thuyết của bản thân khoa học đó hay của các khoa học khác
có vai trò gợi mở, hướng dẫn, chỉ đạo mà khoa học này cần sử dụng hoặc có thể sử
dụng).
15
Theo quan niệm chung hiện nay về phương pháp luận thì có: Phương pháp luận
riêng chỉ áp dụng cho một môn khoa học nhất định; phương pháp luận chung áp dụng
cho một số bộ môn khoa học; phương pháp luận chung nhất áp dụng được cho tất cả các
bộ môn khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến nhất đó là triết học duy vật
biện chứng. Sở dĩ triết học macxit đóng vai trò là phương pháp luận chung nhất là do
các nguyên lý thế giới quan chính là sự đúc kết, tổng kết những gì là cơ bản nhất, sâu

thức, thời gian, tài lực,…)
Nghiên cứu Khoa học (NCKH) cần con người như thế nào?
• Có kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu.
• Có đam mê nghiên cứu, ham thích tìm tòi, khám phá cái mới.
• Có sự khách quan và trung thực về khoa học (đạo đức khoa học).
• Biết cách làm việc độc lập, tập thể và có phương pháp.
• Liên tục rèn luyện năng lực nghiên cứu từ lúc là SV.

Ai là người nghiên cứu Khoa học?
• Các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau ở các Viện, Trung tâm Nghiên
cứu.
• Các giáo sư, giảng viên ở các trường Đại học – Cao Đẳng, Trung học Chuyên
nghiệp.
• Các chuyên gia ở các cơ quan quản lý. Nhà nước.
• Các Công ty, Viện nghiên cứu tư nhân.
• Các Sinh viên ham thích NCKH ở các trường Đại học.
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là cách thức , con đường , phương tiện xử lý
thong tin khoa học làm sang tỏ vấn đề nghiên cứu để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu và
cuối cùng đạt được mục đích nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp nghiên cứu khoa học là tích họp cùa các phương pháp : phương pháp luận,
phương pháp hệ, phương pháp nghiên cứu cụ thể và tuân theo quy luật đặc thù của việc
nghiên cứu đề tài khoa học.
Đặc trưng của phương pháp nghiên cứu khoa học:
- Phương pháp nghiên cứu khoa học có mặt chủ quan và khách quan thể hiện sự
tương tác biện chứng giữa chủ thể và khách thể trong nghiên cứu khoa học.
- Phương pháp nghiên cứu khoa học có tính mục đích gắn liền với nội dung; chĩu
sự chi phối của mục đích và nội dung; bản thân phương pháp có phương tiện
thực hiện mục đích và nội dung.
- Phương pháp nghiên cứu khoa học là một hoạt động có kế hoạch, được tổ chức

khác dễ dàng nên có thể thực hiện lại. Hình ảnh mô tả các thao tác được hiện rõ trên
bảng hiển thị của bạn.
5. Tầm quan sát, dữ liệu, kết quả:
Các kết quả thường là dưới hình thức một tuyên bố để giải thích hoặc diễn giải dữ liệu.
Kết quả thu được ở dạng dữ liệu thô, đồ thị, kết luận rút ra từ những dữ liệu bạn có.
Hình ảnh cũng có thể được sử dụng ở đây. Ví dụ: "Kiểm tra cây 3 cho thấy sự khác biệt
nhỏ trong tốc độ tăng trưởng so với thông thường".
6. Kết luận:
Kết luận là một bản tóm tắt các nghiên cứu và các kết quả của thử nghiệm. Đây là nơi
bạn trả lời các vấn đề của bạn hay câu hỏi nghiên cứu. Bạn đưa ra một tuyên bố cho dù
dữ liệu của bạn có hỗ trợ giả thuyết của bạn hay không. Bạn phải có đủ dữ liệu để
18
chứng minh một phần hoặc phản bác toàn bộ giả thuyết của mình. Trong trường hợp
này, bạn có thể giải thích tại sao có các kết quả khác nhau.Các phương pháp khoa học
không phải là đúc bằng bê tông mà nó là một hệ thống, minh bạch và khá dễ để học hỏi
và sử dụng mà không nhà khoa học nào có thể sử dụng nó cho lợi ích riêng của họ.
Một số phương pháp nghiên cứu khoa học như :
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp toán học
- Phương pháp dự báo khoa học
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bài giảng môn học Đánh giá tác động môi trường, TS. Vương Quang Việt, ĐH Tôn
Đức Thắng.
[2] Quyết định phê duyệt Quy hoạch Thủy lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ
Chí Minh, Quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ - số 1547/QĐ – TTg ngày 28 tháng 10
năm 2008.
[3] Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học - PGS.TS Dương Văn Tiển ,
NXB Xây Dựng , Năm XB 2006


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status