nghiên cứu - trao đổi
32 - Tạp chí luật học
PGS.TS. Lê Minh Tâm *
rong triết học, chính trị học và luật học,
nhà nớc pháp quyền không phải là vấn
đề mới. Tuy nhiên, xung quanh vấn đề nhà
nớc pháp quyền còn rất nhiều câu hỏi đợc
đặt ra nh: Nhà nớc pháp quyền là học
thuyết, t tởng hay khái niệm? nội hàm của
nó gồm những yếu tố nào? nhà nớc pháp
quyền có phải là kiểu nhà nớc hiện đại, là
mô hình khả dụng cho các nớc đơng đại
hay chỉ là hình thức, phơng pháp, nguyên
tắc hay biện pháp tổ chức quyền lực nhà
nớc? nhà nớc pháp quyền x hội chủ nghĩa
có những đặc trng gì khác với nhà nớc
pháp quyền nói chung? để xây dựng nhà
nớc pháp quyền x hội chủ nghĩa ở nớc ta
trong giai đoạn hiện nay cần phải có những
điều kiện gì? Đó là những câu hỏi lớn, đòi
hỏi phải đợc triển khai nghiên cứu một cách
cơ bản, toàn diện mới có thể tìm đợc câu trả
lời. Nhằm góp một phần vào việc giải quyết
những vấn đề trên, bài viết này phân tích và
đa ra một số ý kiến về t tởng nhà nớc
pháp quyền và khái niệm nhà nớc pháp
pháp luật; ngợc lại, pháp luật đợc hình
thành bằng con đờng "nhà nớc hoá" và nó
chỉ phát huy đợc hiệu lực của mình với sự
bảo đảm bằng sức mạnh của nhà nớc. Xét
về mặt lí thuyết, đó là mối quan hệ khách
quan và ngang bằng. Tuy nhiên, trong suốt
chiều dài của lịch sử nhân loại, thực tiễn tổ
T
* Trờng đại học luật Hà Nội
nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 33
chức và thực thi quyền lực nhà nớc, thực
tiễn xây dựng và thực thi pháp luật lại cho
thấy một bức tranh khác, mối quan hệ giữa
nhà nớc và pháp luật dờng nh đ bị làm
cho biến dạng đi dới sự tác động mạnh mẽ
của các yếu tố chủ quan vì những mục đích
khác nhau và từ đó cũng xuất hiện nhiều
cách giải thích khác nhau về mối quan hệ
giữa nhà nớc và pháp luật. Nhà nớc vốn là
"lực lợng nảy sinh trong x hội" và trong
mối quan hệ với pháp luật, nó cũng phụ
thuộc vào pháp luật, đ đợc đề cao thành
lực lợng "tựa hồ nh đứng trên x hội",
(1)
Có thể coi Xôlông (638-559 TCN) là
ngời đầu tiên nêu ý tởng về nhà nớc pháp
quyền khi ông chủ trơng cải cách nhà nớc
bằng việc đề cao vai trò của pháp luật. Theo
ông: "Chỉ có pháp luật mới thiết lập đợc
trật tự và tạo nên sự thống nhất";
(2)
nhà nớc
và pháp luật là hai công cụ để thực hiện dân
chủ, tự do và công bằng, vì vậy, "hy kết hợp
sức mạnh (quyền lực nhà nớc) với pháp
luật".
(3)
Tiếp sau Xôlông, Hêraclít (520-460
TCN) đ có sự bổ sung quan trọng, coi pháp
quyền là phơng tiện quan trọng để chống lại
cực quyền, vì vậy ông kêu gọi: Nhân dân
phải đấu tranh để bảo vệ pháp luật nh bảo
vệ chốn nơng thân của mình.
(4)
Xôcrát
(469-399 TCN) quan niệm về công lí trong
sự tuân thủ pháp luật. Theo ông, x hội
không thể vững mạnh và phồn vinh nếu các
pháp luật hiện hành không đợc tuân thủ, giá
trị của công lí (pháp luật) chỉ có đợc trong
sự tôn trọng pháp luật. Platon (427-374
TCN) phát triển ý tởng về sự tôn trọng pháp
luật ở một góc độ khác - từ phía nhà nớc.
Theo ông, tinh thần thợng tôn pháp luật
(106-43 TCN) tiếp tục phát triển ý tởng của
Aristote đến trình độ cao hơn, ông đ đa ra
quan niệm mới về nhà nớc, coi nhà nớc là
"một cộng đồng pháp lí", "một cộng đồng
đợc liên kết với nhau bằng sự nhất trí về
pháp luật và quyền lợi chung"
(7)
và ông đ đề
xuất nguyên tắc: "Sự phục tùng pháp luật là
bắt buộc đối với tất cả mọi ngời".
(8)
Những ý tởng, quan niệm của các nhà
t tởng thời kì cổ đại tuy đợc nêu ở những
góc độ khác nhau nhng tựu trung đều cổ vũ
cho việc đề cao pháp luật và xây dựng nhà
nớc hoạt động trong khuôn khổ của pháp
luật công bằng. Những ý tởng đó có ảnh
hởng rất lớn tới việc hình thành và phát
triển các lí thuyết về tính tối cao của pháp
luật, về phân chia quyền lực nhà nớc và về
nhà nớc pháp quyền nói chung. Tuy nhiên,
do nhiều nguyên nhân khác nhau, bên cạnh
những yếu tố đợc gạn chắt ở trên, các ý
tởng và quan niệm đó cũng còn có nhiều
hạn chế, cha toàn diện và cha có đủ cơ sở
lí luận khoa học.
Trong thời kì trung cổ, những ý tởng và
quan niệm nói trên vẫn đợc vận dụng và có
những ảnh hởng quan trọng. Tuy nhiên, nếu
những gì mà pháp luật không cấm" và các cơ
quan nhà nớc, công chức nhà nớc "chỉ đợc
làm những điều mà pháp luật cho phép".
Tiếp sau J. Locke, Montesquieu (1698 -
1755) trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật" đ
đề ra lí thuyết phân chia quyền lực, một trong
những nội dung chủ yếu của nhà nớc pháp
quyền t sản. Montesquieu cho rằng trong nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 35
mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực là:
Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền
t pháp.
(10))
Để chống độc đoán, lạm quyền
thì ba thứ quyền này phải đợc tổ chức sao
cho chúng có tính độc lập và kiềm chế lẫn
nhau, bởi vì: "Khi mà quyền lập pháp và
quyền hành pháp nhập lại trong tay một
ngời hay một viện Nguyên lo, thì sẽ không
còn gì là tự do nữa; vì chính ngời đó hay
viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành
một cách độc tài Nếu quyền t pháp nhập
với quyền lập pháp thì ngời ta sẽ độc
đoán quan toà sẽ là ngời đặt ra luật. Nếu
quyền t pháp nhập lại với quyền hành pháp
thì quan toà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn
và quyền lực
của mình dới sự điều khiển của ý chí chung
và tiếp nhận mọi thành viên nh một bộ phận
không thể tách rời của toàn thể;
(13)
quyền lực
tối cao đợc thiết lập từ những cá thể thành
viên hợp lại, nên tự nó luôn luôn là tất cả
những gì tạo ra nó; ý chí chung chỉ có thể
điều khiển các lực lợng nhà nớc theo mục
đích của cơ chế nhằm mục đích phục vụ ý
chí chung; ý chí chung là của toàn thể dân
chúng, vì vậy, khi đợc công bố nó trở thành
luật và do đó chủ quyền tối cao là không thể
phân chia.
(14)
Xét trên phơng diện thực tế,
quyền lực nhà nớc phải trao cho các cơ
quan, con ngời cụ thể, do đó phải có sự
phân lập tơng đối, chứ không thể thoát li
khỏi sự ràng buộc của ý chí chung. Do đó,
"những bộ phận quyền hành đợc chia tách
ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao,
đều giả định phải có quyền lực tối cao,
mỗi bộ phận đều chỉ nhằm thực hiện ý chí
tối cao đó".
(15)
I. Kant (1724-1804) là ngời có đóng
trong nhà nớc đó có sự phân biệt rõ ba loại:
Pháp luật tự nhiên, pháp luật thực tiễn và
pháp luật công lí, trong đó pháp luật tự nhiên
lại chia thành luật công và luật t và chế định
trung tâm của luật công là quyền của nhân
dân đợc tham gia vào việc thiết lập trật tự
pháp luật bằng cách thông qua hiến pháp thể
hiện ý chí của họ.
Khác với Cantơ, Hêghen (1770 -1831)
cho rằng pháp luật thể hiện (một cách hạn
chế) ý chí tự do; sự phát triển của t tởng
pháp quyền trải qua nhiều cấp độ, mỗi cấp
độ có hình thức riêng và khởi điểm của sự
phát triển pháp quyền là ý chí tự do; pháp
luật là mối quan hệ của con ngời, có tính
trừu tợng và "là phơng thức tồn tại của lí trí
tự do.
(17)
Ph. Hegel coi nhà nớc cũng chính
là pháp luật; nhà nớc là pháp luật phát triển,
sự biểu hiện cao nhất của pháp luật cụ thể,
đứng trên đỉnh cao của hình chóp pháp luật.
Với cách lập luận đó, Heghen đ đi đến kết
luận rằng "chỉ có nhà nớc là sự thể hiện của
tự do"; nhờ có nhà nớc mà gia đình, x hội
công dân đợc bảo tồn và những mâu thuẫn
đẳng cấp đợc điều hoà
(18)
.
Có thể nói, đến nửa cuối thế kỉ XVIII
thức phản ánh thế giới vào t duy, nhờ nó mà
ngời ta nhận thức đợc bản chất của các
hiện tợng, các quá trình khái quát đợc
những dấu hiệu cơ bản của nó. Khái niệm là
sản phẩm của nhận thức đang phát triển
trong lịch sử; nhận thức này đợc hình thành
từ giai đoạn thấp đến giai đoạn cao hơn, tóm
tắt những kết quả đ thu đợc từ thực tiễn để
hình thành nên nội dung của khái niệm ngày nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 37
càng sâu hơn. Kết quả của t duy thể hiện
trong khái niệm luôn có tính kế thừa và phát
triển; khái niệm mới thờng đợc hình thành
trên cơ sở làm rõ khái niệm cũ, bổ sung và
hoàn thiện những nội dung mới. Vì vậy, các
khái niệm không có tính chất tĩnh và tính
tuyệt đối; mọi khái niệm đều có nguồn gốc
phát sinh và đang trong trạng thái phát triển,
luôn là sự tiệm tiến để phản ánh ngày càng
đầy đủ hơn thực tế vận động và phát triển
của sự vật (hiện tợng, quá trình, vấn đề).
Theo V.I.Lênin, mọi khái niệm đều cần
"đợc mài sắc, gọt rũa, mềm dẻo, năng động,
tơng đối, liên hệ với nhau, thống nhất trong
những đối lập".
(19)
và trở thành những dấu hiệu có tính đặc
trng. Thứ hai, nhà nớc pháp quyền là khái
niệm chung, nhờ sự phản ánh khái quát lí
luận về những đặc tính của các nhà nớc
pháp quyền cụ thể tồn tại trong thực tiễn, vì
vậy, có nhà nớc pháp quyền ở trình độ thấp
và nhà nớc pháp quyền ở trình độ cao; có
nhà nớc pháp quyền t sản và có nhà nớc
pháp quyền XHCN. Thứ ba, phải có quan
điểm biện chứng khi nghiên cứu về nhà nớc
pháp quyền, phải đặt những vấn đề nhà nớc
pháp quyền trong sự vận động, phát triển và
gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể trong
mỗi giai đoạn quá trình để tìm ra những yếu
tố có tính bản chất và gạt bỏ những yếu tố
ngẫu nhiên, tạm thời, rời rạc ra khỏi khái
niệm. Thứ t, trong x hội hiện đại, khái
niệm nhà nớc pháp quyền lại có thêm
những nội dung mới; nhà nớc pháp quyền
phải có đủ năng lực giải quyết những vấn đề
quốc gia và quốc tế.
Nh vậy, vấn đề quan trọng là phải căn
cứ vào điều kiện cụ thể, trong mỗi thời kì cụ
thể để tìm ra mức độ hợp lí của các yếu tố để
xây dựng đợc mô hình nhà nớc pháp
quyền phù hợp. Nhà nớc pháp quyền x
hội chủ nghĩa sẽ đợc xây dựng theo quy
luật từ thấp đến cao, từ hoàn thiện ít đến
hoàn thiện nhiều.
Vậy, nội hàm của khái niệm nhà nớc
kiện nh: Có bộ máy nhà nớc gọn nhẹ, có
hiệu lực và hiệu quả, có sự phân công rõ ràng
để thực hiện tốt các quyền lập pháp, hành
pháp, t pháp ; có hệ thống pháp luật thống
nhất, đồng bộ và hoàn thiện, phản ánh đúng
ý chí, lợi ích nhân dân và cộng đồng x hội;
bảo đảm các quyền và tự do của công dân; sự
rõ ràng về nghĩa vụ của công dân với nhà
nớc và nhà nớc với công dân; ý thức chính
trị, ý thức pháp luật và trình độ văn hoá cao
Nh vậy, nhà nớc pháp quyền không
phải là kiểu nhà nớc mà là một mô hình nhà
nớc mà ở đó bên cạnh những đặc điểm
chung nó còn có những đặc điểm riêng. Để
xây dựng đợc nhà nớc pháp quyền thì đòi
hỏi phải xuất phát từ những đặc điểm chung
và riêng của nhà nớc pháp quyền và căn cứ
vào điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, văn
hoá, x hội để có những phơng hớng và
giải pháp cụ thể và có bớc đi phù hợp./.
(1).Xem: Mác-Ănghen, Tuyển tập, tập 6, Nxb. Sự
thật, H. 1984, tr.260.
(2), (3). Xem: Giáo trình lịch sử các học thuyết chính
trị, Khoa luật ĐHQGHN, H. 1995, tr. 48.
(4).Xem: Thuyết "Tam quyền phân lập" và bộ máy
nhà nớc t sản hiện đại", Viện TTKHXH, H.1992,
tr.6.
(5).Xem: Platon, Toàn tập, tập 3, phần 2, Nxb. T
tởng, M.1972 (tiếng Nga), tr.188.