VỀ VIỆC THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO - Pdf 26

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 7
TỔNG QUAN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC 7
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI CHDCND
LÀO 7
1.1. Pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của Ngân hàng 9
1.1.1. Pháp luật về đầu tư 9
1.1.2 Pháp luật về ngân hàng 13
1.1.3 Các hiệp định thương mại liên quan giữa Lào và Việt Nam 15
1.2. Quy định của pháp luật về các loại hình Ngân hàng nước ngoài
hoạt động tại CHDCND Lào 19
1.2.1. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Lào 22
Việc các ngân hàng Việt Nam đầu tư ra nước ngoài ngày càng nhiều là
tín hiệu tốt khi mở rộng được thị trường, tăng nguồn ngoại tệ,
hỗ trợ doanh nghiệp. Sacombank là ngân hàng đầu tiên của
Việt Nam mở chi nhánh tại nước ngoài. Tiếp sau đó là hàng
loạt các ngân hàng cũng tiếp bước mở văn phòng đại diện tại
nước ngoài như Agribank, VietinBank, Vietcombank, MB,
SHB. Mới đây HDBank cũng đã được Ngân hàng nhà nước
chấp thuận mở văn phòng đại diện tại Myanmar. Rất nhiều
ngân hàng khác cũng đang làm hồ sơ đề nghị Ngân hàng nhà
nước cho phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại
nước ngoài 22
Việc các ngân hàng của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài ngày càng
nhiều là một tín hiệu tốt cho chính các ngân hàng và cũng có
lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, phù hợp với chủ trương

Tuy nhiên, không phải thị trường nước ngoài nào cũng một màu hồng
như Campuchia, Lào cho các ngân hàng Việt Nam.
VietinBank, một trong bốn ngân hàng lớn của Việt Nam, năm
2013 ghi nhận 1,1 triệu USD lợi nhuận từ thị trường Lào
nhưng chi nhánh mở ra tại Đức thì chẳng mấy sáng sủa. Các
chi nhánh mở tại Frankfurt vào năm 2011 và Berlin năm 2012
của VietinBank đến nay chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện và kiện
toàn tổ chức bộ máy theo quy định, chuẩn mực thị trường
châu Âu và bước đầu đi vào quảng bá thương hiệu, khuếch
trương hình ảnh của ngân hàng VietinBank trong mắt người
tiêu dùng 23
Lý do cho việc các ngân hàng Việt Nam chưa thành công ở thị trường
Âu Mỹ một phần vì tính cạnh tranh tại các thị trường này rất
cao, đòi hỏi ngân hàng phải chuẩn bị tốt các phương án để
đảm bảo hoạt động ổn định, lành mạnh và có hiệu quả. Thêm
vào đó, chi phí hoạt động tại các thị trường Âu Mỹ tốn kém
hơn so với các thị trường ở Đông Nam Á, do đó phải có lực
mạnh mới đủ sức để cạnh tranh. 23
Ngoài ra, cũng còn đó những rủi ro chung cho các thị trường nước
ngoài như là cho vay ở nước ngoài chứa đựng nhiều rủi ro hơn
so với cho vay trong nước vì nguồn thông tin ở nước ngoài
thường ít hơn, kém tin cậy hơn so với cho vay trong nước. Vì
vậy, các ngân hàng phải có những phương thức phòng chống
rủi ro, phân tích kỹ cá nhân người vay, đất nước và chính phủ
nơi người vay định cư 23
Đặc biệt là ở những thị trường như Mỹ, châu Âu, đòi hỏi các nhà quản
trị ngân hàng Việt Nam phải chú trọng đến trình độ của các
nhà quản lý và đội ngũ nhân viên của chi nhánh ở nước ngoài,
chú trọng đào tạo cả về trình độ chuyên môn, đạo đức và khả
năng am hiểu địa phương 23

CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
ĐTNN : Đầu tư nhà nước
KTXH : Kinh tế xã hội
NSNN : Ngân sách nhà nước
NHNN : Ngân hàng nhà nước
TCTD : Tổ chức tín dụng
TMCP : Thương mại cổ phần
TW : Trung ương
USD : Đồng Đô la Mỹ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (Lao People’s Democratic Republic) có vị
trí địa lý phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây bắc giáp Mi-an-ma, phía tây nam giáp
Thái Lan; phía nam giáp Căm-pu-chia và phía đông giáp Việt Nam. Lào có diện
tích: 236.800 km
2
, dân số: 6.521.998 (tính đến tháng 7/2007). Lào có 68 bộ tộc chia
làm 3 hệ chính là Lào Lùm (sống ở đồng bằng) chiếm 65% dân số; Lào Thâng
(sống ở lưng chừng núi) chiếm 22% và Lào Xủng (sống vùng núi cao) chiếm 13%
dân số. Lào xây dựng và phát triển chế độ Dân chủ Nhân dân, tạo tiền đề để từng
bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng
Lào. Quốc hội do dân bầu, nhiệm kỳ 5 năm. Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia;
Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu, có 15 Bộ và cơ quan ngang Bộ. Từ Đại hội IV
(1986) Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã đề ra đường lối đổi mới, Đại hội V
(1991) tiếp tục cụ thể hóa và hoàn thiện đường lối đổi, tiếp tục xây dựng và phát
triển chế độ Dân chủ Nhân dân, từng bước tiến tới mục tiêu XHCN. Đại hội VI
(1996) tổng kết 5 bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 10 năm lãnh đạo thực hiện
đổi mới và đánh giá đó là thành quả lịch sử quan trọng. Đại hội VII (2001) đã triển
khai đường lối đổi mới thành chiến lược phát triển đất nước đến năm 2020. Đại hội

cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; phát triển nhịp nhàng các thành phần kinh tế,
trong đó thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được củng cố và phát triển
vững mạnh. GDP sẽ tăng gấp 3 lần năm 2000; chủ động mở rộng hợp tác quốc tế.
Về đối ngoại, Đại hội Đảng VIII (3/2006) đã nhấn mạnh tiếp tục thực hiện
đường lối đối ngoại hoà bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác; đa phương hoá, đa dạng
hoá quan hệ; thực hiện chủ trương Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào sẵn sàng là
bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước nhằm bảo đảm lợi ích chung và lợi ích
riêng của mỗi bên; nhấn mạnh tiếp tục củng cố, tăng cường quan hệ hữu nghị và
hợp tác toàn diện với các nước XHCN, trong đó tiếp tục tăng cường tình đoàn kết
đặc biệt và hợp tác toàn diện với Việt Nam, hợp tác toàn diện với Trung Quốc và
các nước anh em khác, thắt chặt quan hệ hợp tác với các nước láng giềng có chung
biên giới, tích cực tham gia hoạt động trong ASEAN trên tinh thần giữ vững các
nguyên tắc cơ bản của ASEAN.
2
Lào là quốc gia có nhiều tiềm năng về khoáng sản, thủy điện, nông - lâm
nghiệp, nguồn lao động, đồng thời là cửa ngõ quan trọng để thâm nhập vào thị
trường lớn của tiểu vùng châu Á với khoảng 150 triệu dân gồm các nước Thái Lan,
Myanmar, Campuchia và Trung Quốc (tỉnh Vân Nam)… Lào thông qua Hiến Pháp
mới năm 1991. Quốc hội có 85 đại biểu. Lào áp dụng một hệ thống hành chính bốn
cấp gồm cấp trung ương và ba cấp địa phương. Cấp địa phương cao nhất là tỉnh có
17 đơn vị và thành phố Vientinane. Cấp địa phương thấp hai là các quận, huyện, thị
xã. [11] [12]
Cũng như một số nước đang phát triển trong khu vực, nền kinh tế Lào xuất
phát điểm thấp nên đang cần nguồn lực rất lớn để phát triển. Trong khi đó, thị
trường tài chính Lào còn rất đơn sơ, thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động
(mới khai trương vào 10/10/2010), nên Chính phủ Lào rất hoan nghênh sự đầu tư
của doanh nghiệp các nước vào thị trường Lào [6]. Tại Hội nghị hợp tác đầu tư Việt
- Lào diễn ra (2011), dưới sự đồng chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ
tướng nước chủ nhà Thongsing Thammavong, sáu dự án với tổng số vốn đầu tư 410
triệu USD đã được cấp phép. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

Ngân hàng TMCP Quân Đội Việt Nam (MB), Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt
Nam (MSB);…
Với sân chơi mới đó, các Ngân hàng, ngoài việc chấp thuận của “Ngân hàng
mẹ” là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn phải được sự chấp thuận của Ngân hàng
Nhà nước tại Lào. Để đạt được kết quả này, mỗi Ngân hàng phải tìm cho mình một
con đường đúng đắn như loại hình thành lập, cơ cấu bộ máy tổ chức, nhân sự,
phương án kinh doanh Việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu
công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình
doanh nghiệp là: (i) pháp luật chi phối; (ii) khả năng huy động vốn; (iii) rủi ro đầu
tư; (iv) tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; (v) tổ chức
quản lý doanh nghiệp. Có thể nói, hệ thống pháp luật Lào luôn là rào cản khó khăn
nhất khi các Ngân hàng trong nước tiếp cận.
Mặc dù, trong quá trình hoạt động kinh doanh tại Lào, các doanh nghiệp Việt
Nam đều nhận được sự quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ của các cấp chính quyền và nhân
dân Lào, nhưng hiện nay công tác thông tin và tư vấn cho các Ngân hàng mong
muốn hoạt động tại Lào còn rất nhiều hạn chế, chưa có giải pháp hữu hiệu để thu
thập, biên dịch, in ấn cung cấp các văn bản pháp luật của cả Việt Nam và Lào.
4
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc tìm hiểu pháp luật Cộng hòa Dân chủ
nhân dân Lào điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài,
tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Lào là cần thiết và có tính thời
sự. Ngoài ra, cần thiết phải làm rõ các quy định của pháp luật Lào về mặt nội dung
cũng như thủ tục pháp lý quy định về việc cấp Giấy phép, về tổ chức và hoạt động
của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện
của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng
tại Lào, cũng như với mong muốn tìm hiểu, phân tích thực trạng và rút ra những bài
học kinh nghiệm cho các Ngân hàng nước ngoài (mà cụ thể là ngân hàng Việt Nam)
khi tham gia vào thị trường ngân hàng đầy tiềm năng tại Lào, học viên đã tôi mạnh

Phạm vi nghiên cứu của đề tài, đề tài nghiên cứu tại lãnh thổ của Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào và các lãnh thổ nước ngoài (có ngân hàng thương mại, chi
nhánh ngân hàng, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng, tổ chức nước ngoài khác
có hoạt động ngân hàng tại Lào) có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài.
Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn cũng như sự hạn chế của nguồn tài liệu đề
tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại
Việt Nam, chi nhánh ngân hàng Việt Nam, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng
Việt Nam, tổ chức khác của Việt Nam có hoạt động ngân hàng tại Lào.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cũng như nhiều khoa học pháp lý khác, trong quá trình tìm hiểu và nghiên
cứu đề tài, luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu như biện chứng duy vật
của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như quan điểm đường
lối chính sách của Đảng và Nhà nước về đầu tư ra nước ngoài của các ngân hàng
Việt Nam hoặc các tổ chức khác có các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực ngân
hàng. Luận văn được nghiên cứu bằng các phương pháp khác nhau, có hệ thống và
nhất quán nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu, ví dụ như các phương pháp
thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích,
so sánh pháp luật giữa các quy định của pháp luật Lào và pháp luật của Việt Nam,
xem xét tính phù hợp giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Lào, thu thập kinh
nghiệm thực tiễn của một số Ngân hàng trong việc quy định và áp dụng các vấn đề
liên quan đến việc thành lập các chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài. Từ đó, rút ra
những bài học kinh nghiệm cho các Ngân hàng.
6
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: Phần Mở đầu, Phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham
khảo, Luận văn được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ngân
hàng nước ngoài Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng
nước ngoài tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

giảm thiểu.
Thứ hai, các Ngân hàng nước ngoài, mà cụ thể là các ngân hàng Việt Nam
cũng tận dụng được các lợi thế và cơ hội phát triển từ sự hợp tác chặt chẽ lâu dài đã
có trong lịch sử giữa hai quốc gia. Với sự hiểu biết về thị trường Lào, khả năng tận
dụng nhân lực Lào đã và đang học tập ở Việt Nam trên các cấp đại học, cao học,
thậm chí là bậc tiến sĩ, các ngân hàng Việt Nam đang có những lợi thế tương đối so
với các Ngân hàng thương mại ở các quốc gia khác khi phát triển các chi nhánh của
mình hoạt động trên thị trường Lào. Hơn thế nữa, Lào là một thị trường rất tiềm
năng, với những cơ hội phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới đối với khu vực ngân
hàng tài chính. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều ngân hàng thương mại ở Việt
Nam đã phát triển hoạt động quốc tế của mình bắt đầu từ thị trường Lào.
Thứ ba, phát triển hợp tác trong lĩnh vực ngân hàng tạo điều kiện nâng mối
quan hệ hợp tác giữa hai nước lên tầm cao mới. Sự đổi mới và phát triển của hệ
thống ngân hàng Lào rất tương đồng với hệ thống ngân hàng Việt Nam, Việt Nam
đã giúp Lào trong việc đổi mới hoạt động ngân hàng, cũng như các hoạt động kinh
tế; và nước bạn cũng luôn đáp ứng sự hỗ trợ đó một cách nhiệt tình nhất.
8
Do đó, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực ngân hàng, tập trung vào phát triển
hoạt động ngân hàng nước ngoài tại Lào, là cơ hội để tiếp nối những thành công
trong hợp tác từ trước đến nay, đảm bảo tính thống nhất và liên kết giữa hai nền
kinh tế, hai xã hội, hai quốc gia. Ổn định hệ thống ngân hàng cũng là điều kiện tiên
quyết cho sự ổn định xã hội và chính trị, hai “tài sản vô giá” mà Việt Nam và Lào
có được trong điều kiện nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới đang lâm vào tình
trạng khủng hoảng kinh tế - chính trị - xã hội trầm trọng. Từ đó việc tìm hiểu hệ
thống văn bản pháp luật Lào liên quan đến việc thành lập và hoạt động ngân hàng là
một trong những vấn đề quan trọng và mấu chốt, góp phần tạo điều kiện phát triển
cho hệ thống ngân hàng đang “nung nấu” ý định sang thị trường Lào hoạt động.
1.1. Pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của Ngân hàng
1.1.1. Pháp luật về đầu tư
Để thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng nhân dân cách mạng Lào,

quy mô trung bình và nhỏ, làm cho tài chính kinh doanh có sự ổn định vững chắc,
từng bước giải quyết và tiến tới việc giải quyết các khoản nợ nước ngoài. Tăng vốn
cho việc đầu tư phát triển KTXH, lập dự án đầu tư phù hợp, tiếp tục mở rộng và
nâng cao chất lượng của quan hệ kinh tế với nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc xuất khẩu, thu hút vốn nước ngoài và thực hiện ký kết các hiệp định song
phương và đa phương ở phạm vi cấp Nhà nước, cấp địa phương và trong phạm vi
các doanh nghiệp với nhau.”.
Thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng nhân dân cách mạng Lào, Chính
phủ đã ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư, trong đó quy định các cá
nhân, tổ chức không chỉ là nhà đầu tư trong nước mà còn là các nhà đầu tư nước
ngoài có quyền đầu tư tại CHDCND Lào trên nguyên tắc các bên cùng có lợi, hoạt
động trên cơ sở của pháp luật CHDCND Lào, nhà đầu tư sẽ được bảo vệ bởi pháp
luật của CHDCND Lào.
Pháp luật đầu tư của Lào bảo đảm tính liên thông giữa các văn bản pháp luật
liên quan như Luật Doanh nghiệp Lào năm 2005, Luật phá sản Lào, Luật ngân hàng
thương mại Lào năm 2006, Luật đầu tư nước ngoài Lào năm 2005, Luật khuyến
khích đầu tư nước ngoài Lào năm 2004 trong đó Luật Doanh nghiệp Lào năm
2005 quy định việc thành lập công ty, hình thức, loại hình và kể cả việc góp vốn của
các nhà đầu tư. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài
chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, quy định về việc xem xét đơn xin
phép đầu tư của các nhà đầu tư. Trong từng thời điểm cụ thể, CHDCND Lào đã ban
hành một số các văn bản pháp luật về công nhận đầu tư đối với hoạt động đầu tư
10
trong nước và nước ngoài như: Pháp luật đầu tư nước ngoài của Lào ngày
09/04/1988 được sửa đổi bổ sung bởi Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước
ngoài số 01/1994-QH ngày 14/3/1994, được Chủ tịch nước Lào công bố áp dụng
thông qua Sắc lệnh số 23/CTN ngày 21/4/1994; Luật Khuyến khích và quản lý đầu
tư trong nước số 03/95-QH ngày 14/10/1995 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước số 10/QH ngày 22/10/2004; Nghị định của Thủ
tướng Chính phủ Lào về việc quản lý đầu tư của Nhà nước ngày 22/5/2002; Quyết

nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm
quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.” Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
(OECD) cũng đưa ra khái niệm: “Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh
nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư
trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu
chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên
không phải tất cả các quốc gia đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài. Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong
doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành
quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người đầu tư
gián tiếp.[17] Còn theo Luật số 11/QH ngày 22/10/2004 về khuyến khích đầu tư
nước ngoài tại nước CHDCND Lào, Đầu tư nước ngoài được quy định như sau:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài có nghĩa là thu hút vốn gồm có tài sản, công nghệ và
nhân lực của nước ngoài vào CHDCND Lào với mục đích kinh doanh”. Các quan
điểm và định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài được đưa ra tuỳ theo góc độ nhìn
nhận của các nhà kinh tế, rát phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, dù được định nghĩa
như thế nào thì bản chất của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu
tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản
xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ
vốn đầu tư. Qua đó, chúng ta có thể rút ra một định nghĩa chung nhất như sau: Đầu
tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn để tạo lập cơ sở sản
xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư. Trong đó nhà đầu tư nước ngoài có thể thiết
lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản lý, điều hành
trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ các hoạt
động đầu tư đó trên cơ sở tuân theo quy định của Luật ĐTNN của nước đó.[15]
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hình thành từ mọi thành phần kinh
tế: chính phủ, doanh nghiệp và tư nhân. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc
12
điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này
không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn, nguồn vốn đầu tư này mang khoa học, kỹ

1988
13
hàng thương mại
Luật hoá việc phân định rõ chức năng và nhiệm vụ của NH trung
ương, Ngân hàng thương mại
1990
Mở rộng hoạt động ngân hàng thương mại, khuyến khích khu vực
tư nhân và nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng
1992
Bắt đầu thực hiện đổi mới các Ngân hàng thương mại nhà nước 1996
Tái cơ cấu các Ngân hàng thương mại nhà nước 2003
Thực hiện cổ phần hóa một số Ngân hàng thương mại nhà nước 2009
Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại 2011 đến nay
Cũng như pháp luật đầu tư thì pháp luật ngân hàng của Lào bảo đảm tính
chặt chẽ giữa các văn bản pháp luật liên quan như Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật
Ngân hàng thương mại Trong đó, Luật ngân hàng nhà nước năm 1995 quy định
khá rõ vai trò của Ngân hàng Nhà nước: “Ngân hàng nhà nước là tổ chức tài chính
của Chính phủ, có địa vị tương đương bằng Bộ, là ngân hàng trung tâm của cả
nước, có trụ sở chính tại thủ đô. Tham mưu cho Chính phủ trong việc quản lý vĩ mô
nền tài chính quốc gia. Khuyến khích và bảo vệ sự vững chắc của đồng tiền Kíp ở
trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế quốc
gia. Làm cho hệ thống tài chính tiền tệ Lào hoạt động an toàn và có hiệu quả.
Khuyến khích và tạo điều kiện để nguồn vốn trong và ngoài nước được vận hành
hiệu quả. Góp phần giúp nền kinh tế Lào thực hiện được những mục tiêu chiến lược
trong phát triển nền kinh tế xã hội”. Từ đó có thể hiểu, hệ thống Ngân hàng nhà
nước tại Lào cũng có chức năng tương tự như Ngân hàng Nhà nước tại Việt Nam,
tức là ngân hàng đầu não, cơ quan quản lý có trách nhiệm tổng thể đối với sự phát
triển của tài chính vi mô, chịu trách nhiệm kiểm soát nguồn tiền, quản lý dự trữ và
giám sát các ngân hàng thương mại. Có thể nói, Luật Ngân hàng nhà nước năm
1995 cũng quy định tương đối thành công trong việc hoàn thành mục tiêu phát triển

Quan hệ Việt Nam - Lào là mối quan hệ lâu bền từ trước tới nay giữa Việt
Nam và Lào. Mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào đã được Đảng Nhân dân Cách
mạng Lào coi là chiến lược trong suốt cuộc đấu tranh giành quyền lực. Trên thực tế
mặc dù hai nước gặp nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên mang lại, nhưng quan hệ
giao lưu qua lại giữa hai nước không ngừng phát triển, vượt qua mọi khó khăn để
phát triển toàn diện trong mọi hoàn cảnh, một giai đoạn và trong mọi lĩnh vực. Có
được mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt như ngày nay là nhờ có truyền thống
tốt đẹp trong quan hệ giữa nhân dân hai nước có từ bao đời.
15
Sự gắn kết giữa hai nước CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào là mối
quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, gắn bó keo sơn, thuỷ chung, trong
sáng giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai Quốc hội và Nhân dân hai nước. Sau 50 năm
kể từ ngày thiết lập quan hệ ngoại giao, mối quan hệ truyền thống này luôn được
củng cố sâu rộng và phát triển toàn diện, liên tục. Một trong những động lực thúc
đẩy quan hệ song phương ngày càng bền vững và phát triển của hai nước chính là
sự thành công trong hợp tác kinh tế, thương mại.[12]
Trong thương mại, Việt Nam và Lào cũng đã có mối quan hệ từ xa xưa, ban
đầu chủ yếu là thông qua việc giao thương, trao đổi hàng hoá của cư dân vùng biên
giới hai nước. Mối quan hệ này được xác lập chính thức thông qua con đường Nhà
nước từ khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào
ký Hiệp định Thương mại ngày 13/7/1961. Đây là bước đi đầu tiên và tạo cơ sở
pháp lý quan trọng nhất cho quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển.
Tuy vậy, thời kỳ 1961-1975 quan hệ thương mại giữa hai nước mới bắt
đầu tại vùng biên giới hai nước. Đặc biệt là quan hệ vừa trao đổi hàng hoá vừa
giúp đỡ lẫn nhau giữa nhân dân các tỉnh biên giới Việt Nam với bà con vùng
giải phóng của Lào Sau khi nước CHDCND Lào được thành lập (tháng
12/1975), thời kỳ 1976 - 1990, hai nhà nước Việt Nam và Lào đã ký các Hiệp
định Thương mại 5 năm và các Nghị định thư thương mại hàng năm đề tạo cơ
sở cho sự giao lưu của hai nước. [12]
Tháng 2/1991, Hiệp định Thương mại thời kỳ 1991 - 1995 được ký giữa hai

“đầu tư” mà không chỉ giới hạn bởi các lĩnh vực như:
1.Động sản, bất động sản và bất kỳ quyền sở hữu tài sản nào khác như quyền
thế chấp, cầm cố, đặt cọc;
2. Phần góp vốn, cổ phần và trái phiếu của các công ty hay lãi từ tài sản của
các công ty đó;
3. Khiếu nại đối với một khoản tiền hay quyền đối với bất kỳ sự thực hiện
nào có giá trị về mặt kinh tế;
4. Quyền sở hữu trí tuệ và công nghiệp, bao gồm quyền tác giả, bằng phát
minh sáng chế, nhãn hiệu thương mại, tên thương mại, kiếu dáng công nghiệp, bí
quyết thương mại, quy trình kỹ thuật và bí quyết kỹ thuật và uy tín kinh doanh;
5. Sự chuyển nhượng kinh doanh theo luật hoặc theo hợp đồng, bao gồm tô
nhượng về thăm dò, nuôi trồng, tinh chế hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên.
17
Hiệp định này cũng một lần nữa khẳng định việc khuyến khích bảo hộ đầu tư
ngay tại Điều 2 rằng “Mỗi Bên ký kết sẽ khuyến khích và tạo những điều kiện thuận
lợi cho nhà đầu tư của Bên ký kết kia đầu tư trên lãnh thổ của mình, vá sẽ chấp
thuận việc đầu tư đó phù hợp với luật và quy định của mình. Việc đầu tư của các
nhà đầu tư mỗi Bên ký kết sẽ luôn luôn được hưởng sự đối xử thoả đáng công bằng
và được đảm bảo an toàn trên lãnh thổ của Bên ký kết kia.”
Có thể thấy rằng, trong những năm qua, việc tăng cường, thúc đẩy hợp tác
trong lĩnh vực kinh tế cho ngang tầm với quan hệ chính trị và tiềm năng của hai
nước rất được chú trọng. Nội dung, hình thức hợp tác ngày càng được mở rộng, đa
dạng và phong phú. Các dự án đầu tư của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các lĩnh
vực mà Lào có tiềm năng, thế mạnh, được Chính phủ Lào khuyến khích như nông
lâm nghiệp, thuỷ điện, khai khoáng, giao thông vận tải, dịch vụ, viễn thông Nhìn
chung, các dự án đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam được thực hiện ở Lào đã
góp phần làm thay đổi cơ cấu và thúc đẩy nền kinh tế Lào phát triển, tạo công ăn
việc làm và thu nhập cho người dân, được Chính phủ Lào, chính quyền và nhân dân
địa phương đánh giá cao.
Như vậy, trải qua hơn 40 năm kể từ khi hai nước ký Hiệp định thương mại

bộ ký ngày 24/2/1996 (7/2001); Nghị định thư 2001 thực hiện Hiệp định đường bộ
sửa đổi (7/2001); Nghị định thư về hợp tác đào tạo cán bộ giữa 2 nước (1/2002);
Thoả thuận về cơ chế tài chính và quản lý dự án sử dụng viện trợ của Chính phủ
Việt Nam dành cho Chính phủ Lào (1/2002); Thoả thuận Viêng Chăn (8/2002). Đây
chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho quan hệ song phương giữa hai nhà nước Việt
–Lào, mà trong đó bao gồm cả lĩnh vực hợp tác đầu tư trong lĩnh vực tài chính ngân
hàng.
1.2. Quy định của pháp luật về các loại hình Ngân hàng nước ngoài hoạt động
tại CHDCND Lào
Theo Điều 2 Luật ngân hàng nhà nước Lào năm 1995 có quy định “Ngân
hàng nhà nước là tổ chức tài chính của Chính phủ, có địa vị tương đương bằng Bộ,
là ngân hàng trung tâm của cả nước, có trụ sở chính tại thủ đô ” Như vậy, pháp
luật ngân hàng của CHDCND Lào đã nhìn nhận một cách đúng đắn và chính xác về
vai trò, vị trí của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân, cũng như đối với
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status