Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Qua thời gian thực tập tại công ty TNHH TM Quốc Tế Việt Mỹ Hàn và
những kiến thức đã được học ở nhà trường, cùng với kinh nghiệm thực tế em thấy
tầm quan trọng của Marketing đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
thương mại nói chung, công ty TNHH TM Quốc Tế Việt Mỹ Hàn nói riêng. Triết
lý Marketing đã phản ánh những tư tưởng cốt lõi, cơ bản nhất của kinh tế thị
trường. Bắt đầu nắm bắt nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp đưa ra các sản
phẩm dịch vụ để thoả mãn nhu cầu đó. Triết lý Marketing hiện đại đòi hỏi tất cả
các bộ phận trong doanh nghiệp phải theo đuổi mục tiêu rõ ràng làm sao đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng tốt nhất, qua đó doanh nghiệp thu được lợi nhuận.
Chính bởi lẽ đó em quyết đinh chọn đề tài:“Giải pháp Marketing nhằm thúc đẩy
hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH TM Quốc Tế Việt Mỹ Hàn” để nghiên
cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Qua việc nghiên cứu nội dung cơ bản của Marketing ứng dụng trong hoạt
động kinh doanh, phân tích và đánh giá thực trạng Marketing tại công ty TNHH
TM Quốc Tế Việt Mỹ Hàn, từ đó đưa ra một số giải pháp Marketing nhằm thúc
đẩy hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH TM Quốc Tế Việt Mỹ Hàn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu Marketing nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh tại
công ty TNHH TM Quốc Tế Việt Mỹ Hàn.
Phạm vi nghiên cứu Marketing nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh tại công
ty TM Quốc Tế Việt Mỹ Hàn qua việc nghiên cứu số liệu các năm 2007 -> 2009,
từ đó đưa ra các giải pháp cho giai đoạn 2010 ->2012.
Trương Quốc Bảo Trang 1
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu trên sổ sách của công ty như
báo cáo tài chính, báo cáo thống kê, bảng báo giá…
Người làm Marketing cần phải xác định những đối tượng khách hàng, định rõ nhu
cầu của họ… thông qua các hoạt động chính như phát tiển sản phẩm, nghiên cứu
thị trường, quảng cáo, định giá, phân phối, phục vụ…
Trong môi trường kinh doanh luôn chứa đựng những biến động đòi hỏi các
hoạt động Marketing, một mặt phải giải quyết thoả đáng các mối quan hệ phát sinh
giữa các yếu tố tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác cần phải thích
nghi các yếu tố bên trong doanh nghiệp với những thay đổi các khung Marketing
cùng với nhiều phương thức tiếp cận tốt hơn.
1.1.2. Vai trò và sự cần thiết của việc áp dụng Marketing trong doanh nghiệp.
Ngoài các hoạt động chức năng như sản xuất, tài chính, nhân lực thì công ty
phải thực sự chú trọng đến chức năng kết nối doanh nghiệp với thị trường đó là
chức năng quản trị Marketing. Marketing đóng vai trò hết sức quan trọng trong
việc quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện như
sau:
Trương Quốc Bảo Trang 3
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Tối đa hoá sản lượng bán thông qua triển khai hệ thống chính sách về sản
phẩm, giá, phân phối, khuyếch trương.
Tối đa hóa sự thoả mãn của nguời tiêu dùng.
Tối đa hoá sự lựa chọn của người tiêu dùng.
Với các vai trò cơ bản trên, hoạt động Marketing đã trở nên hết sức cần thiết
với cả người bán và người mua trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội nói chung
và lĩnh vực kinh doanh thiết bị máy tính nói riêng. Đặc biệt trong môi trường cạnh
tranh giữa nhiều doanh nghiệp trên cùng một thị trường, nếu không có sự trợ giúp
của các hoạt động Marketing thì doanh nghiệp sẽ rất khó nắm bắt nhu cầu thị
trường. Khi thiếu hiểu biết về thị trường sẽ không có cơ sở đề ra chính sách tiếp
cận thị trường, tối đa hoá lượng bán để tối đa hoá lợi nhuận, thậm chí sẽ không
thoả mãn được khách hàng dẫn đến nguy cơ mất dần khách hàng và cuối cùng là
thất bại trong cạnh tranh.
Xu thế tất yếu của thị trường hiện nay là những đòi hỏi của giới tiêu dùng về
môi trường, bên cạnh đó thì khả năng tư duy chiến lược và nghệ thuật quản trị của
người ra quyết định có ảnh hưởng rất lớn đến sự định hướng đúng đắn từ chiến
lược đã chọn. Trên thực tế, có thể phân loại các chiến lược Marketing theo các
nhóm sau:
1.3.1. Theo đoạn thị trường.
Chiến lược Marketing không phân biệt giữa các đoạn thị trường là việc tối
thiểu hoá nhưng khác biệt trong chính sách áp dụng giữa các đoạn thị trường nhằm
tận dụng lợi thế theo quy mô trên thị trường khá đồng nhất.
Chiến lược Marketing phân biệt triển khai các chính sách Marketing-Mix
khác nhau trên các đoạn thị trường khác nhau khi lựa chọn khai thác nhiều đoạn
thị trường.
Trương Quốc Bảo Trang 5
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Chiến lược Marketing tập trung là tập trung toàn bộ nỗ lực trên toàn bộ thị
trường duy nhất đã lựa chọn.
1.3.2. Theo chu kỳ sống sản phẩm.
Trong giai đoạn mới tung sản phẩm ra thị trường (giai đoạn giới thiệu sản
phẩm) có thể áp dụng chiến lược: Hớt váng nhanh, hớt váng từ từ, thâm nhập ồ ạt,
thâm nhập từ từ.
Trong giai đoạn tăng trưởng có thể áp dụng các chiến lược: Cải tiến chất
lượng sản phẩm, mẫu mã, đặc tính sản phẩm, tấn công đoạn thị trường mới…
Trong giai đoạn bão hoà có thể áp dụng chiến lược: Mở rộng thị trường để
tăng khối lượng bán, thay đổi một vài chính sách Marketing-Mix…
Trong giai đoạn suy thoái dựa trên kết quả phân tích nguyên nhân dẫn đến
suy thoái có thể lựa chọn chiến lược thích hợp nhất trong các chiến lược sau: Duy
trì mức đầu tư hiện tại khi chưa rõ tình hình thị trường, giảm đầu tư một cách chọn
lọc và rút khỏi các đoạn thị trường không hiệu quả…
1.3.3. Theo vị thế cạnh tranh.
Nếu là người dẫn đầu trong cạnh tranh có thể áp dụng chiến lược: Mở rộng
toàn bộ thị trường, mở rộng thị trường…
cũng như tập trung vào quảng cáo mở rộng.
Giai đoạn chín muồi thì sản phẩm đã trở nên quen thuộc trên thị trường, sản
lượng ổn định, xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh, cường độ cạnh tranh gay gắt
với tính chất cạnh tranh phức tạp. Vì vậy, cần phải chú ý tới những yêu cầu mới
của khách hàng.
Trương Quốc Bảo Trang 7
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Giai đoạn bão hoà và tàn lụi thể hiện sản lượng tiêu thụ đã bắt đầu chững lại
và giảm, cạnh tranh quyết liệt hơn. Các nhà hoạch định cần có chính sách tìm thời
điểm chấm dứt sản phẩm trên thị trường, giải quyết tốt các dịch vụ sửa chữa, thay
thế sản phẩm mới sau khi loại bỏ sản phẩm ra khỏi thị trường.
Thông qua đó để giảm rủi ro cho việc đưa sản phẩm ra thị trường và loại bỏ
sản phẩm yếu kém.
b. Chính sách hình thành sản phẩm mới và khác biệt hoá sản phẩm.
Chính sách phát triển sản phẩm đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ với các bộ phận
có liên quan như kỹ thuật, sản xuất, Marketing…
Sự khác biệt sản phẩm và hình thức của nó có mối quan hệ ngược trở lại với
kiểu chiến lược mà doanh nghiệp đang cố gắng theo đuổi.
c. Chính sách bao gói.
Là nguyên tắc, phương pháp và giải pháp nhằm lựa chọn vật liệu , tạo mẫu…
1.4.2. Chính sách giá.
1.4.2.1. Một số yếu tố làm căn cứ cho việc định giá.
Sự tác động của nhu cầu: Các công ty cung ứng sản phẩm đều hiểu rõ nhu
cầu là luôn biến động( ví dụ: vào mùa đông thì nhu cầu về máy tính là yếu, nhu
cầu ở nông thôn khác thành thị). Những yếu tố ảnh hưởng tới độ co giãn cầu:
Giá trị độc đáo: người mua ít nhạy cảm với giá hơn khi sản phẩm càng độc
đáo.
Mức độ biết đến sản phẩm thay thế: người mua ít nhạy cảm với giá hơn khi
họ ít biết đến sản phẩm thay thế.
Sự khó so sánh: người mua ít nhạy cảm với giá hơn khi họ không dễ dàng so
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Sản phẩm mới là sản phẩm xuất hiện đầu tiên trên thị trường nào đó. Đối với
sản phẩm mới, chính sách giá cả thăm dò thường dựa trên cơ sở giá thành và lợi
nhuận ước tính.
Nếu doanh nghiệp cung cấp sản phẩm không đồng nhất thì khi tính chất đồng
nhất càng cao, tính chất cạnh tranh càng mạnh. Doanh nghiệp cần kết hợp với các
chính sách khác như chính sách bao gói, nhãn hiệu hàng hoá, quảng cáo, chính
sách giá cả đối với khách hàng quen truyền thống…
1.4.2.4. Chính sách định giá phân biệt.
Các công ty thường hay đổi giá cơ bản của mình cho phù hợp với những
điểm khác biệt của khách hàng, sản phẩm, địa phương và những vấn đề khác. Việc
xác định phân biệt xảy ra khi một công ty bán một sản phẩm hoặc dịch vụ với hai
hay nhiều giá không phản ánh chênh lệch về chi phí theo tỷ lệ.
Việc phân biệt giá có một số hình thức:
Phân biệt giá cấp 1(phân biệt giá hoàn hảo):Công ty đặt cho mỗi người mua
một sản phẩm một mức giá khác nhau.
Phân biệt giá cấp 2: Công ty đặt giá khác nhau cho lượng bán khác nhau.
Phân biệt giá cấp 3: Thị trường tổng thể được chia thành một số thị trường
nhỏ, mỗi thị trường chứa một số người mua, những người này sẽ cùng bị đặt một
giá.
Để phân biệt giá thành công cần có một số điều kiện:
Thị trường có thể phân khúc được và khúc thị trường đó phải có nhu cầu với
cường độ co giãn khác nhau.
Các đối thủ cạnh tranh không có khả năng bán rẻ hơn ở khúc thị trường giá
cao hơn.
Phân biệt giá không gây sự bất bình và khó chịu trong khách hàng.
Trương Quốc Bảo Trang 10
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Chi phí cho việc phân khúc, theo dõi, giám sát thị trường không vượt quá số
tiền thu thêm được do phân biệt giá.
Quảng cáo là hoạt động nhằm giới thiệu sản phẩm (dịch vụ) của doanh
nghiệp cho khách hàng, làm cho khách hàng chú ý đến, quen biết, có thiện cảm và
ngày càng có nhiều thiện cảm hơn đối với sản phẩm của doanh nghiệp. Như vậy,
mục đích của quảng cáo là thu hút, lôi cuốn khách hàng bằng các biện pháp giới
thiệu, truyền tin thích hợp. Chính sách quảng cáo của một thời kỳ kinh doanh
chiến lược gắn với chu kỳ sống của sản phẩm, thực trạng và dự báo thị trường, vị
trí của doanh nghiệp, mục tiêu cụ thể của quảng cáo…
Đối tượng của quảng cáo có thể là doanh nghiệp, có thể là sản phẩm của
doanh nghiệp. Cả hai đối tượng trên đều cần được quảng cáo và có sự tác động hỗ
trợ lẫn nhau, trong đó, thông thường quảng cáo thì doanh nghiệp tiến hành thường
xuyên, tác động lâu dài đến khách hàng, quảng cáo sản phẩm gắn với thời kì trước
và trong khi đang sản xuất và cung cấp một loại sản phẩm nào đó.
Ngân sách quảng cáo phải được xác định theo phương pháp thích hợp:
Theo tỷ lệ cố định trên doanh thu của kỳ đã qua.
Theo tỷ lệ không cố định, thậm chí có thể tăng tỷ lệ dành cho ngân sách
quảng cáo trong trường hợp doanh thu giảm.
Theo mục tiêu quảng cáo thông qua việc xác định mục tiêu quảng cáo và thực
hiện mục tiêu quảng cáo.
Các phương tiện quảng cáo hiện nay rất phong phú, đa dạng, nên phải xuất
phát từ đặc điểm của sản phẩm mà lựa chọn và kết hợp các phương tiện khác nhau
như báo chí, phát thanh, truyền hình, hội chợ, triển lãm…Tuỳ thuộc từng loại
Trương Quốc Bảo Trang 12
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
phương tiện quảng cáo đặt ra vấn đề lựa chọn thời điểm và địa điểm quảng cáo
thích hợp.
Các yêu cầu quan trọng nhất đặt ra cho quảng cáo là:
Dung lượng quảng cáo phải cao: thì thông tin quảng cáo phải ngắn gọn, cụ
thể, rõ ràng…
Tính nghệ thuật phải cao nhằm thu hút sự quan tâm của khách hàng.
Muốn vậy, các thông tin cần truyền đạt hấp dẫn, gây được sự chú ý của
Nguyên tắc ưu tiên: Những hàng hoá được ưu tiên phải được trình bày ở
những chỗ tiện lợi nhất. Trong điều kiện bình thường hàng hoá được ưu tiên là
hàng hoá đem lại doanh thu cao, hàng hoá đang mốt.
Nguyên tắc đảm bảo hàng: Hàng hoá cần được thay đổi vị trí thường xuyên
giữa các ngày khác nhau thậm chí giữa các thời điểm khác nhau. Sở dĩ như vậy là
vì mỗi nhóm khách hàng có cầu hàng hoá khác nhau và nhóm khách hàng theo lứa
tuổi…
Nguyên tắc hợp lý: Trong cửa hàng phải bố trí đường vận động của khách
hàng hợp lý, đảm bảo sự di chuyển thuận lợi và mọi khách hàng đều có thể đi khắp
cửa hàng và ngắm nhìn được mọi loại hàng hoá bày bán.
Trong hàng loạt các chính sách trên, cần phải chỉ rõ ra được giải pháp xúc
tiến nào là chủ đạo và phải phù hợp với chiến lược Marketing chung của doanh
nghiệp.
1.4.4.3. Vai trò của dịch vụ khách hàng.
Trương Quốc Bảo Trang 14
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Thực chất của dịch vụ khách hàng là hướng các hoạt động của doanh nghiệp
dịch vụ vào khách hàng, đó là quá trình phân tích, tìm hiểu và giải quyết mối quan
hệ giữa tổ chức dịch vụ và khách hàng mục tiêu. Khách hàng ngày càng trở nên
phức tạp, nhu cầu mong muốn của họ ngày càng chi tiết tinh tế hơn thì chất lượng
nhu cầu cũng cao hơn. Do đó, nhiều công ty đã nghiên cứu cải tiến dịch vụ khách
hàng nhằm giành lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh.
Việc thực hiện dịch vụ khách hàng có quan hệ chặt chẽ tới việc phân phối các
yếu tố của Marketing-mix, những yếu tố này hợp thành hậu cần của dịch vụ khách
hàng. Dịch vụ khách hàng ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt đối với những
loại dịch vụ cạnh tranh gay gắt và nhu cầu tăng trưởng chậm như dịch vụ sửa chữa
bảo trì. Với sự thay đổi về thị trường thường xuyên, yếu tố cơ bản để phân biệt các
công ty dịch vụ là chất lượng phục vụ khách hàng, người tiêu dùng rất nhạy cảm
với vấn đề này. Các đối thủ thường xem dịch vụ khách hàng như một vũ khí cạnh
tranh lợi hại và không ít doanh nghiệp đã gặt hái thành công.
Trương Quốc Bảo Trang 16
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
toàn nhất trong các ứng dụng công nghệ thông tin vào công việc kinh doanh - dịch
vụ của khách hàng.
Phấn đấu đến năm 2015 công ty sẽ trở thành doanh nghiệp hàng đầu trong
lĩnh vực cung cấp sản phẩm công nghệ thông tin tại Việt Nam. Để đạt được mục
tiêu nêu trên, công ty đã hoạch định chiến lược phát triển dài hạn và đang có
những chính sách tuyển dụng và đào tạo nhân sự có kế hoạch, nhằm cung cấp
nguồn nhân lực hợp lí, có chuyên môn và phù hợp cho từng bộ phận trong công ty.
Công ty TNHH TM Quốc Tế Việt Mỹ Hàn, không ngừng cải tiến công nghệ
và mở rộng thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngày càn tăng bằng
những sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin với công nghệ tiên tiến - ưu việt
nhất.
d. Giá trị cốt lõi.
Hoài bão: Chúng tôi luôn khát vọng làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn thông
qua thúc đẩy và hỗ trợ việc áp dụng những công nghệ mới vào cuộc sống.
Đổi mới: Chúng tôi nỗ lực, bền bỉ, không ngơi nghỉ trong việc học hỏi, đổi
mới, sáng tạo và đi đầu trong mọi hoạt động.
Chuyên nghiệp: Chúng tôi thực hiện công việc một cách chuyên nghiệp, đúng
chất lượng cam kết và với tinh thần trách nhiệm cao.
Đồng đội: Chúng tôi luôn tin tưởng, tôn trọng, hợp tác và phối hợp với đồng
nghiệp, qua đó bổ sung kiến thức kỹ năng cho nhau, giúp nhau cùng phát triển.
Thành công: Chúng tôi luôn gắn liền sự phát triển của công ty với sự thành
công và thỏa mãn của khách hàng, đối tác, các cổ đông và sự thành đạt của mỗi
thành viên công ty.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ phòng ban.
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức.
Trương Quốc Bảo Trang 17
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức.
trình hoạt động kinh doanh.
Phòng marketing: Kết hợp với phòng kinh doanh nghiên cứu và tìm hiểu nhu
cầu của thị trường, phân tích đối thủ canh tranh, phân khúc thị trường, từ đó đưa ra
phương án Marketing hiệu quả.
Phòng kỹ thuật: Sửa chữa bảo hành các sản phẩm do công ty bán cho khách
hàng khi bị hỏng hoặc gặp sự cố. Giao nhận hàng hóa và thi công lắp đặt hệ thống
mạng, cung cấp dịch vụ bảo trì theo hợp đồng cho khách hàng.
Như vậy, mỗi phòng ban có một chức năng riêng nhưng chúng lại có mối
quan hệ mật thiết với nhau, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của ban giám đốc đã tạo nên
một chuỗi mắt xích trong guồng máy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Vị trí, vai trò của mỗi phòng ban khác nhau nhưng mục đích vẫn là đảm
bảo sự sống còn của công ty.
Trương Quốc Bảo Trang 19
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
2.1.3. Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.3.1. Vốn.
Vốn là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong quá trình hoạch định chiến lược
phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Và nó được thể hiện qua năng lực tài
chính của doanh nghiệp đó.
Căn cứ vào nhu cầu đầu tư thì vốn đầu tư chủ yếu bằng hai nguồn vốn chính:
Nguồn vốn của chủ sở hữu: là vốn thuộc quyền sở hữu (vốn tự có) của chủ
đầu tư, được tích luỹ từ lợi nhuận, từ các quỹ của doanh nghiệp và từ tài sản tự có.
Nguồn vốn vay: là vốn không thuộc quyền sở hữu của chủ đầu tư, nhưng chủ
đầu tư được quyền sử dụng để đầu tư vào mục đích tăng tài sản. Đối với chủ
doanh nghiệp là vốn vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
Công ty TM Quốc Tế Việt Mỹ Hàn có vốn điều lệ là 1 tỷ đồng, cũng tạm đủ
phục vụ nhu cầu vốn kinh doanh của công ty. Vì công ty có chính sách kinh doanh
hiệu quả, hạn chế tối đa bán hàng công nợ hoặc nợ dài hạn…Nên nguồn vốn được
quay vòng nhanh, từ đó làm giảm áp lực tài chính cho công ty.
Ngoài ra công ty cũng có mối quan hệ tốt với các Ngân hàng và có chiến lược
a. Tình hình thị trường máy tính tại Việt Nam.
Không nằm trong luồng tăng trưởng chung khá mạnh mẽ của thị trường máy
tính toàn cầu, thị trường máy tính Việt Nam có mức tăng trưởng chậm trong năm
2010. Nguyên nhân chính dẫn đến việc giảm doanh số bán ra là do mức thuế VAT
tăng từ 5% lên 10%, mặc dù thuế xuất nhập khẩu giảm từ 6% xuống còn 3% vào
Trương Quốc Bảo Trang 21
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
đầu tháng 1-2010 nhưng tỷ giá ngoại tệ tăng nên mức giá của các mặt hàng cũng
biến động khiến người tiêu dùng e ngại mua sắm trong giai đoạn này.
Một yếu tố khác tuy không ảnh hưởng mạnh đến mức tăng trưởng của thị
trường máy tính nhưng cũng là nguyên do trực tiếp khiến sức mua của người tiêu
dùng chậm lại đó là "tâm lý chờ đợi". Nhóm khách hàng có trình độ và am hiểu về
những model phần cứng sắp ra mắt đều có chung tâm lý là chờ cho model phần
cứng mong muốn chính thức ra mắt thị trường hoặc có mặt trong các dòng sản
phẩm có công nghệ mới hơn.
Ví dụ: điển hình là sự giao thời giữa các các dòng máy tính sử dụng bộ xử lý
Intel Dual Core chuyển sang Core 2 Duo và gần đây nhất là sự ra mắt của các dòng
laptop dùng Core i3, i5 và i7. Các model sản phẩm cũ sẽ giảm giá mạnh kèm
theo những đợt khuyến mãi cho model sản phẩm mới từ các hãng sản xuất hoặc từ
các nhà phân phối và bán lẻ để kích thích thị trường.
Máy tính xách tay vẫn là nhóm sản phẩm chủ đạo đóng góp phần lớn doanh
số bán ra cho thị trường trong năm 2010. Người tiêu dùng Việt Nam ngày càng ưa
chuộng các dòng laptop có cấu hình tầm trung với mức giá vào khoảng 10 triệu
đồng phục vụ nhu cầu xử lý văn bản cùng các ứng dụng văn phòng và lướt web.
Một số hãng góp mặt ở phân khúc này như HP, Dell và đặc biệt là Acer với thế
mạnh đa dạng mẫu mã laptop phân khúc bình dân. Sony cũng có một số ít
mẫu thuộc dòng Vaio W có mức giá chấp nhận được (10-11 triệu đồng),
còn Samsung chỉ mới vừa tham gia thị trường máy tính Việt Nam vào đầu tháng 4
vừa qua.
Netbook vẫn là mặt hàng bán chậm vì chỉ dành cho nhóm khách hàng cần
tắc Pareto hay còn gọi là nguyên tắc 80-20 cho thấy rằng 20% khách hàng đóng
góp 80% doanh thu của công ty, vì vậy vấn đề cần tập trung vào đối tượng khách
hàng chiến lược nào, chính sách chăm sóc họ ra sao cũng cần phải cần nhắc. Cho
nên thay vì tập trung vào 100% khách hàng thì hãy quan tâm vào 20% trong số đó
để có được những hiệu quả bước đầu và điều mà doanh nghiệp nhiều khi không
thể ngờ là 20% này sẽ là những “tín đồ” đáng tin cậy để lôi kéo 80% còn lại về
Trương Quốc Bảo Trang 23
Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
phía công ty, cái hay của việc theo đuổi khách hàng là ở chỗ doanh nghiệp chẳng
phải tốn quá nhiều công sức mà hiệu quả thì lại thật bất ngờ. Nhưng tất nhiên,
doanh nghiệp phải chắc chắn rằng doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng cái mà
họ cần. Nên nhớ rằng việc giữ chân khách hàng quen thuộc bao giờ cũng dễ dàng
và đơn giản hơn việc thu hút khách hàng mới, vì thế hãy chú tâm đến lượng khách
hàng mà doanh nghiệp đang có, khách hàng sẽ rời bỏ công ty nếu như họ không
được quan tâm một cách đúng mực. Điều tiên quyết là quan tâm đến những gì
khách hàng muốn, chứ không phải những gì công ty muốn, hãy để cho họ thấy
rằng mình quan trọng và đừng bao giờ lãng quên khách hàng của mình hãy chủ
động liên lạc với họ khi họ im lặng quá lâu, chúng ta còn có một “quy tắc vàng”
là: khách hàng luôn luôn đúng! Những công ty thành công và uy tín nhất là những
công ty xem khách hàng là thượng đế và xây dựng cơ cấu kinh doanh dựa trên quy
luật này.
Hiện tại công ty TM Quốc Tế Việt Mỹ Hàn có những khách hàng lớn như:
Công ty TNHH TM Tin Học Việt Anh - TP HCM.
Công ty TNHH TM Máy Tính Thiên Ân - TP HCM.
Công ty TNHH TMDV Việt Thanh - TP HCM.
Công ty TNHH TMDV Tin Học Tấn Phát - TP HCM.
Công ty TNHH TMDV Tin Học Nghĩa Thư - TP HCM.
Doanh nghiệp tư nhân Vi Tính 225 – Tiền Giang.
Công ty TNHH TMDV Tin Học Á Châu – TP Cần Thơ.
Công ty TNHH TMDV Tin Học Cảnh Toàn – An Giang.