. DS1 – N04 – TL2 – NHÓM 3
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ……………………………………………………………….
1. Khái quát chung ……………………………………………………………
1. 1 Quyền thừa kế……………………………........................................
1. 2. Di sản thừa kế …………………………………..............................
1.3 Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị ……………..
2. Một số bản án và nhận xét quyết định của tòa án …………………….
2.1 Vụ việc thứ nhất …………………………………..................................
2.1.1 Nội dung vụ việc ………………………………………….....................
2.1.2 Tòa xét xử …………………………………………………………….
2.1.3 Nhận xét của nhóm về cách giải quyết của toàn án ………………..
2.2 Vụ việc thứ hai ……………………………………….............................
2.2.1 Nội dung vụ việc ……………………………………………………….
2.2.2 Quyết định phúc thẩm của Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội
2.2.3 Nhận xét quyết định của Tòa án …………………………….............
2.3 Vụ việc thứ ba …………………………………………..........................
2.3.1 Nội dung vụ việc ……………………………………………………….
2.3.2 Giải quyết của toàn án …………………………………………………
2.3.3 Nhận xét quyết định của toàn án ………………………………………
3. Một số ý kiến của nhóm về quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng
KẾT BÀI ……………………………………………………………………….
Lời mở đầu
. DS1 – N04 – TL2 – NHÓM 3
Ngày nay, vấn đề tranh chấp đất đai không chỉ diễn ra đơn thuần là các mối
quan hệ bình thường mà nó còn diễn ra với những người có quan hệ huyết thống,
thậm chí xu hướng tranh chấp của mối quan hệ này ngày càng phổ biến. Thực tế, đất
đai thường là của chung do người đời trước để lại và sau khi chết đi việc phân chia sẽ
trở nên khó khăn nếu như không giải quyết nội bộ hoà giải với nhau được. Sẽ gây
không ít khó khăn cho pháp luật hiện hành vì mỗi gia đình mỗi hoàn cảnh. Hà nội
luôn là một điểm nóng về vấn đề nhà đất và kéo theo điều đó là rất nhiều tranh chấp
1.3 Về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị
Ở chương đầu nghị định số 60 của chính phủ ngày 5/7/1994 những quy định
chung về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại đô thị quy định:
Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất hợp
pháp. Nhà ở, đất ở thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này bao gồm: 1. Nhà ở của
một hộ gia đình hoặc của nhiều hộ gia đình trong cùng một ngôi nhà; 2. Đất ở tại nội
thành, nội thị xã, thị trấn là đất dùng để xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ nhu cầu
ở và khuôn viên nếu có, phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt.
Nhà ở được phân chia theo ba hình thức sở hữu:1. Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước;
2. Nhà ở thuộc sở hữu của các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế; 3. Nhà ở thuộc
sở hữu tư nhân. Tất cả nhà ở và đất ở đều phải được đăng ký. Chủ sở hữu hợp pháp
được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo Nghị định này thay thế
các loại giấy tờ pháp lý về sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở được cấp từ trước ngày ban
hành Nghị định này.
Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà ở mà Nhà nước đang quản lý do trước
đây thực hiện chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa về nhà đất. Nhà nước không thừa
nhân việc đòi lại đất ở mà trước đây Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng do việc
thực hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
2. Một số bản án và nhận xét quyết định của tòa án
2.3 Vụ việc thứ nhất
2.1.1 Nội dung vụ việc
. DS1 – N04 – TL2 – NHÓM 3
Nguyên đơn : bà Trương Thị Bản, sinh năm 1926, trú tại số 27, phô Lê Lợi, thị xã
Hà Đông, tình Hà Tây.
Bị đơn: Ông Trương Gia Hải, sinh năm 1943, trú tại số nhà 27, phường Hoàng
Văn Thụ, quân Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nôij.
2.1.2 Tòa xét xử
a. Tòa án sơ thẩm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/DSST ngày 4/6/1996, tòa án nhân dân huyện Từ
Liêm quyết định:
. DS1 – N04 – TL2 – NHÓM 3
Xác nhận ngôi nhà ngói 5gian diện tích 55,5m
2
cùng các công trình phụ nằm trên
diện tích đất 423m
2
đất là di sản thừa kế của 3 cụ : cụ Xứng, cụ Chính, cụ Xuyến. Trích
công sức duy trì tài sản cho ông Hải là 5%
Bác yêu cầu của bà Bản xin nhận thừa kế bằng hiện vật
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Bản khiếu nai.
b. Tòa án phúc thẩm.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 223/DSPT ngày 22/8/1996, tòa án nhân dân
Thành phố Hà Nội quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu xin thừa kế nhà đất tại xóm Sở, Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội của
bà Trương Thị Bản.
2. Xác nhận thửa đất gắn liền có diện tích 415,69m
2
và giá trị ngôi nhà ngói cổ 5 gian
có tổng giá trị là 211.820.000 đồng tại xóm Sở, Mai Dịch, nay là số 49, ngõ 23, ngách
58, Mai Dịch, Cầu Giấy thuộc quyền sử hữu sử dụng hợp pháp của Trương Gia Xứng,
Kim Thị Chính và Nguyễn Thị Xuyến.
3. Xác nhận cụ Xứng chết năm 1952, cụ Xuyến chết năm 1965, cụ Chính chết năm
1989 đều không để lại di chúc, di sản thừa kế chia theo pháp luật.
4. Trích 74.138.750 đồng, tương đương với 35% tổng giá trị di sản để thanh toán công
sức tu tạo, duy trì khối tài sản cho cụ Xuyến và ông Hải.
5. Xác nhận di sản thừa kế sau khi trừ đi công sức của cụ Xuyến và ông Hải, di sản còn
sản mà lẽ ra ông Hải là người thuộc diện được hưởng thừa kế và được hưởng theo pháp
luật khi bố mẹ ông chết mà không để lại di chúc.
b. Tòa phúc thẩm.
Tòa phúc thẩm đã xác định diện tích thửa đất 415,69 m
2
và ngôi nhà ngói cổ xóm
Sở, Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của 3 cụ: Xứng,
Xuyến, Chính là hợp lí. Vì ngôi nhà này có trong thời kì hôn nhân, cả ba cụ từng sống
chung tại đó. Vì thế khi ba cụ mất thì di sản thừa kế của ba cụ chính là mảnh đất có diện
tích 415,69m
2
và ngôi nhà ngói cũ. Cả ba cụ mất và đều không để lại di chúc cho nên
theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 675, BLDS thì di sản của cụ sẽ được chia thừa kế
theo pháp luật.
Từ năm 1951 cụ Xứng đã mua nhà đất tại thị xã hà Đông, tỉnh Hà Tây để chung
sống với mẹ con bà Bản nên ngôi nhà và diện tích đất tại xóm Sở, Từ Liêm, Hà Nội do
ông Hải và bà Xuyến quản lý. Trong quá trình sinh sống ông Hải và cụ Xuyến đã nhiều
lần tu sửa lại ngôi nhà. Cho nên trước khi xác định di sản thừa kế thì cần phải xác định
số tiền trả cho ông Hải và cụ Xuyến. Do vậy quyết định của tòa án trích 35% tổng giá
trị tài sản để thanh toán công sức tu tạo, duy trì tài sản cho ông hải và bà Xuyến là
đúng.
Căn cứ vàu điểm a khoản 1 điều 676 BLDS thì hàng thừa kế tứ nhất của cụ Xứng
gồm 5 người là cụ Chính, cụ Xuyến, bà Bản, bà Nhân và ông Hải. Năm người này được
hưởng những phần thừa kế như nhau.
Di sản thừa kế của cụ Chính là 45.895.416 đồng ( sau khi chia tài sản chung với hai cụ
Xuyến và Chính). Nay chia đều di sản này làm 5 phần nên mỗi người sẽ được hưởng
9.179.803 đồng cụ Xứng để lại.
Đánh giá và xác định phần di sản mà ông Hải được hưởng: ông Hải được hưởng
toàn bộ phần di sản của cụ Xuyến vì bà Nhân khước từ không nhận. Di sản của cụ
Xuyến gồm có 45.895.416 đồng được hưởng từ tài sản chung và 9.179.803 đồng cụ