Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
A.Lời Mở đầu
Công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân
tộc Việt Nam đã đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật
cầm quân và nhiều kế sách giữ nước. Nếu như lịch sử đã tạo số phận đau
thương cho dân tộc Việt Nam thì chính lịch sử đã phải trao cho dân tộc này
vương miện anh hùng. Chân lý độc lập tự do và yêu chuộng hòa bình là sức
mạnh chính nghĩa và niềm tin chiến thắng của đất nước, con người Việt Nam.
Trong từng thời khắc lịch sử, người Việt Nam đã biết ứng xử đúng đắn phải đạo
với người thân, bạn bè và với cả kẻ thù. Mọi phương sách đối ngoại bao giờ
cũng là cần thiết, khéo léo, linh hoạt và kiên định. Đó là nghệ thuật thương
thuyết, là bản lệnh sống, tầm nhìn chiến lược và tài phân tích, đánh giá tình
hình; nó còn được coi là một trong những tiềm năng sáng tạo của sức mạnh tinh
thần Việt Nam.
Nguyễn Trãi từ những năm đầu của thế kỉ XV đã từng chủ trương
đánh giặc bằng “Tâm công” – đánh vào lòng người. Những lá thư ông viết để
dụ hàng gửi tướng giặc Minh khi chúng xâm lược nước ta có “sức mạnh hơn 10
vạn quân”. Khi giặc tan, cùng với việc khôi phục nền thái bình muôn thuở vững
bền, trong “Bình Ngô” sách, Nguyễn Trãi còn nói đến kế sách xây dựng mối
hòa hiếu lâu dài với Phương Bắc, trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ của mỗi
quốc gia, để tránh họa xâm lăng sau này. Đó là tiền đề cốt lõi của mối quan hệ
ngoại giao với nước ngoài (trong đó có cả với kẻ thù), trên cơ sở nhân nghĩa đối
với một quốc gia từng chịu nhiều họa xâm lăng.
Sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1930) và tài lãnh đạo sáng
suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam chiến thắng được mọi
kẻ thù xâm lược. Việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong hoàn
cảnh Cách mạng Việt Nam, với sự kết hợp 2 ngọn cờ độc lập dân tộc và Chủ
nghĩa xã hội là một tư tưởng yêu nước sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ thắng lợi đã chứng
tỏ chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong những ngày cả
nước sôi sục chống Mỹ, bài học đánh giặc bằng 3 mũi giáp công : quân sự -
ngoại của đất nước. Bài tiểu luận dưới đây là sự tìm tòi, suy nghĩ của tôi về
“Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 –
1991”. Hy vọng rằng, bài tiểu luận không những sẽ giải thích được rõ hơn về
giai đoạn chứa đựng nhiều hiệu chỉnh mang tính chất quyết định trong đường
lối điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam, mà nó còn bày tỏ được niềm
say mê môn học và cũng là những kiến thức trang bị đầu tiên của tôi cho
chuyên ngành của mình – ngành Kinh tế quốc tế.
2
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
B.Nội Dung
I – Khái quát về tình hình thế giới, sự điều chỉnh và đường lối đổi mới hoạt
động ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta sau năm 1986
1. Những biến đổi to lớn trên thế giới: thời cơ và thách thức
Từ đầu thập kỷ 80, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát
triển tăng tốc, với các đợt sóng công nghệ cao, nổi bật là công nghệ thông tin,
mang lại những biến đổi ngày càng sâu sắc và nhanh chóng mọi mặt đời sống
nhân loại.
Điều này cũng được phản ánh rõ trong Văn kiện của Đảng lần thứ V và
lần VI. Nếu trong Đại hội V (1982), khi nhận định về tình hình thế giới, Đảng
cho rằng: “Sau thất bại của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, cách mạng thế giới bước
vào một thời kỳ phát triển mới. Ba dòng thác cách mạng của thời đại lớn mạnh
vượt bậc, kết thành một sức mạnh hết sức to lớn,… Với Liên Xô là trụ cột, hệ
thống xã hội chủ nghĩa ngày càng phát huy mạnh mẽ tác dụng là nhân tố quyết
định chiều hướng phát triển của lịch sử loài người…” Đại hội VI rút ra kết
luận: “Xu thế mở rộng phân công hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có
chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rất quan trọng đối
với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta”
a/ Tình hình thế giới:
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã thúc đẩy xã hội hóa sản
xuất vật chất, tạo ra những bước nhảy vọt về tính chất và trình độ của lực lượng
nước này đối với các nước khác hoặc tự xác định các tiêu chí chuẩn mực” cho
sinh hoạt quốc tế càng ngày trở nên lộ liễu, công khai. Vì vậy, cuộc đấu tranh
chính trị vẫn tiếp diễn gay gắt, quyết liệt dưới những hình thức mới: “Diễn biến
hòa bình” và chống “Diễn biến hòa bình”, vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa đối
thoại vừa đối đầu.
b/ Tình hình châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á
nói riêng cũng có nhiều biến đổi sâu sắc.
Đông Á là khu vực có tốc độ cao hàng đầu trên thế giới; một số quốc
gia và vùng lãnh thổ vươn lên trở thành những “con rồng”, “con hổ mới” về
kinh tế. Các nước trong khu vực đều có nguyện vọng cùng tồn tại hòa bình,
hữu nghị và hợp tác để phát triển, như tổ chức hợp tác kinh tế châu Á – Thái
Bình Dương (APEC), Khu thương mại tự do ASEAN (AFTA), Hiệp hội hợp tác
khu vực Nam Á (SAARC) ; cùng một loạt hợp tác tam giác, tứ giác phát triển
khác ra đời. Các quốc gia trong khu vực đều có lợi ích muốn mở rộng thị
trường, phối hợp các nguồn nhân lực tài lực, kết cấu hạ tầng và các nguồn tài
nguyên trong khả năng cần có và điều kiện của từng quốc gia, từng vùng lãnh
thổ cho phép. Quan hệ giữa các nước lớn trong khu vực tuy còn nhiều trục trặc
song nhìn chung, vẫn nằm trong khuôn khổ vừa hợp tác vừa đấu tranh, kiềm
chế lẫn nhau, nhưng tránh đối đầu.
Lần đầu tiên trong lịch sử từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đông
Nam Á trải qua một thập niên phát triển năng động trong cuộc hành trình vào
thiên niên kỷ mới với những bước tiến triển lớn đầy hứa hẹn.
Mặc dù vào cuối những năm 1990, các nước Đông Á đã lâm vào cuộc
khủng hoảng tài chính – tiền tệ kéo theo khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm
trọng, gây nhiều bất lợi cho các nước trong khu vực trước thềm thiên niên kỷ
mới; song đây vẫn là khu vực rộng lớn, tập trung những nước đông dân nhất thế
giới, với nguồn nhân lực cần cù, sáng tạo, tài nguyên thiên nhiên phong phú và
đa dạng, nằm trên trục đường giao thông quan trọng nhất thế giới, vẫn được coi
là khu vực đầy tiềm năng, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các khu vực
khác và không ngừng lớn mạnh.
đối ngoại của Việt Nam là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,
tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc, chủ động tạo thế ổn định để tập trung xây dựng kinh tế. Nghị
quyết cũng nhấn mạnh cần chủ động chuyển sang thời kỳ cùng tồn tại hòa bình,
ổn định, hợp tác; giải pháp về Campuchia phải đảm bảo giữ vững được thành
quả của cuộc đấu tranh của nhân dân Campuchia khắc phục nạn diệt chủng, tạo
ra môi trường hòa bình, ổn định để mỗi nước trên bán đảo Đông Dương nhanh
chóng phát triển kinh tế….
Đường lối đối ngoại rộng mở do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 12/1986, đề ra xác định nhiệm vụ hàng
đầu là “tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc”.
Những phương hướng chính về đối ngoại, thông qua Đại hội đại biểu
lần thứ VI là:
- Phát triển và củng cố quan hệ Việt Nam, Lào, Campuchia trên cơ sở tôn
trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện.
- Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính
sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
5
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
- Sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ giữa Việt
Nam và Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
- Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa
bình.
+ Đại hội VI tuy chưa phải là mốc đánh dấu sự đổi mới chiến lược và
chính sách đối ngoại của Việt Nam nhưng nó đã đánh dấu bước đổi mới tư duy
về quan hệ chính trị quốc tế. Khi bàn về vấn đề này, tác giả Eero Palmujoki
(trong bài viết: “Ideology and Foreign Policy: Vietnam’s Marxist-Leninist
Doctrine and Global Change 1986-1996”) đã có những nhận xét khá thú vị
rằng: Việt Nam đã “xóa bỏ một số khái niệm cũ, như ai thắng ai” và “ba dòng
1. Thành tựu
1.1. Giải quyết vấn đề Campuchia
6
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
1.1.1. Tích cực tham gia đối thoại tìm giải pháp chính trị cho vấn đề
Campuchia
Đảng và Nhà nước đã chủ trương đối ngoại, chủ động tháo gỡ những
khó khăn phức tạp trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước, từng bước rút
quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia về nước, tích cực hợp tác tìm kiếm
giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia.
+ Từ năm 1982, hàng năm một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam ở
Campuchia rút về nước. Song các nước ủng hộ lực lượng ba phái Khơme đối
lập vin vào việc Việt Nam theo yêu cầu của Campuchia tiếp tục giữ một số
quân và chuyên gia ở lại để giúp nhân dân Campuchia tiếp tục bảo vệ xây dựng
đất nước, chống sự phục hồi của các thế lực đã gây ra họa diệt chủng, để lấy cớ
thực hiện chính sách cấm vận và các hoạt động chống phá Việt Nam.
+ Từ đầu năm 1985, tình hình có những diễn biến mới. 5 nước thường
trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, hình thành nhóm P-5 đã tiến hành
đàm phán song phương, đa phương về vấn đề Campuchia.
+ Ngày 12/8/1985, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Việt Nam,
Campuchia và Lào họp tại Phnôm Pênh đưa ra lập trường 5 điểm làm khung
cho một giải pháp, trong đó: Việt Nam sẽ rút hết quân vào năm 1990; nếu có
giải pháp sẽ rút sớm hơn;
+ Tháng 1/1986, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Đông Dương
nhắc lại đề nghị 5 điểm nêu ra tháng 8/1985 và nhấn mạnh hai mặt của vấn đề
Campuchia:
Mặt quốc tế bao gồm Việt Nam rút quân gắn với việc chấm dứt viện
trợ bên ngoài cho các bên Campuchia; Thái Lan không thể sử dụng lãnh thổ của
mình làm đất thánh; chấm dứt các hoạt động quân sự và can thiệp chống các
nước Đông Dương.
cấp Bộ trưởng, mở đầu cho quá trình đối thoại giữa hai nhóm nước nhằm giải
quyết hòa bình vấn đề Campuchia.
Các nước ASEAN chuyển thái độ, dần dần tách khỏi lập trường cho
những nước hậu thuẫn cho Campuchia Dân chủ để đi vào đối thoại với Việt
Nam. Điều này đã tạo ra cục diện mới từng bước thúc đẩy quá trình bình
thường hóa quan hệ giữa các nước trong khu vực, làm thất bại âm mưu của các
lực lượng thù địch câu kết với nhau chống phá cách mạng Việt Nam.
+ Cuộc gặp giữa hai Ngoại trưởng Việt Nam và Inđônêxia ở thành phố
Hồ Chí Minh và cuộc gặp đầu tiên giữa Thủ tướng Hun Xen và Hoàng thân
Xihanuc ở Pháp đã tạo điều kiện thuận lợi, đưa đến Cuộc gặp không chính thức
về vấn đề Campuchia giữa đại diện của các nước ASEAN và đại diện các nước
Đông Dương (JIM-1) được tổ chức ở Bôgo, Inđônêxia, từ ngày 25 đến ngày
28/7/1988. Với JIM-1, tình trạng đối đầu giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á
giảm dần, mở ra giai đoạn bình thường hóa quan hệ và hợp tác giải quyết các
vấn đề khu vực.
+ Từ ngày 19 đến 21/2/1989, JIM-2 họp ở Jakarta. Nhờ sự phối hợp vận
động và đấu tranh khôn khéo của Việt Nam, Campuchia và Lào, các nước
ASEAN nhất trí với những nguyên tắc lớn của giải pháp: Việt Nam rút hết
quân; chấm dứt viện trợ quân sự và sự can thiệp từ bên ngoài vào Campuchia,
loại trừ sự quay trở lại của chính sách và chế độ diệt chủng.
+ Ngày 30/4/1989, Quốc hội Campuchia ra tuyên bố về nền trung lập
vĩnh viễn của Campuchia và đổi tên Cộng hòa Nhân dân Campuchia thành Nhà
nước Campuchia phù hợp với yêu cầu của Hoàng thân Xihanuc.
1.1.2 Việt Nam đồng thời thúc đẩy quá trình đối thoại với Trung Quốc
để tháo gỡ các trở ngại đối với quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam
– Trung Quốc.
Sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt
Nam, cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng đã gửi cho nhà
lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình thông điệp nêu rõ: Việt Nam không cho
rằng việc giải quyết vấn đề Campuchia có liên quan tới bình thường hóa quan
quyết các vấn đề tồn tại giữa hai nước, bỏ lệnh cấm vận của Mỹ và bình thường
hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.
Sau khi Việt Nam rút phần lớn quân khỏi Campuchia, Mỹ thúc đẩy
giải quyết vấn đề Campuchia, khuyến khích ASEAN đối thoại với Việt Nam.
Mỹ đóng vai trò chủ chốt trong việc giải quyết vấn đề Campuchia thông qua cơ
chế P-5. Ngày 18/7/1990, Ngoại trưởng Mỹ Baker tuyên bố Hoa Kỳ rút sự ủng
hộ chiếc ghế của chính phủ liên hiệp ba phái Khơme đối lập tại Liên hợp quốc,
tìm cách tiếp xúc với chính quyền Phnom Pênh, lên án Khơme đỏ. Mỹ chủ
trương đối thoại với Việt Nam qua phái đoàn ở New York và thực hiện một
số chương trình viện trợ nhân đạo tại Việt Nam.
+ Tháng 8/1990, phía Mỹ đề nghị phía Việt Nam chấp nhận hai văn kiện
của 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về vấn đề các
lực lượng vũ trang và vấn đề quyền lực trong thời kỳ quá độ ở Campuchia.
(31/8/1990) Hoa Kỳ đề nghị Việt Nam và Campuchia chấp nhận văn kiện
khung của P-5 và đề nghị Nhà nước Campuchia đến Jakarta họp để lập Hội
đồng dân tộc tối cao. Hoa Kỳ xem đó là những biểu hiện để bình thường hóa
9
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
quan hệ Mỹ - Việt và để tiếp xúc giữa Mỹ và Nhà nước Campuchia. (2/9/1990),
Hoa Kỳ đề nghị Việt Nam giúp tháo gỡ bế tắc về Hội đồng dân tộc tối cao để
giữ đà tiến triển của cuộc thương lượng về giải pháp cho vấn đề Campuchia và
đề nghị Việt Nam xem xét việc gặp Hoàng thân Xihanuc. Trong đàm phán
29/9/1990 và trong cuộc gặp Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ
Thạch, Ngoại trưởng Mỹ Baker nhắc lại các lập trường nói trên của Mỹ.
+ Ngày 5/4/1991, Mỹ nêu “lộ trình”, gắn việc giải quyết vấn đề
Campuchia và tù binh chiến tranh – người Mỹ mất tích trong chiến tranh với
bình thường hóa quan hệ Mỹ - Việt theo bốn bước, bắt đầu từ sau khi ký Hiệp
định Paris về Campuchia.
Trong khi xúc tiến đối thoại với các đối tượng nói trên, Việt Nam phối
hợp và cộng tác với Liên Xô, Cộng hòa Nhân dân Campuchia và Cộng hòa Dân
hiện chính sách bao vây, cấm vận Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại
10
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
nhiều mặt nhằm làm suy yếu Việt Nam; bảo đảm được độc lập, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia; phù hợp với lợi ích an ninh lâu dài của Việt
Nam. Nhân dân Việt Nam có thêm điều kiện để tập trung khắc phục các khó
khăn về kinh tế - xã hội, phát triển và bảo vệ đất nước. Đối với nhân dân
Campuchia, Việt Nam đã làm tròn nghĩa vụ quốc tế của mình. Quan hệ của Việt
Nam với những nước có liên quan đến vân đề Campuchia cũng như với các
nước khác trong và ngoài khu vực đứng trước những triển vọng mới.
1.2. Bình thường hóa và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung
Quốc
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã kiên trì chủ trương sẵn sàng đàm
phán với Trung Quốc nhằm bình thường hóa quan hệ hai nước, từng bước mở
rộng sự hợp tác Việt – Trung, giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước trên
tinh thần bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau
theo các nguyên tắc láng giềng thân thiện và cùng tồn tại hòa bình.
Năm 1998, Việt Nam đã sửa Lời nói đầu trong Hiến pháp, đề nghị hai
bên chấm dứt hoạt động vũ trang tại biên giới đất liền và hải đảo, không bên
nào đóng quân trên các điểm cao dọc biên giới hai nước, dãn quân cách xa biên
giới để tránh xung đột và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân hai bên biên giới
qua lại thăm hỏi bà con, họ hàng thân thích. Việt Nam đã mở cửa khẩu cho
nhân dân hai bên qua lại, không tuyên truyền có hại cho bình thường hóa quan
hệ giữa hai nước.
+ Đáp ứng lại thái độ thiện chí của phía Việt Nam, ngày 12 tháng Tám
1990, trong lúc đang ở thăm chính thức Xingapo, Thủ tướng Quốc vụ viện
Trung Quốc Lý Bằng tuyên bố: “Trung Quốc hy vọng cuối cùng sẽ bình thường
hóa với Việt Nam và thảo luận các vấn đề như cuộc tranh chấp quần đảo
Trường Sa” . Một ngày sau, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười hoan
nghênh tuyên bố trên của Thủ tướng Lý Bằng và khẳng định Việt Nam “sẵn
nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình. Hai Đảng Cộng
sản Việt Nam và Trung Quốc sẽ khôi phục quan hệ bình thường trên các
nguyên tắc độc lập, tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
- Thông cáo chung còn đề cập việc thương lượng giải quyết vấn đề biên
giới, vấn đề kiều dân và khẳng định lập trường của Việt Nam về vấn đề Đài
Loan.
1.3. Đấu tranh phá bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ
Từ giữa năm 1986, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ chuyển dần từ đối đầu
sang đối thoại và có những phát triển quan trọng từ sau khi cuộc xung đột
Campuchia đạt tới giải pháp chính trị và Việt Nam đạt được các thành tựu quan
trọng trong công cuộc đổi mới.
Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: “Chính phủ ta tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải quyết
các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ với Mỹ
vì lợi ích của hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á”. Từ sau Đại hội VI, Việt Nam
thực hiện bình thường hóa với Hoa Kỳ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ
quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi,
giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng và những vấn đề tồn tại thông qua thương
lượng hòa bình.
Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam
nêu rõ việc thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ là một
trong những chủ trương quan trọng về đối ngoại, không những phù hợp với
nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước mà còn có lợi cho hòa bình, ổn
định và phát triển ở khu vực.
Việt Nam đã kiên quyết đấu tranh đòi chính quyền Mỹ bỏ hoàn toàn lệnh
cấm vận chống Việt Nam, đàm phán giải quyết những vấn đề tồn tại trong quan
hệ hai nước.
12
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
thống
1.5.1. Với Liên Xô cũ (Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ)
Việt Nam thực hiện đổi mới và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Nghị quyết
của Bộ Chính trị Khóa VI, tháng 5/1988, đề ra chủ trương của Việt Nam “phải
nhanh chóng đổi mới quan hệ hợp tác với Liên Xô và các nước anh em, nâng
cao hiệu quả của sự hợp tác trên cơ sở cùng có lợi, cùng có trách nhiệm vì hòa
bình và cách mạng thế giới”.
+ Bắt đầu từ tháng 5/1987, Việt Nam và Liên Xô thực hiện một số hình
thức liên doanh và trực tiếp hợp tác giữa các cơ sở sản xuất của hai nước. Việt
Nam và Liên XSô đã ký Hiệp định khung về quan hệ trực tiếp và liên doanh,
theo đó sự hợp tác Xô – Việt đã được mở rộng trên một số lĩnh vực công nghiệp
nhẹ, cơ khí, điện tử, khai khoáng, công - nông nghiệp, và hợp tác lao động.
13
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
Cuối những năm 1980, Việt Nam và Liên Xô thỏa thuận trao đổi hàng hóa
ngoài nghị định thư. Tháng Giêng năm 1991, Chính phủ Việt Nam thỏa thuận
với Chính phủ Liên Xô chuyển sang cơ chế hợp tác, thương mại trên cơ sở giá
quốc tế và đồng tiền chuyển đổi.
+ Về chính trị, Việt Nam phối hợp với Liên Xô trong vấn đề Campuchia
tại các cuộc đàm phán Liên Xô - Hoa Kỳ, Liên Xô – Trung Quốc và diễn đàn P-
5.
Việt Nam coi Liên bang Nga có tầm quan trọng hàng đầu trong mối
quan hệ giữa Việt Nam với các nước bạn truyền thống. Nước Nga cũng đánh
giá cao những thành tựu đổi mới của Việt Nam coi “Việt Nam là một trong
những đối tác chiến lược quan trọng nhất” của Nga tại Đông Nam Á và châu Á
– Thái Bình Dương, chủ trương phát triển quan hệ hợp tác song phương Nga –
Việt trên nhiều lĩnh vực và củng cố vị trí của Nga ở khu vực này với cách đề
cập mới. Năm 1985, cơ chế hợp tác giữa hai nước sớm được phục hồi và từ
năm 1993, Ủy ban Liên chính phủ về hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học
kỹ thuật Việt Nam – Nga đã họp phiên đầu tiên.
1.6. Mở rộng hoạt động ngoại giao đa phương
+ Trong giai đoạn từ năm 1979-1990, hoạt động ngoại giao của Việt Nam
tại các diễn đàn đa phương, trước hết, tại Liên Hợp quốc và Phong trào Không
Liên kết tập trung chủ yếu vào việc đấu tranh về vấn đề Campuchia. Từng
bước, Việt Nam cải thiện quan hệ, tranh thủ sự ủng hộ và viên trợ trực tiếp
không hoàn lại của hệ thống phát triển của Liên hợp quốc cho Việt Nam những
năm 1976-1991 trên 500 triệu đôla Mỹ.
+ Từ năm 1975-1990, Việt Nam gia nhập nhiều tổ chức trong và ngoài hệ
thống Liên hợp quốc, tham gia nhiều công ước và điều ước quốc tế.
+ Từ năm 1991 trở đi, ngoại giao đa phương Việt Nam bước vào thời kỳ
phát triển mới. Việt Nam tham gia nhiều diễn đàn khu vực hoặc liên châu lục
quan trọng, là thành viên tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC)…
+ Tại Liên hợp quốc, Việt Nam làm rõ đường lối đổi mới, chính sách đối
ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ làm bạn và đối tác
tin cậy với tất cả các nước của Nhà nước ta; đấu tranh chống lại những mưu
toan, ý đồ lợi dụng Liên hợp quốc can thiệp vào công việc nội bộ của các nước;
ra sức tranh thủ sự giúp đỡ của Liên hợp quốc về vốn và kỹ thuật phục vụ cho
công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần nâng cao vai trò, vị
trí của Việt Nam và đồng thời đóng góp tích cực vào sự phát triển của chính tổ
chức này.
Quan hệ quốc tế của Việt Nam ngày càng đa dạng, từ quan hệ chủ yếu
về chính trị với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và một số nước độc lập dân
tộc trước đây, nay nước ta đã mở rộng và phát triển quan hệ với nhiều nước ở
tất cả các châu lục, nhiều tổ chức khu vực và quốc tế và các trung tâm kinh tế -
chính trị thế giới trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, khoa học kỹ
thuật, giáo dục, văn hóa, xã hội, kể cả an ninh và phát triển dưới nhiều hình
thức ở nhiều cấp, nhiều tầng nấc khác nhau.
Ngoại giao đa phương có vai trò ngày càng to lớn và quan trọng trong
đời sống quốc tế hiện đại. Nó trở thành một hình thức phổ biến, làm thay đổi
tế, đến giữa những năm 1990, vấn đề “thuyền nhân” về cơ bản được giải quyết.
1.7. Thiết lập quan hệ với EU
Khi Liên minh châu Âu thành lập năm 1957 với hai tổ chức là cộng
đồng kinh tế châu Âu (EC) và cộng đồng nguyên tử năng lượng châu Âu
(EURATOM) chỉ gồm có 6 nước: Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp, Bỉ, Italia,
Luxemburg và Hà Lan, nhưng đến năm 1995 đã có 15 nước: Pháp, Đức, Ý, Bỉ,
Hà Lan, Luxemburg, Anh, Ailen, Đan Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào
Nha, Áo, Thụy Điển, Phần Lan.
+ Bồ Đào Nha là những người châu Âu đầu tiên đến Việt Nam. Tiếp đó
là các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp. Nhưng nước Pháp là
nước đầu tiên có quan hệ Nhà nước với nước ta kể từ khi họ giúp Nguyễn Ánh
lập ra nhà Nguyễn.
+ Nước châu Âu đầu tiên có quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa sau năm 1945 là Vương quốc Thụy Điển từ 11/1/1969.
Trong thời gian này, ta còn đặt quan hệ ngoại giao hay nâng cấp quan
hệ với một số nước châu Âu – Mỹ khác: Phần Lan, Bỉ, Hà Lan, Ailen, Canada,
Anh, Luxemburg (không kể các nước châu Phi, châu Đại Dương, Mỹ latinh).
Đây thường là quan hệ ngoại giao tay đôi, hợp tác và viện trợ kinh tế cho Việt
Nam.
Bên cạnh quan hệ với từng nước riêng lẻ, Việt Nam còn quan hệ với
EU với tư cách cả khối.
+ Ngày 22/10/1990, Việt Nam và EU ký Hiệp định về việc lập quan hệ
ngoại giao giữa Việt Nam và EU và trao đổi đại sứ. Đây là bước ngoặt trong
quan hệ giữa nước ta với Liên minh châu ÂU (EU). Từ đó, quan hệ giữa Việt
Nam và EU và sự hợp tác giữa hai bên không ngừng được tăng cường và mở
16
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
rộng. Trước hết, các đoàn trao đổi giữa hai bên đã thắt chặt mối quan hệ đó và
ngày càng tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau.
+ Tháng 12/1990, EU và Việt Nam ký thỏa thuận về chương trình trợ
giao Việt Nam tuy đạt được rất nhiều thành tựu rực rỡ, song vẫn còn nhiều
mặt thiếu sót.
- Việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, của doanh nghiệp và của
nền kinh tế chưa theo kịp với yêu cầu hội nhập.
- Môi trường đầu tư kém hấp hẫn so với một số nước xung quanh. Chưa
thu hút được nhiều vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của các tập đoàn kinh tế
lớn, chưa chủ động khai thác vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.
- Trong quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn, chúng ta chưa xây
dựng được một hệ thống lợi ích đan xen, tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước.
17
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
- Một số chủ trương, cơ chế, chính sách chậm đổi mới so với yêu cầu mở
rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế; hệ thống pháp lụât chưa
hoàn chỉnh, không đồng bộ, gây khó khăn trong việc thực hiện các cam kết của
các tổ chức quốc tế;
- Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể, dài hạn về hội nhập kinh
tế quốc tế.
- Doanh nghiệp nước ta hầu hết có quy mô nhỏ, yếu kém cả về quản lý và
công nghệ; trong lĩnh vực sản xuất, công nghiệp trình độ lạc hậu; kết cấu hạ
tầng và công nghiệp dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh đều kém phát triển và
chi phí cao.
- Đội ngũ cán bộ lĩnh vực đối ngoại nhìn chung chưa đáp ứng được nhu
cầu cả về số lượng và chất lượng, cán bộ doanh nghiệp ít hiểu về luật pháp quốc
tế, về kỹ thuật kinh doanh.
- Công tác nghiên cứu tình hình thế giới và xu thế quốc tế ở một số thời
điểm chưa kịp thời, sâu sắc. Nhận thức về các lợi ích của bạn bè đồng minh,
cũng như quan hệ giữa các nước lớn với Việt Nam có việc chưa toàn diện và
khách quan. Việc tổng kết lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn, nghiên cứu tình
hình quốc tế và ngoại giao thế giới chưa được quan tâm thường xuyên.
- Nguyên nhân có nhiều nhưng đáng chú ý là vể mặt chủ quan bộc lộ
giải quyết mâu thuẫn là theo cách mà ông cha ta thường nói là "cái sảy nảy cái
ung". Trong thế giới của hòa bình và phát triển, nếu một khi mâu thuẫn nhỏ xảy
ra thì phải thông qua tiếp xúc thương lượng để giải quyết và khi mâu thuẫn lớn
xảy ra thì phải biến nó thành mâu thuẫn nhỏ, không để mâu thuẫn dù lớn hay
nhỏ ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế.
+ Bài học thứ hai là: đặt lợi ích dân tộc lên trên hết và nắm vững
nguyên tắc độc lập, tự chủ trong mọi hoạt động đối ngoại.
- Lợi ích cao nhất của nhân dân ta là độc lập, thống nhất, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết một chân lý ngắn gọn là
"không có gì quý hơn độc lập, tự do". Bảy mươi sáu năm đấu tranh của Đảng và
60 năm của chính quyền nhân dân là nhằm thực hiện và bảo vệ lợi ích dân tộc
tối cao đó. Lợi ích cao nhất của dân tộc ta hoàn toàn phù hợp với những quyền
dân tộc cơ bản mà luật pháp quốc tế đã công nhận. Đó là lợi ích dân tộc chân
chính và vĩnh viễn của nhân dân ta, không vì lợi ích trước mắt, cục bộ nào đó
mà có thể nhân nhượng. Tuy nhiên, đất nước ta từng bị thực dân phong kiến đô
hộ hàng thế kỷ, phải đối đầu với các thế lực đế quốc lớn mạnh hơn gấp nhiều
lần nên cuộc đấu tranh để thực hiện những quyền cơ bản của dân tộc ta phải lâu
dài, biết thắng từng bước, thậm chí có lúc phải nhân nhượng để tiếp tục tiến lên,
nhưng trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta luôn đặt mục tiêu đấu tranh cuối
cùng là nhằm thực hiện và bảo vệ lợi ích dân tộc tối cao đó.
- Để đạt được và bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc, trong mọi chính sách
và hoạt động đối ngoại đòi hỏi phải giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ. Chỉ có
độc lập, tự chủ thì trong chủ trương chính sách và biện pháp đấu tranh ngoại
giao mới bảo vệ trọn vẹn lợi ích dân tộc mình. Có đường lối ngoại giao độc lập,
tự chủ mới chủ động tránh được sức ép của bên ngoài, bảo đảm được những lợi
ích của dân tộc. Điều này không có nghĩa là ta chủ trương theo đuổi một chính
sách dân tộc vị kỷ. Trong khi bảo vệ, đấu tranh cho lợi ích của dân tộc mình,
chúng ta đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân
thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
+ Bài học thứ ba là: trong khi chúng ta chủ trương trở thành bạn và
+ Bài học thứ tư là: có sự phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận ngoại giao
và mặt trận kinh tế đối ngoại.
- Trước đây trong chiến tranh, chúng ta đã tạo được một sức mạnh tổng
hợp bằng sự phối hợp giữa ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Ngày
nay, bước vào thời bình khi mặt trận kinh tế nổi lên hàng đầu thì giữa ngoại
giao và kinh tế cần phối hợp chặt chẽ với nhau. Và không chỉ phối hợp, ngoại
giao phải biết làm kinh tế để phục vụ công tác kinh tế. Quan hệ đôi bên có chặt
chẽ và có cơ sở vững chắc hay không được thể hiện qua quan hệ kinh tế. Ngoại
giao phải là cầu nối đưa doanh nghiệp các nước xích lại gần nhau. Các cuộc đi
thăm cấp cao của chúng ta là các dịp tốt để đưa doanh nhân Việt Nam tìm hiểu
thị trường, đặt hàng và chào hàng với các xí nghiệp của bạn. Để chuẩn bị cho
các chuyến thăm như thế thì vai trò của các đại sứ quán, của các tham tán
thương mại tại các nước sở tại trong việc tham mưu cho các doanh nghiệp trong
nước là hết sức quan trọng. Chính kinh tế thương mại là sợi dây ràng buộc quan
hệ, là thước đo tầm sâu của quan hệ chính trị, chiến lược. Do đó, việc đánh giá
một cơ quan đại diện ngoại giao có năng lực hay không, một phần lớn là xem
sự đóng góp của cơ quan đó vào công cuộc xây dựng quan hệ kinh tế - thương
mại giữa nước ta với nước đó.
+ Bài học thứ năm là: luôn tuyệt đối trung thành và chấp hành
nghiêm chỉnh sự lãnh đạo của Đảng.
- Ngoại giao khác các ngành khác là ở chỗ nó "động" đến quan hệ với thế
giới. Có thể nói "sai một ly đi một dặm". Việc chấp hành nghiêm chỉnh sự lãnh
đạo của Đảng diễn ra hằng ngày, thể hiện trong chế độ thỉnh thị báo cáo và phát
ngôn.
20
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
- Từ chặng đường đổi mới 1986 - 1991, ngoại giao Việt Nam đã đạt được
những thành tích to lớn. Tuy nhiên, cũng còn nhiều việc phải làm và nhiều thiếu
sót cần khắc phục: Chúng ta vẫn còn chậm trong việc xác định khâu đột phá tạo
chuyển biến cơ bản trong quan hệ hợp tác với một số đối tác quan trọng hàng đầu.
Xác lập được quan hệ ổn định với các nước lớn. Tất cả các nước lớn đều
coi trọng vai trò của Việt Nam ở Đông Nam Á …
Giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển, đảo với các nước
liên quan, giữ vững môi trường hòa bình…
Tranh thủ ODA, thu hút FDI, mở rộng thị trường ngoài nước, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; đã tranh thủ được nguồn vốn, khoa học –
công nghệ tiên tiến, kỹ thuật quản lý của nước ngoài để phát triển đất nước.
2. Thực tiễn hoạt động đối ngoại Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1991
cho thấy: đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở do Đại hội Đảng lần thứ
VI (1986) khởi xướng, sau đó được các Đại hội, Hội nghị Trung ương và Bộ
Chính trị từ khóa V đến khóa VII bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu và
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam và thích ứng với xu thế quan hệ chính trị
quốc tế đương đại. Những bước đi của cách mạng Việt Nam cũng như của hoạt
động ngoại giao là không tách rời đường lối quốc tế, chính sách ngoại giao
đúng đắn của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam; Sự thay đổi chủ trương
đối ngoại của Đảng trong từng giai đoạn phát triển đất nước, đó là chỉ thay đối
về phương pháp thực hiện chứ không thay đổi nguyên tắc ngoại giao xã hội
chủ nghĩa vì đó là bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
3. Những thành tựu đối mới sau giai đoạn năm 1986 đã phản ánh một
cuộc vận động rộng lớn, sâu xa; đó là một giai đoạn phát triển mới, tiếp nối
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng, là sự phát triển biện chứng phù hợp với diễn biến tình hình thế giới và
đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
22
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là thời kỳ mới với rất nhiều thời cơ
nhưng cũng chứa đựng muôn vàn những thách thức đối với nước ta. Phát huy
truyền thống văn hóa dân tộc và ngoại giao nhân dân lại càng cần thiết, sao cho
phù hợp với tính chất và chiều hướng diễn tiến của thời cuộc để có thể vừa bảo
tồn, vừa phát huy cao độ những giá trị trường tồn ấy của bản sắc dân tộc.
Hà Nội, 2006.
11. TS. Hoàng Phước Hiệp (cb) [2007], Với WTO – Lịch sử mở trang mới
dành cho Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội.
12. Phạm Gia Khiêm [2007], Những dấu ấn ngoại giao Việt Nam năm 2006,
Tạp chí Cộng sản số 772.
13. Vũ Khoan [2005], Đổi mới về đối ngoại, Tạp chí Cộng sản số 16.
14. Lưu Văn Lợi [2004], Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), NXB Công an
nhân dân, Hà Nội.
15. Đinh Xuân Lý [2008], Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt
Nam từ năm 1986 đến năm 2006, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6.
16. Phan Doãn Nam [2005], Ngoại giao Việt Nam 60 năm đấu tranh và
trưởng thành, Tạp chí Cộng sản số 16.
17. Phan Doãn Nam [2006], Ngoại giao Việt Nam sau 20 năm đổi mới, Tạp
chí Cộng sản số 11.
18. Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000.
24
Tiểu luận: Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1991
19. Nguyễn Cơ Thạch [1990], Những chuyển biến trên thế giới và tư duy
mới của chúng ta, Tạp chí Quan hệ quốc tế, số 1.
20. Nguyễn Ngọc Trường [2006], Ngoại giao Việt Nam trên những chặng
đường đổi mới, Tạp chí Cộng sản số 7.
21. Việt Nam 20 năm đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
22. Tài liệu tham khảo trên mạng.
25