HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
Khoa Chính trị quốc tế và Ngoại giao Việt Nam
Tiểu luận Chính sách đối ngoại Việt Nam II
CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
VIỆT NAM – ASEAN TRƯỚC VÀ SAU ĐỔI MỚI
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Phú Tân Hương
Nhóm thực hiện: Vũ Thị Vân Anh - CT36H
Lô Thị Trúc Đào - CT36H
Đặng Danh Đạt - CT36H
Nông Thị Mỹ Hạnh - CT36H
Lê Thị Phương Hoa - CT36H (nhóm trưởng)
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2011
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
I.MỞ RỘNG QUAN HỆ VÀ HỢP TÁC KINH TẾ ĐỐI NGOẠI LÀ ĐÒI
HỎI KHÁCH QUAN VÀ XU THẾ CHUNG CỦA THẾ GIỚI 4
1.1.1.Nền tảng của việc mở rộng hợp tác với các quốc gia trên thế giới 4
1.1.1.1.Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của chính sách đối ngoại 4
1.1.1.2.Truyền thống ngoại giao của dân tộc 5
1.1.2.Những đòi hỏi bức thiết của việc mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối
ngoại 6
1.1.2.1.Vai trò trụ cột của kinh tế đối với một quốc gia 6
1.1.2.2.Sự phát triển của xu thế hợp tác kinh tế đối ngoại trên thế giới 6
II. CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ ASEAN
6
1. Chính sách đối ngoại Việt Nam – ASEAN trước Đổi mới 7
2. Chính sách đối ngoại Việt Nam – ASEAN sau Đổi mới 7
3. Đánh giá chung về chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam – ASEAN 10
III. THÀNH TỰU VIỆT NAM ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG MỞ RỘNG
HỎI KHÁCH QUAN VÀ XU THẾ CHUNG CỦA THẾ GIỚI
1.1.1. Nền tảng của việc mở rộng hợp tác với các quốc gia trên thế
giới
1.1.1.1. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai
trò của chính sách đối ngoại
Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đối ngoại là hệ thống
các quan điểm, nhận thức, luận cứ được thể hiện trong tư duy lý luận và hoạt động
thực tiễn đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong các giai đoạn lịch sử. Theo hệ
thống các quan điểm này, chính sách đối ngoại có vai trò hết sức quan trọng đối
với một quốc gia. Trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ đất nước, chính sách đối ngoại
là một bộ phận hợp thành chiến lược cách mạng. Khi có đường lối quốc tế rõ ràng,
chính sách đối ngoại phù hợp, cách mạng sẽ đi đến hình thành một hệ thống chủ
trương chiến lược và biện pháp sách lược xử lý những vấn đề tác động đến lợi ích
của sự nghiệp cách mạng. Là một nước nhỏ nhưng chúng ta đã sớm nhận thức
được tầm quan trọng của chính sách đối ngoại. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, khi
một nước nhỏ đối đầu với một nước hùng mạnh hơn thì phái có chiến lược, phải
biến đường lối ngoại giao trở thành vũ khí để góp phần thay đổi tương quan lực
lượng, cục diện chiến đấu. Như vậy, ngoại giao đóng vai trò quan trọng trong việc
chủ động đề xuất phương hướng chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo để đánh
thằng kẻ thù chính trong từng thời kỳ cách mạng.
Nhận thức về vai trò của vũ khí đối ngoại, kể cả trong những xu hướng mới
của thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Ngày nay ngoại giao ai thuận hơn
thì thắng”. Trong tình hình quốc tế mới, mỗi quốc gia đều có “linh hồn riêng”, có
4
vận mệnh riêng, và đòi hỏi phải có bản lĩnh, có chính sách đối ngoại của riêng
mình. Đây chính là cách ứng xử của một quốc gia đối với thế giới. Thành công sẽ
đến với quốc gia nào có cách ứng xử thông minh. Từ đó có thể thấy chính sách đối
ngoại có một vị trí rất lớn đối với chiến lược phát triển của một quốc gia, và chú
trọng tới các chính sách đối ngoại là một yêu cầu tối cần thiết.
1.1.1.2. Truyền thống ngoại giao của dân tộc
xã hội mà còn củng cố an ninh quốc gia, chính trị ổn định. Kinh tế tăng trưởng tạo
điều kiện cho đời sống nhân dân nâng cao, các lĩnh vực văn hóa – xã hội được quan
tâm phát triển. Vì vậy, phát triển kinh tế không chỉ là mục tiêu, mà còn là nhiệm vụ
của mỗi quốc gia.
1.1.2.2. Sự phát triển của xu thế hợp tác kinh tế đối ngoại trên
thế giới
Các quốc gia trên thế giới hiện nay dù lớn hay nhỏ, sớm hay muộn đều đi
theo xu hướng tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác kinh tế khu vực và
thế giới, đa phướng, đa chiều, đa lĩnh vực. Gần đây, nhiều quốc gia đã chú trọng
vào xây dựng các liên kết thương mại tự do song phương và khu vực, trong đó có
không ít quốc gia trước đây vốn chỉ dành sự ủng hộ mạnh mẽ cho cơ chế đa phương
của WTO như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada… Cũng không nằm ngoài xu hướng
đó, Việt Nam ngày càng tích cực tham gia vào các liên kết thương mại trên thế giới
và khu vực, trong đó nổi bật nhất là sự tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới
WTO và sự hợp tác kinh tế với các quốc gia trong khu vực ASEAN. Đây là một
bước tiến phù hợp với xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới.
II. CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ ASEAN
6
1. Chính sách đối ngoại Việt Nam – ASEAN trước Đổi mới
Năm 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành lập tại Bangkok,
Thái Lan với sự tham gia của năm thành viên. Trong thời kỳ này, giữa các quốc gia
trong khu vực chưa hợp tác nhiều về mặt kinh tế. ASEAN chỉ tiến hành một số hoạt
động như lập Phòng Thương mại và Công nghiệp ASEAN (ASEAN CCI
1
) năm
1972 nhằm tham khảo ý kiến khu vực tư nhân trong hợp tác kinh tế ASEAN; lập
Ủy ban ASEAN tại Geneve năm 1973 để phối hợp chính sách chung của ASEAN,
gồm các vấn đề kinh tế; đồng thời tham gia nhiều diễn đàn khu vực và quốc tế.
Giai đoạn này, Việt Nam chưa phải là một thành viên chính thức của
ASEAN. Phải đến những năm 1975 – 1976, chúng ta mới bắt đầu khôi phục ngoại
28/7/1995, chúng ta đã gia nhập ASEAN và trở thành thành viên chính thức thứ bảy
của tổ chức này.
Tham gia hợp tác vào ASEAN, Việt Nam đã hết sức nỗ lực để hoàn thành tốt
nhiệm vụ của mình, góp phần vào việc tăng cường hơn nữa sự hợp tác ASEAN về
kinh tế, thương mại. Việt Nam đã thành lập cơ quan AFTA quốc gia do Bộ tài
chính chỉ đạo để làm đầu mối của Việt Nam trong việc triển khai những vấn đề liên
quan đến AFTA
2
. Năm 1996, Việt Nam đã công bố đưa 875 mặt hàng và năm 1997
đưa thêm 621 mặt hàng vốn đã có thuế suất bằng 0-5% hoặc nhỏ hơn 20% vào thực
hiện CEPT/AFTA
3
, đưa tổng số lên 1496 mặt hàng. Năm 1998-1999, Việt Nam đã
đưa 3582 mặt hàng vào thực hiện CEPT/AFTA. Việt Nam đã trình danh mục nhạy
cảm hoàn thiện của mình, bao gồm 10 nhóm mặt hàng chính, bước đầu tuyên bố bỏ
23 mặt hàng ra khỏi danh mục loại trừ hoàn toàn (trong tổng số 195 mặt hàng
ASEAN đã loại khỏi danh mục này) và đơn giản hóa được một bước các biện pháp
phi thuế quan.
2
ASEAN Free Trade Area
3
Hiệp định quy định việc cắt giảm thuế quan đối với việc mua bán giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á, được ký bởi
các thành viên trong khối ASEAN nhằm thiết lập mối quan hệ buôn bán tự do trong khối ASEAN (AFTA) với mục tiêu giảm
thuế nhập khẩu trên hầu hết hàng hóa buôn bán giữa các nước thành viên xuống mức tối thiểu từ 0-5%.
8
Bảng 1. Lộ trình cắt giảm thuế quan theo CEPT của Việt Nam giai đoạn
1996 – 2006 (%)
Danh
mục
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Việt Nam, Lào, Campuchia và Đông Bắc Thái Lan nhằm góp phần xóa đói giảm
nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước và các vùng trong Hiệp hội
ASEAN.
Trên cơ sở đó, Việt Nam đã đưa ra dự án phát triển hành lang Đông – Tây tại
lưu vực sông Mekong (WEC), và Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN, tháng
9/1999, tại Singapore, đã thông qua đề nghị lập Nhóm công tác về chương trình này
trong khuôn khổ Ủy ban hợp tác kinh tế và công nghiệp ASEAN – MITI (Nhật
Bản). Việt Nam được cử làm chủ tịch nhóm.
Hiện nay, cùng với các thành viên khác trong Hiệp hội, Việt Nam đang nỗ
lực xây dựng nên một cộng đồng kinh tế chung, đạt mục tiêu xây dựng thành công
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC
4
) vào năm 2015.
3. Đánh giá chung về chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam – ASEAN
Quan tâm đến phát triển kinh tế luôn là một hướng đi đúng đắn của mỗi quốc
gia. Có thể thấy rằng, sau Đổi mới, Việt Nam đã chú trọng hơn đến việc hoạch định
chính sách kinh tế nói chung và chính sách kinh tế đối ngoại nói riêng. Nếu để so
sánh, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và ASEAN sau Đổi mới mạnh mẽ và tích cực
hơn thời kỳ trước Đổi mới. Điều đó thể hiện rằng kinh tế và chính trị luôn có một
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trước Đổi mới, đặc biệt là những năm 60 (thời
điểm thành lập tổ chức ASEAN), cuộc chiến tranh của Mỹ tiến hành ở Việt Nam
đang ở giai đoạn cao trào và có sự tham gia của một số nước ASEAN. Lúc này giữa
Việt Nam và ASEAN dường như không có quan hệ với nhau, vì thế sự hợp tác kinh
tế cũng chưa đáng kể. Vào những năm 1970, quan hệ Việt Nam – ASEAN dần
4
ASEAN Economic Community
10
được thiết lập và phát triển. Các bên đã bàn về vấn đề hợp tác kinh tế và an ninh
chính trị Tuy nhiên, đến cuối những năm 70, nổi bật là các sự kiện liên quan đến
Campuchia đã làm quan hệ hai bên xấu đi, thậm chí là đối đầu. Quan hệ hợp tác
1. Thành tựu của Việt Nam
Hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong những năm qua đã có những
chuyển biến tích cực góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng một đất nước công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những hoạt động
trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại phát triển mạnh mẽ và thu được nhiều thành tựu to
lớn nhất.
Kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN, kim ngạch
trao đổi thương mại giữa Việt Nam với các nước ASEAN đã tăng lên nhanh chóng,
đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như các nước thành
viên của Hiệp hội.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, tổng giá trị trao đổi hàng hóa
giữa Việt Nam và các nước ASEAN trong hai quý đầu năm 2010 tăng 23,9% so với
cùng kỳ năm trước và chiếm 18% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.
Trong số các nước ASEAN, Singapore luôn là đối tác lớn nhất với tổng trị giá trao
đổi giữa hai nước là 3,25 tỷ USD. Tiếp theo là Thái Lan: 3,12 tỷ USD và Malaysia:
2,43 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường ASEAN trong
sáu tháng đầu năm 2010 đạt hơn 5,24 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2009
và chiếm 16,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường ASEAN
vẫn là gạo và dầu thô với trị giá chiếm xấp xỉ 37% tổng kim ngạch hàng hóa Việt
12
Nam xuất khẩu sang thị trường này. Tuy nhiên hai mặt hàng này đều đạt tốc độ tăng
trưởng âm trong sáu tháng đầu năm.
Con số nhập khẩu từ các nước ASEAN vào Việt Nam thời gian qua cũng cho
thấy Việt Nam đang nhập siêu từ khu vực này. Việt Nam nhập khẩu từ khu vực này
chủ yếu là các mặt hàng thiết yếu, nguyên phụ liệu đầu vào phục vụ sản xuât trong
nước như: xăng dầu các loại, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, máy vi tính,
sản phẩm điện tử và linh kiện, chất dẻo nguyên liệu, giấy… Trị giá bốn nhóm hàng
này chiếm hơn 37% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam từ ASEAN. Như vậy
của Hiệp hôi, đồng thời thu được những lợi ích thiết thực để hỗ trợ cho công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Những thành tựu đạt được của Việt Nam
trong thời kỳ Đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn của chính sách kinh tế đối
ngoại quốc gia. Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào các diễn đàn hợp tác
kinh tế ASEAN, và thực tế chính sách kinh tế đối ngoại này đã đạt được những
thành công đáng ghi nhận. Cùng với phát triển kinh tế, sự tích cực, chủ động hội
nhập khu vực và thế giới, vị thế của Việt Nam đang ngày càng được khẳng định.
Việt Nam đang là một trong những quốc gia tiên phong, đi đầu trong ASEAN.
Trong vai trò chủ tịch ASEAN năm 2010, Việt Nam đã và đang thực hiện tốt vai
trò của mình khi tham gia các diễn đàn quốc tế quan trọng như Hội nghị Bộ
trưởng ngoại giao ASEAN – EU, Hội nghị ASEAN – Hội đồng hợp tác vùng
Vịnh, Diễn đàn kinh tế thế giới Đông Á… Nỗ lực và tích cực, Việt Nam đang cố
gắng nâng cao vai trò và vị thế quốc tế của mình, đề cao hình ảnh một nước Việt
Nam đổi mới và năng động, có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình,
hợp tác và phát triển. Đó chính là minh chứng rõ nét nhất về đường lối đối ngoại
đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Là một bộ phận hữu cơ, không tách rời của ASEAN, Việt Nam sẽ tiếp tục
đồng hành cùng ASEAN, cùng hướng tới tương lai tươi sáng của Cộng đồng.
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 13 ( 20/5/1988) - Bộ Chính trị
2. “Chính sách đối ngoại Việt Nam 1975-2006” – Tài liệu tham khảo phục
vụ giảng dạy, Học viện Quan hệ quốc tế, TS Nguyễn Vũ Tùng (biên
soạn)
3. “Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới (1975-2002)”, Học
viện Quan hệ quốc tế, TS Vũ Dương Huân (chủ biên)
4. “Hợp tác kinh tế Việt Nam với ASEAN và ASEAN mở rộng” (Bộ sách
hội nhập kinh tế quốc tế), NXB Công thương, năm 2010
5. “Một số vấn đề cơ bản về hợp tác ASEAN +3”, Viện khoa học xã hội
Việt Nam – Viện nghiên cứu Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội,