SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VINH XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Bộ môn : Tiếng Anh
Đề tài:
PHƯƠNG PHÁP DẠY KĨ NĂNG
NÓI ĐẠT HIỆU QUẢ
Giáo Viên : Võ Thị Phương Chi
Chức vụ : Tổ phó chuyên môn
Đơn vị : Trường THPT Vinh Xuân
Vinh Xuân, tháng 3 năm 2014
MỤC LỤC
Trang
M U
1. L DO CHN TI
1.1 C S Lí LUN
Nh chỳng ta ó bit vic dy v hc ting Anh trong nh trng ph thụng
ó cú nhng thay i ln v ni dung cng nh phng phỏp ging dy phự
hp vi mc tiờu v yờu cu t ra trong chng trỡnh ci cỏch. Quan im c
bn nht v phng phỏp mi l lm sao phỏt huy c tớnh tớch cc, ch ng
ca hc sinh v to iu kin ti u cho hc sinh rốn luyn, phỏt trin v nõng
cao k nng s dng ngụn ng vo mc ớch giao tip ch khụng phi vic cung
cp kin thc ngụn ng thun tuý.Vi quan im ny, cỏc th thut v hot ng
trờn lp hc cng ó c thay i v phỏt trin a dng. Chớnh vỡ th ngi
giỏo viờn cn nm bt nhng nguyờn tc c bn ca phng phỏp mi, tỡm hiu
cỏc th thut v hot ng dy hc theo quan im giao tip sao cho cú th ỏp
dng c mt cỏch uyn chuyn, phự hp v cú hiu qu.
Treõn thửùc teỏ a s hc sinh - sinh viờn thng gp nhiu tr ngi, khú
2. MỤC TIÊU NGUYÊN CỨU
Đặc trưng của quá trình giảng dạy môn Tiếng Anh là làm sao trong mỗi tiết
học người học có thể thuần thục sử dụng các kĩ năng nghe, nói, đọc,viết. Làm
sao giúp các em dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ những kiến thức mà thầy, cô đã truyền
đạt và vận dụng vào thực tế, kích thích được sự hứng thú trong học tập. Có thói
quen tự tìm tòi, khám phá và sáng tạo những cái mới. Thực hành thành thạo các
kĩ năng trong lớp, ở nhà, cũng như đối phó với những tình huống tình cờ mà các
học sinh gặp phải. Tuy nhiên có rất nhiều tình huống khó xử dẫn đến các em trở
thành mất tự tin trong học tập cũng như giao tiếp sau này. Do đó trách nhiệm
của mỗi giáo viên chúng ta là giúp học sinh vượt qua mọi khó khăn thử thách, tự
tin, mạnh dạn và cởi mở hơn trong giao tiếp.
3. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài này áp dụng được cho tất cả học sinh ở bậc trung học.
- Chỉ dùng cho việc dạy kĩ năng nói trong Tiếng Anh.
2
- Không cần phân loại trình độ học sinh.
4. CÁC GIẢ THIẾT NGUYÊN CỨU
Kĩ năng nói là một trong những kĩ năng quan trọng trong việc học bất kỳ
một ngoại ngữ nào. Nếu người học sử dụng thành thạo, lưu loát kĩ năng này sẽ
làm cho họ rất hứng thú và tự tin trong học tập trước mắt và sau này. Giúp họ
vượt qua những rào cản về ức chế tâm lý khi giao tiếp với bạn bè, thầy cô, người
lạ hoặc người nước ngoài và đặc biệt hơn là tự tin khi nói chuyện trước công
chúng dù đó là nói một ngoại ngữ hay tiếng mẹ đẻ.
Vậy làm thế nào để học sinh thành thạo kĩ năng đó? Đó có phải là năng
khiếu của từng học sinh có được hay không? Hay học sinh rèn luyện kĩ năng đó
hàng ngày để có được?
Đây là những câu hỏi đã được đặt ra từ lâu cho các nhà ngôn ngữ học, các
nhà chuyên môn nhằm tìm ra những biện pháp hữu hiệu giúp người học, người
dạy tích luỹ kinh nghiệm qua các tiết học và thực tế tiết dạy. Từ những thực tế
đó, các nhà chuyên môn, các nhà giáo ưu tú, các người thầy đi trước đã tích luỹ
đó chúng ta nên hướng dẫn học sinh bám sát các chủ đề trong sách giáo khoa
sau đó tự thực hiện hoặc cùng nhóm thực hiện các chủ đề trên thành đoạn hội
thoại, tự luận … phù hợp với khả năng của mình, sau đó thực hiện lại tại lớp(có
thể mỗi em, mỗi nhóm thực hiện nhiều bài khác nhau).
Qua cách làm này tôi nhận thấy các em đã suy nghĩ, tìm tòi và nói ra được
mọi điều mà các em cần nói. Các em cũng rất thích thú phấn khởi trong học tiết
nói đó, mong muốn sớm có chủ đề mới và tiết nói tiếp theo bởi lúc đó các em có
cơ hội để thể hiện bài học và đặc biệt để thể hiện chính mình.
Làm như thế không những tạo điều kiện để học sinh giỏi thể hiện chính
mình mà còn giúp tất cả các học sinh trong lớp đặc biệt là các học sinh yếu, rụt
rè, ít giao tiếp có thể nói được Tiếng Anh. Bởi vì các em đã được các học sinh
giỏi hơn cố vấn, được chuẩn bị ở nhà và thực hành nhuần nhuyễn nên các em đó
4
đã không bỡ ngỡ, có thể tự tin trong việc nói và giao tiếp trước công chúng mà
bấy lâu các em chưa có điều kiện để thể hiện.
2.2 Hình thức và cách thức tổ chức nói
Đây cũng chính là kĩ năng chính quyết định sự thành công hay thất bại
trong hoạt động giao tiếp. Nếu lớp học không sôi động, ít học sinh thực hiện kĩ
năng nói thì tiết học đó xem như chưa thành công. Nếu lớp học rôm rả, sôi động,
không bị ức chế và được nhiều học sinh thực hiện kĩ năng nói thì tiết học đó
xem như đã thành công.
Do đó, tôi nghĩ chúng ta nên tổ chức “Lớp học mở”- có thể cho học sinh ra
khỏi vị trí ngồi quen thuộc của các em để tìm bạn nói ưng ý hoặc có thể đứng tại
chổ để thực hiện việc nói theo cặp hoặc nhóm là rất hay (không nên ngồi). Bởi
lúc đó học sinh sẽ rất thoải mái để thực hiện hoạt động nói cũng như dễ “múa
tay, hoa mắt” diễn đạt ý nghĩa của từng câu nói cho người nghe.
Trong khi đó, nếu sợ lớp ồn ào mà để học sinh ngồi tại chổ quen thuộc của
mình thì học sinh sẽ rất thụ động và ức chế về tâm lý. Do đó học sinh không thể
phát huy hết “vốn từ” mà các em có, bởi cử chỉ, ánh mắt, hành động cũng là
“vốn từ” trong giao tiếp của mỗi ngôn ngữ mà làm cho người nghe có thể hiểu
khác nhau. Nên tốt nhất mỗi ngày dành ra khoảng 15 đến 20 phút để thực hành
phát âm tiếng Anh bằng cách đọc to thành tiếng các từ, các câu, các đoạn văn
bằng tiếng Anh. Nếu học sinh thực hành thường xuyên hàng ngày trong vòng 3
tháng thì cơ miệng của bạn sẽ phát triển phù hợp cho việc nói một ngôn ngữ
mới. Có thể ghi âm lại giọng nói của bạn và nghe lại những từ mình phát âm sai.
Mọi người thường ghét phải nghe giọng của chính mình và thường có xu hướng
tránh nghe giọng mình nói. Tuy nhiên, đây là một cách thực hành khá quan
trọng vì bằng cách này bạn có thể nhận ra những lỗi mà mình thường mắc phải.
- Phát âm tất cả các âm trong từ (Pronounce all the sounds in words)
Như đã được đề cập ở trên, luyện nói Tiếng Anh với tốc độ chậm sẽ giúp
bạn có thời gian tập trung đến các âm có trong từ. Có thể ngay bây giờ, bạn có
thể bỏ sót âm cuối hay âm giữa của từ, hoặc những âm tiết không phải là trọng
âm trong từ. Điều này không ảnh hưởng đến người nói nhưng lại gây khó khăn
6
cho người nghe. Chính vì vậy, khuyên học sinh nên tập trung tới từng âm trong
từ và không bỏ sót âm nào đặc biệt là âm những âm cuối của từ như “s”, “ed”,
“t”, “p”, v.v
- Nên sử dụng cấu trúc ngữ pháp đơn giản ( Using simple structures)
Bởi khi nói, sẽ không ai để ý đến việc bạn dùng cấu trúc đơn giản hay phức
tạp để đánh giá khả năng của bạn và thậm chí là cũng không ai nhận ra mức độ
của các cấu trúc mà bạn đang sử dụng. Nên hãy sử dụng cấu trúc và mẫu câu
đơn giản triệt để để thuận tiện cho việc giao tiếp.
- Suy nghĩ bằng tiếng Anh, không nên dịch từ tiếng Việt
Một trong những sai lầm nghiêm trọng là chúng ta có khuynh hướng “dịch”
(từ tiếng mẹ đẻ sang tiếng Anh) trước khi nói. Việc này ngay lập tức sẽ tạo ra
một rào cản ngôn ngữ. Ví dụ, khi chúng ta muốn bỏ một cuộc hẹn, chúng ta sẽ
nghĩ trong đầu: “tôi muốn huỷ bỏ cuộc hẹn đó”. Sau đó chúng ta dịch câu đó
sang tiếng Anh. Chúng ta sẽ gặp vấn đề vì chúng ta có thể không nhớ hoặc
không biết các từ “cancel” và “appointment” để hình thành câu “I would like to
cancel the appointment”. Nếu chúng ta nghĩ bằng tiếng Anh, chúng ta sẽ không
Nếu không chuẩn bị tốt các tiết học nói thì các tiết học thường rất rời rạc
và gây cảm giác mệt mõi cho người học cũng như người dạy. Nên giáo viên phải
chuẩn bị một cách lôgic từ đầu tiết đến cuối tiết và không nên để quá nhiều “thời
gian chết”. Bởi như thế sẽ làm cho học sinh phân tâm, cảm thấy chán nản và
không hào hứng gì cho việc nói.
2.5 Các bước cụ thể cho phần dạy nói
+ Trước khi nói (Before speaking). Chúng ta có thể sử dụng các hoạt động
như:
- Matching
- Pre-teach vocabulary
- Open prediction: (Hoạt động tiên đoán tự do)
- Ordering : (Sắp xếp thứ trật tự ý câu, hoặc tranh ảnh…)
- Answer the guiding questions (pre- question)
- Games
+ Trong khi nói (while speaking). Chúng ta có thể sử dụng:
8
- Giving opinions
- Discussing
- Ask and answer (pairwork)
- Matching
+ Sau khi nói (After speaking): Chúng ta có thể sử dụng:
- Interviewing
- Recall/ retell the story or dialoguge.
- Role play/ taking a survey
- Discuss the main idea.
- Summerising the main points
- Card
3. Các loại hình bài tập đựơc sử dụng cho việc phát triển kĩ năng nói
3.1 Yes-no question
+ Giáo viên đưa ra tiêu đề để luyện tập.
3.5 Chain drills
+ Giáo viên nêu chủ đề cần luyện tập.
+ Giáo viên bắt đầu bằng việc đặt một câu hỏi cho học sinh nào đó . Học
sinh đó trả lời câu hỏi của giáo viên xong có nhiệm vụ đặt một câu hỏi khác
cho một học sinh tiếp theo. Học sinh này có nhiệm vụ trả lời và đặt tiếp một câu
hỏi cho bạn thứ ba, cứ thế hình thức luyện tập dây chuyền này được tiếp tục.
+ Các câu hỏi theo chủ đề nhưng có thể không cần phát triển thành lời thoại
liền ý.
3.6 Picture stories
+ Giáo viên sưu tập các bộ tranh, ảnh có nội dung phù hợp với chương
trình đã học.
+ Giáo viên làm mẫu, sắm các vai trong chuyện tranh, dùng gợi ý ở tranh
làm lời cho nhân vật. Học sinh quan sát và sau đó tập đóng vai theo các nhân vật
trong tranh.
10
+ Giáo viên có thể gợi ý bằng những câu hỏi như :
“ What is happening in picture A ?”
“ What do you see in picture B ?’’
+ Giáo viên có thể yêu cầu học sinh sắp xếp lại tranh theo đúng trật tự tình
tiết của câu chuyện. -> Sau đó học sinh nhìn tranh kể lại nội dung chính.
+ Giáo viên có thể yêu cầu học sinh lắp ghép tranh với lời kể : Ghi lời kể
vào các tấm bìa cứng, xếp tranh và lời kể lộn xộn -> Yêu cầu học sinh quan sát
tranh và ghép với lời kể sao cho trật tự của tình tiết dạy trong tranh cũng là trật
tự của lời kể ghi trên tấm bìa đó.
3.7 Groupings
+ Giáo viên phân chia lớp thành nhiều nhóm. Phát cho mỗi nhóm trưởng
một bản danh sách có ghi tên các từ, ngữ theo chủ điểm .Nhiệm vụ của các bạn
khác là phải bổ sung thêm các từ, ngữ khác cho mỗi chủ điểm đó.
+ Nhóm trưởng điều khiển để các thành viên trong nhóm tìm được càng
nhiều từ, ngữ theo điểm bao nhiêu càng được nhiều điểm bấy nhiêu (mỗi từ phải
WARMER: * Match the picture with a type of film
1. Science fiction film ………………………………………….
2. Comedy ………………………………………….
3. Cartoon ………………………………………….
4. Love story film ………………………………………….
5. Detective film ………………………………………….
BEFORE SPEAKING
Rely on the pictures and practice like below
A: What kind of film do you like best?
B: I Like……very much.
A:Why do you like it?
B: Because it
A. What kind of film don’t you like very much?
B. I don’t like…………very much.
13
B
A
C D
D
E
WHILE SPEAKING
Work in groups and practice about each kind of film. Look at the
information below
FILMS ADJECTIVES
Detective
Science fiction
Love story
Cartoon
Comedy
Action
A. Why do you prefer it to other films?
Because…
15
Example 2: textbook 12-
UNIT 14 : INTERNATIONAL ORGANIZATIONS
Part B : SPEAKING
WARMER
Look at the pictures then guess which international organizations they
are.
B.
->
->
�
->
What do you know about these organizations?
Their main office, aims, activities….? -> LEAD IN THE NEW LESSON
16
BEFORE SPEAKING
1. Vocabulary:
- stand for [stænd fər] (v):
- advocate ['ædvəkeit] (v)
- establish [is'tæbli∫] (v)
- attainment [ə'teinmənt] (n):
- objective [əb'djektiv] (n)
2. Read the passage about WHO and answer the questions
1. What does WHO stand for?
- WHO stands for World Health Organization.
2. When was WHO established?
- WHO was
victims of war, disasters and extreme
poverty.
+ carry out education development
programmes for children.
WWF
- Founded: 1961
- Headquarters: New York
- Aims: to protect endangered wild
animals and their habitat.
- Activities:
+ carry out reseach on endangered
species
+ collect data on rare and
endangered animals and plants.
18
AFTER SPEAKING
Which international organization would you like to work for: UN,
WWF, WHO, RED CROSS or UNICEF? Why?
Reasons:
- have high salary
- use English at work
- do volunteer work
- live and work in New York
- protect endangered species
- travel all over the world
- meet different people
- help to protect children’s right
Suggested:
I would like to work for………….
because I will/ can/ want to ………and ……
phải nguyên cứu kỹ bài, xác định mục tiêu. Thông thường mỗi tiết dạy nói gồm
có 3 phần, trong từng phần lại có các thủ thuật khác nhau. Vậy tùy từng nội
dung từng bài, tùy từng đối tượng học sinh mà giáo viên có thể kết hợp các phần
sao cho phù hợp và cũng nên linh hoạt thay đổi các thủ thuật nhằm tạo cho học
sinh sự hứng thú, mới lạ.
- Các hoạt động của học sinh như cá nhân, cặp, nhóm cần được dẫn giải
cụ thể, rõ ràng và chính xác. Giáo viên nên sử dụng tranh ảnh, phiếu học tập, đồ
dùng thật và những mẫu tình huống giao tiếp dễ hiểu để giúp thực hành một
cách tự tin.
- Muốn có thành công đòi hỏi phải có sự nỗ lực của thầy và trò trong điều
kiện phương tiện trang thiết bị dạy học còn thiếu. Bên cạnh đó còn phụ thuộc
vào trình độ, nghệ thuật sư phạm và lòng nhiệt tình của người thầy sẽ vượt qua
khó khăn.
- Chúng ta phải yêu thích môn học và nguyên cứu thật nhiều tài liệu có
liên quan đến các kĩ năng. Qua công tác giảng dạy chúng ta phải biết rút ra
những kinh nghiệm tích luỹ cho bản thân.
- Qua việc nghiên cứu đề tài giúp cho bản thân tự nâng cao trình độ, tự
học và tìm những tư liệu tối ưu trong việc dạy học.
21
- Thường xuyên tổ chức các hội thi vui để học, hội thi Rung Chuông
Vàng Tiếng Anh khối 11, tổ chức câu lạc bộ nói tiếng Anh cho học sinh có cơ
hội phát huy khả năng nói Tiếng Anh của mình.
3. ĐỀ XUẤT
* Đối với nhà trường
- Phân công giáo viên giảng dạy theo lớp và dạy cả 3 khối lớp trong 3
năm để giáo viên tích lũy kinh nghiệm và có hướng giảng dạy phù hợp với trình
độ của học sinh.
- Tạo điều kiện để giáo viên được tham gia học tập và nâng cao trình độ,
tham gia đầy đủ các lớp tập huấn do Sở tổ chức.
- Tạo điều kiện để học sinh có điều kiện tham gia vào các họat động ngoại
23