Đề tài: Các biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Bộ Luật Dân sự năm 2005 là sự kế thừa của Bộ Luật Dân sự 1995. Pháp luật
Dân sự Việt Nam là công cụ pháp lý thúc đẩy giao lưu dân sự tạo môi trường thuận lợi
cho sự phát triển kinh tế văn hóa xã hội cho đất nước. Kế thừa và phát triển pháp luật
dân sự Việt Nam từ trước đến nay cụ thể hóa hiến pháp năm 1992. Bộ luật Dân sự có
vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý nhằm tiếp tục
phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, quyền con người về dân sự. Bộ luật Dân
sự góp phần bảo đảm cuộc sống cộng đồng bằng xã hội, quyền con người về dân sự,
Bộ luật dân sự đảm bảo góp phần bảo đảm cuộc sống cộng đồng ổn định, lành mạnh,
giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết tương thân, tương ái, thuần phong mỹ tục và
bản sắc văn hóa dân tộc được hình thành trong lịch sử lâu dài, xây dựng và bảo vệ tổ
quốc Việt Nam. Góp phần xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ yếu
thực hiện mục tiêu, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng văn minh. Đặc
biệt trong thực tiễn thì áp dụng pháp luật khi xét xử; giải quyết tranh chấp trong giao
dịch dân sự là hết sức cần thiết, chúng được xác lập, thực hiện rất đa dạng, một khi
giao dịch được xác lập, thực hiện và ký kết và nếu giao dịch đó vô hiệu hay vi phạm
điều cấm của pháp luật thì biện pháp xử lý vấn đề đó được pháp luật quy định như thế
nào? Đâu là biện pháp chế tài? Áp dụng biện pháp chế tài đó có đảm bảo quyền và lợi
ích của các bên không? Đó là những câu hỏi mà người viết tập trung làm rõ, Chính vì
thế chế tài trong giao dịch dân sự là hết sức cần thiết. Mặt khác việc quy định rõ cách
thức áp dụng và xác định chế tài nhằm đảm bảo thực thi pháp luật một cách dễ dàng
hơn. Với những lý do trên việc nghiên cứu đề tài “ Các biện pháp chế tìa trong giao
dịch dân sự theo pháp luật Việt Nam” là rất cần thiết.
Khi nghiên cứu về vấn đề này người viết tập trung vào việc tìm hiểu, phân tích,
đánh giá quy định của pháp luật về các biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự trong
Bộ luật Dân sự năm 2005 và pháp luật khác có liên quan.
Về mục đích nghiên cứu thì khi tập trung vào việc nghiên cứu đề tài này và
người viết mong muốn tạo cho người đọc hiểu một cách cơ bản và khái quát những
quy định pháp luật cũng như tầm quan trọng của biện pháp chế tài trong luật Dân sự
một hay nhiều người nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quyền. Người
bày tỏ ý chí gọi là bên giao dịch.
Trong trường hợp chỉ có một người bày tỏ ý chí, ta có giao dịch một bên, có khi
một bên cũng được ghi nhận trong luật Việt Nam, dù có đến 2 người bày tỏ ý chí, như
khi vợ chồng cùng lập một di chúc để định đoạt tài sản chung. song, thông thường với
sự bày tỏ ý chí của nhiều người , ta có giao dịch nhiều bên. Giao dịch nhiều bên được
xác lập, một khi có sự gặp gỡ (sự thống nhất) ý chí của nhiều người, bởi vậy ta gọi
giao dịch nhiều bên là sự thỏa thuận.
Theo động cơ kinh tế của người bày tỏ ý chí, ta có giao dịch có đền bù ( mua
bán trao đổi) hoặc không có đền bù ( tặng, cho, di chúc).
Theo tầm quan trọng của giao dịch ta có giao dịch định đoạt và giao dịch quản
trị, giao dịch quản trị thì người giao dịch bảo quản và khai thác lợi ích từ các quyền có
tính chất tài sản của mình (giao kết hợp đồng sửa chữa, bán hoa lợi từ tài sản gốc)
Giao dịch dân sự được quy định từ điều 121 đến 138 của Bộ luật dân sự 2005.
Theo quy định Bộ luật dân sự 2005 thì “giao dịch dân sự” là hợp đồng hoặc hành vi
pháp đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Điều 121 Bộ luật Dân sự 2005.
1.1.2 Khái niệm chế tài trong giao dịch dân sự: Là một trong 3 bộ phận của
quy phạm pháp luật dân sự. Chế tài dân sự là bộ phận quy định các hình thức xử lí,
các hậu quả pháp lí khi có hành vi vi phạm những quy tắc xử sự, những hướng dẫn
đã ghi trong phần giả định và quy định. Hình thức thực thi chế tài dân sự gồm có:
buộc chấm dứt hành vi dân sự; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; phạt vi phạm; bồi
thường các thiệt hại đã xảy ra và cầm giữ tài sản, buộc xin lỗi, cải chính công khai.
1.1.3 Đặc điểm và ý nghĩa của chế tài trong giao dịch dân sự:
* Đặc điểm:
Chế tài dân sự hay trách nhiệm dân sự đều là thuật ngữ nói đến trách nhiệm của
người không thực hiện nghĩa vụ dân sự và sẽ bị pháp luật cưỡng chế bằng các biện
pháp chế tài nhất định trong một lĩnh vực cụ thể. Giao dịch dân sự bao gồm hợp đồng
và hành vi pháp lý đơn phương. Đây là căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm
dứt quyền và nghĩa vụ dân sự, việc áp dụng các biện pháp chế tài trong giao dịch dân
hội. Đặc biệt chế tài là biện pháp cưỡng chế khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
hay bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây ra làm cho bên được bồi thường bảo đảm
quyền lợi chính đáng của mình. Ngành luật nào cũng vậy, cũng cần có chế định quy
định về chế tài khi xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật trên thực tế, nếu chế định
về chế tài không được xây dựng thì những quy định pháp luật đó chỉ là lý thuyết xuông
và không có đảm bảo thi hành. khi môt bên bị xâm hại, Nhà nước sẽ áp dụng những
biện pháp cưỡng chế nhất định đối với người có hành vi xâm hại trái pháp luật nhằm
mục đích khắc phục những hậu quả xấu về tài sản và tinh thần, khôi phục lại tình trạng
vốn có ban đầu cho người bị thiệt hại.
1.2 Các biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự Việt Nam:
1.2.1 Quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995:
Bộ luật Dân sự 1995 quy định về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự. Đây là
hai chế định cơ bản, quan trọng nhất của Bộ luật Dân sự quy định về việc xác lập, thực
hiện chấm dứt, nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm dân sự, các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại… các quy định của
Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự đã đóng góp một vai trò quan
trọng trong việc khẳng định quyền tự do hợp đồng, tạo cơ sở pháp lý để các chủ thể tự
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời là cơ sở pháp lý để các cơ quan
Nhà nước giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các giao lưu dân sự. Chế định hợp
đồng trong Bộ luật Dân sự năm 1995 chủ yếu là điều chỉnh các vấn đề về hợp đồng
dân sự cũng như quy định những biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự. Quy định về
việc thực hiện nghĩa vụ dân sự nhằm thực hiện quyền tự chủ, quyền tự do cam kết,
thỏa thuận của các bên đề cao nguyên tắc tự chịu trách nhiệm của các bên về cam kết,
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền SVTH: Trần Lê Anh Tuấn
3
Đề tài: Các biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
thỏa thuận của mình. Bộ Luật Dân sự năm 1995 cũng quy định về các biện pháp chế
tài trong giao dịch dân sự như: nghĩa vụ trách nhiệm bồi thường thiệt hại, phạt vi
phạm, hủy bỏ hợp đồng. Về mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các
bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó. Tại Điều 377 Bộ Luật dân sự năm
1995. như quy định về phạt vi phạm tại điều 422, cầm giữ tài sản trong hợp đồng song
vụ điều 416 là một quy định mới của Bộ luật Dân sự 2005. Chế định bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng, đặc biệt là bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể
được quy định tại điều 628.
Tóm lại so với Bộ Luật Dân sự 1995 thì Bộ luật dân sự 2005 có những biện
pháp chế tài kế thừa và cũng có bổ sung một số biện pháp khác nhằm đem lại sự công
bằng của các bên tham gia giao dịch, bên cạnh đó tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch
dân sự được mở rộng trong giai đoạn hội nhập kinh tế, đảm bảo thi hành, thực thi pháp
luật.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền SVTH: Trần Lê Anh Tuấn
4
Đề tài: Các biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
CHƯƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM ÁP DỤNG CÁC
BIỆN PHÁP CHẾ TÀI – THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
2.1. Những quy định của pháp luật Việt Nam áp dụng các biện pháp chế tài
trong giao dịch dân sự:
Chế tài dân sự hay còn gọi là trách nhiệm dân sự, trách nhiệm dân sự, trách
nhiệm dân sự bao gồm: Bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm, hủy bỏ hợp đồng. Giao
dịch dân sự được quy định tại điều 121 Bộ luật Dân sự năm 2005. Căn cứ phát sinh
nghĩa vụ dân sự thì trong đó nghĩa vụ phát sinh nghĩa vụ dân sự thì trong đó nghĩa vụ
phát sinh có phát sinh từ hợp đồng dân sự, hành vi pháp lý đơn phương và sự kiện
pháp lý là tạo ra nghĩa vụ dân sự nhưng do ý chí ngoài khách quan đó là cách phân
chia theo pháp luật Việt Nam. Như đã nói giao dịch dân sự được thực hiện thông qua
hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc làm chấm dứt
nghĩa vụ phát sinh. Do đó khi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng thì trách nhiệm dân sự
hay chế tài dân sự của nó là bồi thường thiệt hại hoặc là các biện pháp chế tài khác như
phạt vi phạm, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, cầm giữ tài sản.
2.1.1 Bồi thường thiệt hại:
Bồi thường thiệt hại khi có thiệt hại xảy ra và chủ yếu là trách nhiệm bồi
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền SVTH: Trần Lê Anh Tuấn
5
Đề tài: Các biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
việc cứu chữa bồi dượng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết, chi phí hợp lý cho
việc mai tang, tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ nuôi
dưỡng.
Luật không có quy định về thời điểm mà chỉ số giá cả của thời điểm đó, phải dùng làm
căn cứ để ấn định mức bồi thường.
Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định rõ hơn về bồi thường thiệt hại
bao gồm bồi thường thiệt hại về vật chất và bù đắp tổn thất tinh thần và bồi thường
này trên thực tế có thể tính được bằng tiền bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý,
ngăn chặn hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút. Bộ luật dân sự cũng
quy định rõ trách nhiệm của người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm
phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì phải bồi
thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, ngoài việc
chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai. Trách nhiệm dân sự trong hợp
đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Vậy khi có trách nhiệm dân sự được xác
định trên thực tế thì vấn đề bồi thường thiệt hại được đặt ra và giải quyết vấn đề đó.
Thông thường các quan hệ dân sự được thành lập trên quan hệ hợp đồng do đó có một
số vấn đề riêng liên quan đến trách nhiệm dân sự theo hợp đồng, sự tồn tại của quan hệ
hợp đồng, trách nhiệm dân sự theo hợp đồng được quy kết trên cơ sở, thừa nhận tính
hữu hiệu các hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu thì trách nhiệm dân sự chỉ có thể được quy
kết ngoài hợp đồng. Có trường hợp trách nhiệm dân sự theo hợp đồng đã được quy kết
nhưng sau đó hợp đồng đã bị tuyên bố vô hiệu, thì trách nhiệm dân sự cũng bị quy kết
lại ngoài hợp đồng. Ví dụ như Chủ công trình giao kết hợp đồng với nhà thầu chính
(thường gọi là bên B) nhà thầu chính lại giao kết việc xây dựng một hạng mục hoặc
thực hiện một công việc nào đó trong khuôn khổ dự án xây dựng với nhà thầu phụ
( thường gọi là bên B’) cuối cùng nhà thầu phụ không thực hiện đúng nghĩa vụ của
mình và chủ công trình chịu thiệt hại. Giả sử nhà thầu chính bị mất khả năng thanh
toán, thì nhà thầu chính có quyền kiện trực tiếp nhà thầu phụ để yêu cầu bồi thường
phạm là một biện pháp chế tài dân sự mà các bên không cần phải thỏa thuận với nhau
đó là nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự.
Mặt khác, Luật Thương mại năm 2005 qui định các biện pháp chế tài trong
thương mại để giải quyết tranh chấp cũng có hình thức chế tài là phạt vi phạm quy
định tại điều 300 Luật Thương mại năm 2005, nhưng mức phạt vi phạm trong chế tài
phạt vi phạm của Luật Thương mại 2005 là mức phạt do các bên thỏa thuận nhưng
không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Còn theo Bộ Luật Dân sự
2005 mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không quy định mức phạt cụ thể.
Chính vì thế phạt vi phạm là một biện pháp chế tài nhằm bảo về quyền và lợi ích của
các bên khi tham gia giao dịch dân sự thể hiện nguyên tắc tôn trọng bảo vệ quyền dân
sự của các bên tham gia giao dịch dân sự.
2.1.3 Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự:
Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự là một trong các biện pháp chế tài nhằm bảo vệ
quyền dân sự của những người tham gia giao dịch tại điểm d khoản 2 điều 9 Bộ luật
Dân sự năm 2005. Khi các bên tham gia xác lập giao dịch dân sự bằng một hợp đồng
thì khi hai bên giao kết một hợp đồng như hợp đồng song vụ, quyền và nghĩa vụ trong
quan hệ giao kết đó hai bên phải có nghĩa vụ qua lại với nhau, quyền của người này là
nghĩa vụ của người kia và ngược lại. Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh khi một
bên có nghĩa vụ thực hiện lại không thực hiện đối với bên có quyền, nhằm bảo vệ
quyền nhân sự cho bên có quyền thì bắt buộc người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa
vụ của mình. Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự là một biện pháp chế tài bắt buộc do cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng trong trường hợp một bên có nghĩa vụ thực hiện
nghĩa vụ nhưng lại không thực hiện trách nhiệm đó đối với bên có quyền
Ví dụ: Công ty quảng cáo X muốn sử dụng vách tường căn nhà 4 tầng của bà Y
để giới thiệu sản phẩm mới của hang bia A sẽ có mặt trên thị trường khu vực Đồng
bằng sông cửu long. Trong hợp đồng thỏa thuận rõ công ty X sẽ sử dụng bức tường để
thể hiện nội dung quảng cáo trong 2 năm, hết thời hạn hợp đồng công ty quảng cáo X
phải trả lại hiện trạng bức tường màu trắng. Công ty X sẽ trả quảng cáo cho bà Y số
tiền 5 triệu đồng/ tháng và trả tiền làm 2 đợt. Mỗi đợt 60 triệu đồng, hợp đồng được
bên giao kết ngày 01/6/2007.
quyền về tài sản, quyền nhân thân của cá nhân, tổ chức. Mọi người phải có nghĩa vụ
tôn trọng quyền đó và không được có bất cứ hành vi nào ngăn cản người có quyền
thực hiện quyền của mình. Người có quyền có thể yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền bảo vệ quyền của mình nếu quyền đó bị xâm phạm.
Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có
quyền yêu cầu tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm
phạm quyền sở hữu, quyền khác chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản
trở pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Một hành vi vi phạm có thể ảnh hưởng đến quyền nhân thân, quyền tài sản mà bên bị
vi phạm khẳng định những hành vi đó sẽ gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của mình, trong
trường hợp khi các bên tham gia vào giao dịch dân sự được xác lập trên quan hệ hợp đồng,
khi hợp đồng được thực hiện mà có một bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng
hoặc có những hành vi gây thiệt hại cho bên bị vi phạm, và có căn cứ cho rằng bên vi phạm
đã có hành vi ảnh hưởng đến nội dung của hợp đồng và sẽ dẫn đến thiệt hại về tài sản do hành
vi vi phạm gây ra, thì bên bị vi phạm yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc bên vi
phạm chấm dứt hành vi vi phạm đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có.
Ngoài ra, trong Luật Sở hữu trí tuệ thì chủ quyền sở hữu yêu cầu tổ chức, cá nhân có
hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm cụ thể tại
điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Vd: Ông A là một Nhà văn sáng tác ra một tác phẩm văn học nghệ thuật và chưa
được công bố trong thời gian đó thì ông B đã sao chép tác phẩm của Ông A mà không
được sự đồng ý của Ông A, nhưng trên thị trường thì tác phẩm của ông A đã được
bán, khi đó thì ông A có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc Ông B
phải chấm dứt thực hiện hành vi vi phạm của ông B là việc thu hồi lại các tác phẩm.
2.2 Thực tiễn – Một số ý kiến đề xuất:
2.2.1 Thực tiễn áp dụng biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự
Trong điều kiện nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế một cách nhanh chóng,
sâu rộng, thì hơn bao giờ hết phải có hành lang pháp lý vững chắc để có thể hợp tác
đầu tư kêu gọi đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam, khi nước ngoài đầu tư thì luôn phải
có các hợp đồng phát sinh trong giao dịch dân sự. Mà nói đến hợp đồng không thể
ngược lại, bên bị vi phạm muốn áp dụng luật theo hướng yêu cầu phạt vi phạm
và/hoặc bồi thường thiệt hại ở mức cao nhất có thể. Chắc chắn rằng, nếu giải quyết
tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự, vụ án sẽ kéo dài: sơ thẩm, phúc thẩm và có thể
giám đốc thẩm. Để thấy rõ tình trạng trên, ta dẫn chứng một trường hợp cụ thể sau:
Trong một hợp đồng chế tạo, lắp đặt thiết bị, dây truyền nhà máy sản xuất thức ăn thủy
sản giữa Công ty Cơ khí T với Công ty Thức ăn thủy sản H. Trong hợp đồng, các bên
thỏa thuận nếu bên lắp đặt không thực hiện đúng hợp đồng về lắp đặt thiết bị đúng các
chi tiết kỹ thuật, hoặc không đúng tiến tiến độ thì chịu phạt và bồi thường 100% giá trị
hợp đồng, thực tế giá trị hợp đồng là 10 tỷ đồng. Quá trình thực hiện, bên lắp đặt
không thực hiện đúng tiến độ lắp đặt (theo biên bản giám định thì tỷ lệ hoàn thành mới
chỉ đạt 53% khối lượng). Vì vậy, Công ty Thức ăn thủy sản H đã khởi kiện yêu cầu
hủy hợp đồng và đòi tiền phạt và bồi thường theo thoả thận tại hợp đồng (100% giá trị
hợp đồng hay 10 tỷ đồng). Tranh chấp được giải quyết qua hai cấp xét xử của tòa án,
với các bản án tuyên buộc Công ty cơ khí T phải trả một khoản tiền về phạt vi phạm
bằng 100% giá trị hợp đồng cho Công ty H đúng như thỏa thuận của các bên trong hợp
đồng đã ký.
Xung quanh phán quyết của toà án các cấp còn có các quan điểm khác nhau.
Toà án quyết định như vậy nhưng không làm rõ bị đơn phải trả khoản tiền đó là tiền
gì: tiền bồi thường hay tiền phạt. Nếu là tiền phạt thì mức phạt được áp dụng theo quy
định của Bộ luật Dân sự hay áp dụng theo quy định của Luật Thương mại. Trường hợp
coi hợp đồng đã ký là hợp đồng thương mại thì mức phạt không được quá 8% giá trị
phần nghĩa vụ vi phạm.
Bên cạnh đó, phải lưu ý rằng, Luật Thương mại cũng đã quy định: Hoạt động
thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền SVTH: Trần Lê Anh Tuấn
9
Đề tài: Các biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
khác (Điều 3) và hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại
và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự (Điều 4). Từ đó, có ý
Từ những vần đề trên người viết có một số ý kiến sau. Để có những quy định hợp
lý và phù hợp với thực tế hơn, các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng nên chủ
động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Đặc biệt, bằng biện pháp thỏa thuận
cụ thể trong hợp đồng, các chủ thể có thể hạn chế được một phần các rủi ro có thể xảy
ra với mình trong quá trình thực hiện hợp đồng. Chẳng hạn như, các bên có thể thỏa
thuận cả điều khoản về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Trong đó,
các điều khoản về phạt vi phạm nên được quy định rõ ràng và nằm trong giới hạn pháp
luật quy định, để khi có tranh chấp xảy ra thì Tòa án có thể chấp nhận thỏa thuận trên
một cách dễ dàng với tư cách là sự thỏa thuận của các bên theo quy định của pháp luật.
Điều khoản bồi thường thiệt hại trên thực tế rất khó được thực thi do phải chứng minh
các điều kiện để được bồi thường. Khi có tranh chấp xảy ra thì Tòa án cũng sẽ cân
nhắc rất kỹ vấn đề này. Vì vậy, các bên có thể hạn chế rủi ro bằng các quy định cụ thể
về quyền và nghĩa vụ của các bên, càng chi tiết, càng cụ thể bao nhiêu thì sẽ hạn chế
việc vi phạm hợp đồng bấy nhiêu. Đồng thời cũng dễ dàng cho việc xác định thiệt hại
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền SVTH: Trần Lê Anh Tuấn
10
Đề tài: Các biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
cũng như các điều kiện khác khi có vi phạm xảy ra để có thể được bồi thường thiệt hại
một cách chính đáng nhất./.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền SVTH: Trần Lê Anh Tuấn
11
Đề tài: Các biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
KẾT LUẬN
Với sự phát triển của xã hội các giao dịch dân sự như hợp đồng, các biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được xác lập rất đa dạng, do đó việc quy định các
biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự là rất cần thiết, đặc biệt các biện pháp chế tài
là những công cụ pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Tuy nhiên qua quá trình nghiên cứu đề tài những biện pháp chế tài trong giao
dịch dân sự của pháp luật Việt Nam, người viết đã rút ra được một số kết luận sau đây:
Các biện pháp chế tài trong giao dịch dân sự là việc quan trọng và cần thiết để
12