Thực tiễn việc tổ chức thi hành án dân sự ở địa phưong - Pdf 26


LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã khẳng định :” Đối với đất nước ta,đổi
mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống
còn” . Đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đưa đất nước ta
sang một giai đoạn phát triển mới , từ nền kinh tế bao cấp,chuyển sang nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần,vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa đã và đang đặt ra cơ sở và yêu cầu cấp thiết tiếp tục cải cách bộ máy
nhà nước xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam ;trong đó cải
cách tư pháp là một nội dung quan trọng .
Trong hoạt động tư pháp,việc đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định
của Tòa án là một yêu cầu tất yếu khách quan,là nguyên tắc hiến định chỉ đạo
toàn bộ tổ chức và hoạt động thi hành án nói chung và hoạt động thi hành án dân
sự nói riêng.Điều 136 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam quy định :”Các bản án và các quyết định của Tòa án nhân dân đã có
hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,các đơn vị vũ trang nhân dân
và mọi công dân tôn trọng;những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh
chấp hành”.Là một bộ phận cấu thành của hoạt động tư pháp,thi hành án dân sự
là một giai đoạn kết thúc quá trình giải quyết các vụ án dân sự nói chung.Thông
qua hoạt động thi hành án dân sự,các bản án phán quyết của Tòa án nhân danh
quyền lực Nhà nước được thi hành trong thực tế,quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, cuả Nhà nước được bảo vệ, trật tự kỷ cương được đảm bảo, công bằng
xã hội được thực hiện.
Thực hiện Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật về tổ chức và hoạt động
của bộ máy Nhà nước, Pháp lệnh thi hành án dân sự được Ủy Ban Thường Vụ
Quốc Hội ban hành ngày 21/04/1993 thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sự năm
1989( ngày 28/08/1989). Thực hiện theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993
công tác thi hành án dân sự được chuyển giao từ Tòa án sang các cơ quan của

Chính Phủ.Tuy nhiên, thi hành án dân sự trước đây cũng như trong giai đoạn

Thành Thụy là người trực tiếp hướng dẫn Tôi hoàn thành chuyên đề này . Qua
quá trình tìm hiểu hoạt động Thi hành án dân sự Tôi đã tiếp thu được một số
kiến thức thực tế về hoạt động Thi hành án dân sự ở nước ta hiện nay và những
hoạt động nghiệp vụ của đội ngũ Chấp hành viên và đội ngũ các cán bộ làm
công tác thi hành án dân sự tại cơ quan nơi tôi thực tập .Thông qua đó Tôi xin
trình bày một số hiểu biết mà mình đã thu thập được trong quá trình thực tập của
mình.
1.Giới thiệu về địa bàn thực tập .
Huyện Sơn Dương , tỉnh Tuyên Quang là một huyện miền núi. Đây
là một huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang . Với diện tích khoảng gần
80.000ha, đây là Huyện có diện tích tương đối lớn của tỉnh . Địa bàn huyện trải
dài với 33 xã, thị trấn gồm: Thị trấn Sơn Dương và các xã Tân Trào, Trung Yên,
Bình Yên, Lương Thiện, Minh Thanh, Tú Thịnh , Hợp Thành , Kháng Nhật, Sơn
Nam, Thượng Ấm, Đông Lợi , Cấp Tiến, Vĩnh Lợi , Văn Phú, Sầm Dương, Chi
Thiết, Tam Đa, Thiện Kế , Ninh Lai, Đồng Quý, Hợp Hòa, Tuân Lộ, Vân Sơn,
Phú Lương , Phúc Ứng , Đông Thọ, Thanh Phát, Lâm Xuyên, Hồng Lạc, Quyết
Thắng , Hào Phú, Đại Phú.
Với diện tích trải dài và tiếp giáp nhiều địa bàn trong và ngoài tỉnh : Phía
Bắc và Đông Bắc giáp huyện Yên Sơn của tỉnh và các huyện Đại Từ và Định
Hóa của tỉnh Thái Nguyên, phía Nam và Tây Nam giáp huyện Lập Thạch của
tỉnh Vĩnh Phúc và một số huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ . Với những nét đặc
thù về vị trí địa lí như vậy ảnh hưởng không nhỏ đến trình độ phát triển kinh tế -
xã hội của huyện .

Dân số của huyện vào khoảng 200.000 người , đây là một địa bàn có mật
độ tương đối cao so với các huyện khác của tỉnh Tuyên Quang . Tuy nhiên, kết
cấu dân số của huyện cũng không đều, người Kinh là cộng đồng chiếm đa số
chủ yếu sống tại khu vực Thị trấn và những vùng có điều kiện kinh tế thuận lợi.
Ngoài ra , trên địa bàn huyện có một bộ phận nhỏ các dân tộc ít người khác sinh
sống như người Tày, Nùng, Dao ở các xã vùng thượng huyện và người Sán Chỉ,

Huyện Sơn Dương là khu vực có nhiều di tích lịch sử cách mạng, cùng
với huyện Định Hóa của tỉnh Thái Nguyên khu di tích lịch sử Tân Trào và các
xã lân cận là chiến khu cách mạng, thủ đô kháng chiến trong chiến tranh chống
pháp trường kỳ . Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước cũng như tỉnh ủy và ủy ban
nhân dân tỉnh Tuyên Quang luôn có sự quan tâm đặc biệt và chỉ đạo sát sao đối
với chính quyền huyện trong việc thực hiện nhiệm vụ an ninh – chính trị- xã
hội , trong đó có công tác thi hành án.Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ thi hành án
của mình Chấp hành viên và cơ quan thi hành án của huyện còn phải đảm bảo
thực hiện rất nhiều chính sách xã hội như đảm bảo quyền và lợi ích của người có
công với cách mạng ,an ninh chính trị trên địa bàn huyện điều này gây không ít
khó khăn cho việc thực hiện nghiệp vụ thi hành án .
2. Thời gian thực tâp.
Với chương trình đào tạo Cử nhân Luật, để hoàn thành chuyên đề
thực tập của mỗi sinh viên trường Đại Học Luật Hà Nội quy định thời gian thực
tập cuối khóa bắt đầu từ ngày 12/01/2009 và kết thúc vào ngày 24/04/2009 .
Thời gian thực tập liên tục trừ tuần nghỉ Tết nguyên đán (từ 26/01 đến
30/01/2009 ), và các ngày lễ, ngày nghỉ khác theo quy định của Luật Lao Động .
Thực hiện đúng các quy định của Trường Tôi đã tuân thủ nghiêm ngặt về thời
gian và thực hiện đúng các yêu cầu về công việc do Cán bộ hướng dẫn thực tập
phân công.
3. Phương pháp thu thập và nguồn tư liệu thu thập .
3.1.Phương pháp thu thập .

Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề Tôi đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu : Phân tích , tổng hợp, lôgic pháp lí và lịch sử, so sánh luật …. nhằm
làm rõ những nhận định được đưa ra trong chuyên đề.
3.2. Nguồn tư liệu thu thập.
Để có được những thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu của chuyên
đề Tôi đã tiến hành thu thập từ nhiều nguồn thông tinh khác nhau:
- Trước hết, là việc nghiên cứu tài liệu thi hành án của cơ quan, nghiên

Điều 136 Hiến pháp 1992 đã quy định : “ Các bản án và quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng ;
những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Nguyên tắc
Hiến định này có ý nghĩa chỉ đạo toàn bộ tổ chức, nội dung hoạt động thi hành
án nói chung và hoạt động thi hành án dân sự nói riêng.
Trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh tế, lao động,vv… khi mà bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật được đưa ra thi hành, trong đó xác định các quan hệ pháp lí, sự kiện
pháp lí buộc người phải thi hành án có nghĩa vụ phải làm hoặc không được làm
một công việc nhất định vì lợi ích của người được thi hành án. Đây là thời điểm
chức năng xét xử của Tòa án hoàn thành. Việc thi hành các bản án hoặc các
quyết định của Tòa án là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử ; trong giai
đoạn này, Tòa án không ra bất cứ một phán quyết nào có liên quan đến nội dung
vụ án, mà chỉ có thể giải thích những điểm chưa rõ ràng trong bản án hay quyết
định khi có yêu cầu từ phía cơ quan thi hành án. Khi bản án hoặc quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành các đương sự có thể tự
nguyện thi hành án, tự thỏa thuận với nhau về những vấn đề có liên quan đến
việc thi hành bản án, quyết định đó theo quy định của pháp luật. Mặt khác khi
đương sự không tự nguyện thi hành án, người được thi hành án có đơn yêu cầu
thi hành án theo quy định của pháp luật thì các chủ thể tham gia vào quá trình thi
hành án cũng chỉ có nghĩa vụ thực hiện đúng những phán quyết của Tòa án như

ở trong giai đoạn xét xử mà không có quyền thay đổi bất cứ một vấn đề gì về nội
dung vụ án cũng như trình tự, thủ tục thi hành án kể cả Chấp hành viên được
phân công giải quyết vụ việc đó. Khoản 4 Điều 67 Pháp lệnh thi hành án dân sự
năm 2004 quy định : “ Chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định
của Tòa án, trì hoãn việc thi hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
trái pháp luật, vi phạm quy chế Chấp hành viên thì bị xử lí kỉ luật hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường”. Như vậy, thi hành án

không cho phép bất kì một sự cản trở, chống đối nào đối với việc thi hành các
bản án, quyết định đó.
Nội dung của các bản án, quyết định phải được thi hành một cách đầy đủ,
kịp thời. Khi phát hiện thấy những sai sót hoặc điều chưa rõ ràng trong bản án,
quyết định của Tòa án, những chủ thể tham gia hoạt động thi hành án chỉ có
quyền khiếu nại, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định. Mặt khác,
khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành thì cơ quan
Tòa án, Thi hành án hoặc bất cứ một cơ quan nào khác cũng đều không có
quyền sửa đổi, bổ sung nội dung của vụ án, quyết định đó. Tòa án nơi đã đưa ra
bản án, quyết định được đưa ra thi hành chỉ có quyền giải thích những điều mà
cơ quan thi hành án và Chấp hành viên yêu cầu.
Việc đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án
được đưa ra thi hành là đảm bảo sự tôn trọng pháp luật, hiệu lực của Nhà nước,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân. Nguyên tắc này đòi
hỏi phải có một bộ máy, cơ chế thích hợp, đội ngũ cán bộ đủ năng lực đảm bảo
cho hoạt động thi hành án có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong
từng giai đoạn xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ Nhà nước pháp quyền Việt
nam xã hội chủ nghĩa.
• Nguyên tắc chỉ có Chấp hành viên, cơ quan thi hành án được thành lập
theo quy định của pháp luật là có thẩm quyền thi hành án.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của công tác thi hành án dân sự Việt
Nam , pháp luật đã xác lập những cơ sở pháp lí về tính chuyên trách của họat

động thi hành án dân sự. Điều 24 Luật tổ chức Tòa án năm 1960 quy định : “ Tại
các Tòa án nhân dân địa phương có Chấp hành viên làm nhiệm vụ thi hành
những bản án và quyết định về dân sự, những khỏan về bồi thường và tài sản
trong các bản án hình sự”. Điều 4 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 quy
định chỉ có thủ trưởng cơ quan thi hành án mới có quyền ra quyết định thi hành
án và Điều 12 xác định chỉ có Chấp hành viên là người được Nhà nước giao
nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp

đương sự, pháp luật còn quy định quyền chủ động của cơ quan thi hành án và
Chấp hành viên trong việc tổ chức hoạt động thi hành án dân sự. Khi có yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án hoặc người phải thi hành án cơ quan thi
hành án và Chấp hành viên chủ động tiến hành các trình tự thi hành án và được
áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật buộc người phải
thi hành án thực hiện đúng phán quyết của Tòa án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người được thi hành án. Điều 22 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm
2004 quy định việc thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi
hành án trong những trường hợp sau:
- Án phí, lệ phí tòa án, trả lại án phí, lệ phí tòa án;
- Hình phạt tiền;
- Tịch thu tài sản, truy thu thuế, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính;
- Xử lí vật chứng đã thu giữ;
- Thu hồi đất theo quyết định của Tòa án;
- Quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quyết định của Tòa
án.
Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định người phải thi hành án có điều kiện
thi hành mà không tự nguyện thi hành án thì sẽ bị cưỡng chế theo quy định của
pháp luật( Điều 7 Pháp lệnh).
• Nguyên tắc kết hợp vai trò chủ của Chấp hành viên cơ quan thi hành án
trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và sự chỉ đạo của
chính quyền địa phương, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status