TIỂU LUẬN MÔN HỌC CÔNG TY XUYÊN ĐA QUỐC GIA Chỉ số xuyên quốc gia Lý thuyết và minh chứng - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Chủ đề 4
Chỉ số xuyên quốc gia: Lý thuyết và
minh chứng

Nhóm thực hiện:
Phùng Thị Hồng Hạnh
Phan Thị Mai Ly
Bùi Thị Lý
Vũ Minh Quang
Vũ Thị Thu
Hà Nội, tháng 03 năm 2015
2
MỤC LỤC
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ 2
Chủ đề 4 2
2
Nhóm thực hiện: 2
Chương 1. Khung khổ lý thuyết về TNI 4
1.1 Định nghĩa 4
1.2 Quá trình hình thành 4
1.3 Các thành phần của chỉ số TNI 5
1.3.1 Tỷ lệ tài sản ở nước ngoài so với tổng tài sản của công ty (Ai) 5
1.3.2 Tỷ lệ doanh số bán hàng ở nước ngoài so với tổng doanh số (Si) 6
1.3.3 Tỷ lệ nguồn nhân lực ở nước ngoài so với tổng nguồn nhân lực (Ei) 6
1.4 Công thức tính 6
1.4 Ý nghĩa 7
Chương 2. Một số ví dụ minh chứng 9
2.1 Marubeni Coporation 9

vào các hoạt động ở nước ngoài, cũng như đưa ra một cái nhìn tổng quan về vị trí của những
công ty khác nhau, những quốc gia khác nhau và các ngành công nghiệp khác nhau trong quá
trình quốc tế hoá.
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về chỉ số TNI cũng như
chưa đánh giá hết được tầm quan trọng của chỉ số này đối với việc nghiên cứu các TNCs. Đó
cũng chính là lý do mà nhóm chúng tôi chọn đề tài “chỉ số xuyên quốc gia: lý thuyết và minh
chứng” làm đề tài nghiên cứu.
3
Chương 1. Khung khổ lý thuyết về TNI
1.1 Định nghĩa
Chỉ số xuyên quốc gia là chỉ số dùng để xếp hạng các tập đoàn đa quốc gia có mặt
trên toàn cầu, được hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương Mại và Phát Triển (UNCTAD) đưa
ra vào năm 1995, nhằm đo lường mức độ quốc tế hóa của những tập đoàn này.
1.2 Quá trình hình thành
Quốc tế hóa từ lâu đã được thảo luận trong các tài liệu quản lý chiến lược, như một
cách để đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và tạo ra giá trị. Trong thập kỉ trước, nhiều nghiên
cứu đã được phát triển nhằm tìm một cách lí tưởng để đo lường mức độ quốc tế hóa của
doanh nghiệp. Những nỗ lực đầu tiên mà các nhà nghiên cứu dùng để định lượng mức độ
quốc tế hóa là sử dụng doanh số bán hàng ở nước ngoài của công ty (Collins, 1990; Dunning,
1985; Geringer, Beamish and da Costa, 1989; Grant, Jammine & Thomas, 1988). Một số
khác đánh giá mức độ quốc tế hóa bằng tỷ lệ gia tài sản ở nước ngoài so với tổng số tài sản
của công ty. (Ramaswamy, 1993) . Tuy nhiên, trong những năm qua cách tiếp cận mới đến
mức độ quốc tế hóa đã được phát triển. Kết quả là, các mô hình khác nhau của quốc tế hóa,
không giới hạn về khả năng tài chính và không chỉ dựa trên một tiêu chuẩn duy nhất (ví dụ
như doanh số bán hàng nước ngoài) đã gây được chú ý. Điển hình như Lu and Beamish
(2004) đánh giá mức độ quốc tế hóa qua 2 biến: số lượng những công ty con ở nước ngoài
của một công ty và số lượng quốc gia mà một công ty có chi nhánh ở đó trong một năm nhất
định. Mức độ quốc tế hóa đã được phát triển bởi Sullivan (1994) thông qua chỉ số DOI, đó là
sự kết hợp theo tuyến tính của các biến bao gồm ba khía cạnh của quốc tế hóa: thái độ, hiệu
suất và kích thước cấu trúc. Chỉ số DOI phụ thuộc vào những yếu tố sau: tỷ số giữa doanh số

những quốc gia khác, bao gồm nhà máy, phân xưởng, xí nghiệp….
Như vậy có thể thấy rằng nếu doanh nghiệp có đầu tư lớn ở nước ngoài thì tỉ số Ai (=
Af/A) sẽ cao, điều này dẫn đến chỉ số TNI sẽ mang giá trị cao.
5
1.3.2 Tỷ lệ doanh số bán hàng ở nước ngoài so với tổng doanh số (Si)
Doanh số bán hàng là tổng doanh thu đạt đc sau khi hàng hóa và dịch vụ của công ty
được bán trên thị trường trong một khoảng thời gian nhất định
Doanh số bán hàng ở nước ngoài là doanh thu của những hàng hóa và dịch vụ được
bán ở thị trường nước ngoài
Khi số lượng hàng hoá và dịch vụ được bán ra trên thị trường nước ngoài càng lớn,
đồng nghĩa với việc doanh số bán hàng nước ngoài sẽ tăng và do đó chỉ số TNI sẽ được cải
thiện do chỉ số TNI tỷ lệ thuận với tỷ số Si.
1.3.3 Tỷ lệ nguồn nhân lực ở nước ngoài so với tổng nguồn nhân lực (Ei)
Nguồn nhân lực của công ty bao gồm tất cả những lao động toàn thời gian và bán thời
gian, không tính đến những lao động tạm thời và không kí hợp đồng với công ty.
Nhiều công ty xuyên quốc gia có xu hướng xây dựng nhà xưởng, phát triển hoạt động
sản xuất kinh doanh ở những nơi có nguồn lao động dồi dào, nhằm tận dụng nguồn nhân lực
giá rẻ và do đó số lượng nhân công ở nước ngoài của những công ty này sẽ tăng. Điều này sẽ
có ảnh hưởng tích cực tới chỉ số TNI vì khi đó tỷ số Ei cũng sẽ tăng.
1.4 Công thức tính
Theo UNCTAD, Chỉ số xuyên quốc gia được tính bằng trung bình cộng của ba tỷ số:
tài sản ở nước ngoài so với tổng tài sản, doanh số bán hàng nước ngoài so với tổng doanh số,
số nhân lực ở nước ngoài so với tổng nguồn nhân lực
A = Tổng số tài sản của công ty Af = Tài sản ở nước ngoài của công ty
S = Tổng doanh số bán hàng của công ty Sf = Doanh số bán hàng nước ngoài
E = Tổng số nhân lực của công ty Ef = số nhân lực ở nước ngoài của công ty
Chúng ta có ba tỷ số dưới đây:
Ai = Tỷ lệ tài sản ở nước ngoài = Af/A
Si = Tỷ lệ doanh số bán hàng ở nước ngoài = Sf/S
Ei = Tỷ lệ nhân lực ở nước ngoài = Ef/E

7
là 48.8%. Nguyên nhân của điều này là do công ty đã đầu tư rất lớn ở nước ngoài nhưng hầu
hết doanh số bán hàng, tài sản và nguồn nhân lực đều nằm trong Hoa Kỳ. Tương tự như vậy,
năm 2013 tập đoàn đa quốc gia Toyota Motor Corporation của Nhật Bản đứng thứ 3 về số
lượng tài sản sở hữu nước ngoài, nhưng xếp theo chỉ số xuyên quốc gia TNI thì đứng thứ 67
trong bảng xếp hạng với TNI là 58.6% (theo báo cáo của UNCTAD, năm 2013).
8
Chương 2. Một số ví dụ minh chứng.
2.1 Marubeni Coporation
2.1.1. Khái quát về Marubeni.
Tập đoàn Marubeni được thành lập ngày 01 tháng 12 năm 1949, Chủ tịch, Giám đốc điều
hành của tập đoàn là ông Fumiya Kokubu. Trụ sở chính được đặt tại Tokyo – Nhật Bản.
Marubeni là một trong những tập đoàn bán buôn lớn nhất thế giới. Tập đoàn có 57 chi
nhánh và văn phòng ở nước ngoài, 30 công ty con với 61 văn phòng ở nước ngoài trong tổng số
118 văn phòng trên 64 quốc gia, khu vực.
Số lượng nhân viên: khoảng 4500 người (Không bao gồm nhân viên địa phương của các chi
nhánh, văn phòng ở nước ngoài và lao động địa phương của các công ty con ở nước ngoài)
Lĩnh vực kinh doanh của tập đoàn rất đa dạng, bao gồm xuất nhập khẩu các hàng hoá:
nguyên liệu thực phẩm, thực phẩm, dệt may, vật liệu, giấy và bột giấy, hoá chất, năng lượng, kim
loại, khoáng sản, máy móc và bao gồm cả giao dịch ngoài khơi.
Công ty cũng mở rộng các dự án điện và cơ sở hạ tầng, các nhà máy và máy móc công
nghiệp, tài chính, hậu cần và công nghệ thông tin, phát triển bất động sản và xây dựng.
2.1.2. Sự thay đổi xếp hạng chỉ số TNI của Marubeni
Bảng 2.1. Bảng số liệu đánh giá chỉ số xuyên quốc gia của Tập đoàn Marubeni qua một số năm.
Đơn vị tính: Tài sản, doanh số (triệu USD), Lao động (người)
Năm
Tài sản
Tỉ lệ
Doanh số
Tỉ lệ

thứ 97. Chỉ số xuyên quốc gia của Marubeni đã được cải thiện một cách đáng kể vào năm 2013.
So với năm 2012, chỉ số TNI tính theo % đã tăng từ 30.9% lên 62.4% (tăng 31.5%). Theo đó, xếp
hạng trong top 100 công ty có chỉ số TNI hàng đầu Thế giới của Marubeni cũng tăng lên rất
nhiều, từ xếp hạng thứ 97 đã tăng lên xếp hạng thứ 57 (tăng 40 bậc)
Sở dĩ chỉ số TNI của Marubeni tăng một cách nhanh chóng như vậy là do sự tăng lên mạnh
mẽ của 2 chỉ số: Doanh số bán hàng ở nước ngoài/tổng doanh số và số lao động ở nước
ngoài/tổng lao động. Trong khi tỷ lệ tài sản ở nước ngoài/tổng tài sản của Marubeni giữa hai năm
2012 và 2013 hầu như không đổi thì việc đồng thời tăng lên của 2 chỉ số trên đã góp phần làm
tăng đáng kể chỉ số TNI và xếp hạng của Marubeni. Cụ thể, Doanh số bán hàng ở nước
ngoài/tổng doanh số đã tăng từ 27.9% năm 2012 lên 64% năm 2013 (tăng 36.1%), số lao động ở
nước ngoài/tổng lao động tăng từ 7.1% lên 65.6% (tăng 58.5%). Thực sự đây là những mức tăng
rất ấn tượng và đã tạo nên một bước đột phá cho sự xếp hạng của Marubeni trong top 100 công ty
có chỉ số TNI hàng đầu thế giới.
Sự tăng lên đáng kể cả về con số tuyệt đối và tương đối của ba yếu tố tham gia vào việc xác
định chỉ số TNI như đã trình bày ở trên cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của Marubeni trên cả thị
trường trong nước lẫn nước ngoài trong những năm gần đây. Dựa vào các chỉ số trên ta cũng có
thể thấy được sự mở rộng về tài sản, doanh số và lao động ở nước ngoài của tập đoàn.
2.2 BHP Billiton Group Ltd
2.2.1 Khái quát về BHP Billiton Group Ltd
10
BHP Billiton Group Ltd là một công ty đa quốc gia, trụ sở chính tại Australia, là một
trong những doanh nghiệp khai khoáng hàng đầu thế giới, các mặt hàng chủ yếu bao gồm
nhôm, đồng, than, quặng sắt, mangan, niken, bạc và uranium, dầu khí.
BHP Billiton thành lập tháng 06/2001 trên cơ sở sát nhập của 2 công ty BHP (thành
lập năm 1885) và Billiton (thành lập năm 1860). Hiện nay, BHP Billiton có chi nhánh ở
nhiều nước trên thế giới như Australia, Canada, Brazil, Anh, Nam Phi, Indonesia… Tổng tài
sản của công ty năm 2013 gần 140 tỷ USD.
2.2.2 Phân tích chỉ số TNI của BHP Billiton Group Ltd
Bảng 2.3: Bảng số liệu đánh giá chỉ số xuyên quốc gia của BHP Billiton Group Ltd năm 2012
và 2013.

khủng hoảng xảy ra, hoạt động sản xuất của các nước đều bị ngưng trệ, nhất là sản xuất công
nghiệp, do đó nhu cầu nguyên, nhiên liệu đầu vào sản xuất công nghiệp sụt giảm mạnh.
Trong khi đó lại là những mặt hàng chính của Công ty, do đó doanh số bán hàng nói chung
và doanh số bán hàng ở nước ngoài nói riêng đều sụt giảm mạnh so với thời điểm trước
khủng hoảng. Điều này đã khiến xếp hạng chỉ số TNI của Công ty tụt tới 21 bậc (từ hạng 40
năm 2007 rớt xuống hạng 61 năm 2008). Trên thực tế, sau khi khủng hoảng xảy ra, BHP
Billiton đã lên kế hoạch cắt giảm 6.000 nhân công trên toàn cầu và khoảng 3.300 việc làm tại
Australia cho tới tháng 06/2009, trong đó có khoảng 2.000 việc làm trong lĩnh vực sản xuất
thép không gỉ. BHP cũng thông báo kế hoạch đóng cửa vô thời hạn mỏ nickel Ravensthorpe
thuộc Tây Australia và giảm năng suất khai thác tại mỏ Mount Keith với lý do giá nickel trên
thị trường đang sụt giảm nghiêm trọng. Năm 2007, mỏ Ravensthorpe được đánh giá là sẽ
mang lại lợi nhuận cao, nhưng trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng hiện nay, BHP không chỉ
ngừng dự án trên, mà còn cắt giảm đáng kể nhân công tại một mỏ nickel khác là Yabulu
thuộc bang Queensland. Mặt khác, BHP cũng quyết định sẽ sa thải khoảng 1.100 công nhân
khai thác than tại bang New South Wales và Queensland và khoảng 200 vị trí khác tại mỏ
Olympic Dam thuộc miền nam Australia.
Sau đó, những năm 2010, 2011, khi kinh tế thế giới dần phục hồi, hoạt động sản xuất
công nghiệp tăng trưởng trở lại, chỉ số TNI của BHP Billiton đã có sự cải thiện đáng kể, nhất
là doanh số bán hàng ở nước ngoài đã đạt mức xấp xỉ trước khủng hoảng. Tuy nhiên, chỉ số
tài sản ở nước ngoài phục hồi chậm hơn, điều này khiến chỉ số TNI của Công ty cũng như
xếp hạng TNI chưa thể hồi phục lại mức trước khủng hoảng.
Qua phân tích chỉ số TNI của BHP Billiton giai đoạn 2006-2011, ta thấy, hoạt động
kinh doanh ở nước ngoài của Công ty này chịu ảnh hưởng tương đối mạnh mẽ từ những biến
động của thị trường thế giới, điều này chứng tỏ khả năng cạnh tranh của công ty trên thị
trường quốc tế không cao, nhất là vấn đề tiêu thụ sản phẩm.
12
2.3 GDF Suez S.A.
2.3.1 Khái quát về GDF Suez
GDF Suez là một công ty của Pháp được thành lập vào năm 2008 từ sự hợp nhất của
hai công ty là Gaz de France và Suez.Công ty chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và

1
21975
9
55,2% 72133
11856
1
60,8% 73000
14719
9
49,6% 55,2% 75
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của UNCTAD
Trong trường hợp của công ty GDF Suez từ năm 2012 tới năm 2013 chỉ số xuyên
quốc gia đã bị giảm từ 59,2 % xuống còn 55,2% khiến cho công ty bị hạ bậc xếp hạng từ 62
xuống 75 trong số 100 công ty phi tài chính hàng đầu thế giới.
Trên thực tế do những biến động về kinh tế nên tài sản, doanh số, nhân lực của GDF
Suez đã giảm mạnh từ năm 2012 tới năm 2013. Tuy nhiên sự sụt giảm giữa doanh số bán
hàng nước ngoài với tổng doanh số bán hàng và số nhân lực nước ngoài của công ty với tổng
nhân lực của công ty là khá đồng đều. Điều này đã dẫn tới tỷ lệ doanh số bán hàng ở nước
ngoài (Si) và tỷ lệ nhân lực ở nước ngoài (Ei) đều có sự thay đổi không đáng kể, Với Si là từ
63% trong năm 2012 xuống còn 60,8% trong năm 2013 và Ei là từ 50,3% trong năm 2012
xuống 49,6% trong năm 2013.
Sự thay đổi lớn nhất trong ba tỷ lệ này chính là tỷ lệ tài sản nước ngoài Ai, giảm từ
64,5% trong năm 2012 xuống còn 55,2% trong năm 2013, chênh lệch hơn 9%. Có sự chênh
lệch lớn như vậy là bởi vì GDF Suez đã giảm mạnh số tài sản nước ngoài trong khi tài sản
trong nước gần như không thay đổi (GDF Suez đã giảm từ vị trí thứ 8 tới 17 trong năm 2012
tới 2013 trong bảng xếp hạng 100 TNC có tài sản nước ngoài nhiều nhất – theo UNCTAD),
14
khiến cho tỷ lệ Ai bị sụt giảm đáng kể. Và đây cũng là nguyên nhân dẫn tới việc suy giảm
chỉ số TNI
Qua phân tích các thành phần chỉ số TNI của GDF Suez, có thể thấy rằng tuy doanh

các doanh nghiệp có thể mở rộngthông qua đa dạng hóa các hoạt động giới hạn của chuỗi giá
16
trị, chủ yếu liên quan đến xuất khẩu, có một hình thức ít phổ biến hơn là việc một số doanh
nghiệp khởi đầu bằng việc phát triển các nguồn lực của họ thông qua việc mở rộng chuỗi giá
trị tại các thị trường nước ngoài đa dạng. Những nhà nghiên cứukết luận, tuy nhiên, nếu
doanh nghiệp có thể thiết lập các hình thức tổ chức có nhiều khả năng để phát triển lợi thế
bền vững.
Chỉ số xuyên quốc gia cung cấp một phương pháp phân tích thực nghiệm cácdự đoán
trái ngược nhau của các động lực của quốc tế. Nếu lý thuyết giai đoạn làchính xác, chúng tôi
sẽ mong đợi để nhìn thấy việc ngày càng có nhiều hơn các doanh nghiệp mới thành lập và
các doanh nghiệp đã được thiết lập có chỉ số xuyên quốc gia cao, và rằng chỉ số xuyên quốc
gia của các công ty toàn cầu và công ty xuyên quốc gia sẽ tăng theo một xu hướng vững chắc
trong quá trình phát triển của họ. Ngoài ra, nếu các lý thuyết toàn cầu hoặc các lý thuyết
tương tự về sự biến đổi không ngừng là chính xác, chúng tôi mong chờ tìm thấy một số đáng
kể và toàn cầucác công ty xuyên quốc gia đã đạt được chỉ số xuyên quốc gia cao một cách
nhanh chóng hoặc không sử dụnghình thức tổ chức có chỉ số xuyên quốc gia thấp hơn trước
đó trong lịch sử của họ. Cuối cùng, chúng ta có thể kiểm tragiả thuyết của Oviatt và
McDougall về lợi thế bền vững bằng cách giảm hiệu suấttheo thời gian với chỉ số xuyên
quốc gia để xem các tổ chức có mức độ đa dạng hóa cao đã đạt được sựbền vững chưa.
Tương tự như vậy, chỉ số xuyên quốc gia có thể được sử dụng để đánh giá các lý
thuyết so sánh hiệu quả hoạt động của các hình thức tổ chức doanh nghiệp khác nhau trong
điều kiện thị trường nhất định. Chỉ số xuyên quốc gia cho phép các nhà nghiên cứu kinh
doanh giải quyết vấn đề mà Zahra và George (2002: 265)đã chỉ ra, đó là "một sự thiếu xót rõ
ràng trong nghiên cứu trước đây đã bỏ qua sự quốc tế hóa của chuỗi giá trị của một công ty
hay các đầu vào trong quá trình sản xuất.”
Chỉ số xuyên quốc gia cũng cung cấp cho các nhà nghiên cứu về chiến lược tổ chức
một phương pháp đo lường phạm vi cạnh tranh "sự mở rộng các hoạt động của công ty thực
hiện trongcạnh tranh trong một ngành công nghiệp "(Porter, 1986). Chỉ số xuyên quốc gia
của một công ty là phương pháp để đo lường chiến lược tổ chức doanh nghiệp và sự kết nối
của các chuỗi giá trị tài sản, do đó cho phép các nhà nghiên cứu tiến hành các phân tích thực

18
nghiệp đi vào bản chất của quá trình toàn cầu hóa để liên tục học hỏi, phát triển và tiến hóa.
Các doanh nghiệp phát triển các kỹ năng mới, sáng tạo và hiệu quả từ bất kỳ một nơi vận
hành nào trong hệ thống toàn cầu của mình, sau đó khai thác sử dụng những kỹ năng mới
này làm phát triển thêm năng lực cốt lõi của doanh nghiệp, rồi chia sẻ, truyền bá những đổi
mới đó trên khắp hệ thống toàn cầu của doanh nghiệp. Chính vì vậy, quy trình quản lý, vận
hành và hoạt động, thực hiện các ý tưởng chiến lược không dừng lại là top-down, từ trên
xuống, từ trụ sở chính xuống các công ty con; hay là bottom-up, từ dưới lên, từ các công ty
con lên trụ sở chinh mà được kết hợp nhuần nhuyễn cả hai cách. Chính vì vậy, chiến lược
xuyên quốc gia siêu việt hơn trong cách sáng tạo ra các ý tưởng đổi mới, tới ứng dụng các ý
tưởng đó nhanh chóng vào hệ thống mà không quan trọng ý tưởng đó được sáng tạo ra ở đâu
hay ở cấp nào. Điểm siêu việt này được gọi là “học hỏi toàn cầu – global learning”.
3.2 Áp dụng chỉ số xuyên quốc gia để đánh giá tác động của quốc tế hóa tới hiệu suất
chủ quan và khách quan
Trong một nghiên cứu của UNCTAD về ảnh hưởng của quốc tế hóa với ví dụ là các
TNCs của Braxin, các tác giả đã nghiên cứu về hai biện pháp khác nhau để đo lường mức độ
quốc tế hóa là chỉ số TNI và một chỉ số tổng hợp bao gồm các biện pháp khác như số quốc
gia và kinh nghiệm quốc tế, và xác định liệu mức độ của quốc tế hóa có ảnh hưởng tới cả
hiệu suất khách quan lẫn chủ quan của các TNCs. Ở đây hai mô hình đã được thử nghiệm để
so sánh quy mô và để tìm ra cấu trúc vừa vặn hơn. Mô hình đầu tiên sử dụng ba chỉ số từ
UNCTAD (tỷ lệ doanh thu, tài sản và lao động) là thước đo mức độ quốc tế hóa, mô hình thứ
hai thêm vào số quốc gia và kinh nghiệm quốc tế.
19
Bảng: Độ tin cậy và phương sai trung bìnhcủa mô hình 1 và mô hình 2
CC AVE
Mô hình 1 (TNI)
Chỉ số TNI 0,87 0,69
Hiệu suất nước
ngoài 0,40 0,25
Hiệu suất trong

thức vô cùng to lớn bởi chúng ta thiếu những đặc tính đo lường giúp phân biệt các hình thái
khác nhau của tổ chức kinh doanh xuyên quốc gia. Các tổ chức kinh doanh xuyên quốc gia
này có thể là các công ty xuất/nhập khẩu, công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia hoặc
công ty quốc tế…Để giải quyết vấn đề này, Diễn đàn thương mại phát triển Liên Hợp quốc
đã tạo ra một chỉ số giúp tính toán mức độ đa dạng về mặt địa lý của chuỗi giá trị của công ty
kinh doanh quốc tế. Chỉ số này được gọi là chỉ số xuyên quốc gia. Chỉ số xuyên quốc gia
giúp phân định rõ ràng biên giới giữa các hình thức tổ chức công ty trên toàn cầu. Chỉ số
xuyên quốc gia đưa ra tiêu chuẩn cơ bản về mức độ và hình thái tổ chức công ty trong quá
trình quốc tế hóa. Từ đó tạo điều kiện cho việc cải thiện những hiểu biết về các tiến trình tạo
ra lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia.
Thông thường, các công ty xuyên quốc gia sẽ có chỉ số xuyên quốc gia tương đối cao,
trong khi chỉ số xuyên quốc gia của các công ty xuất/nhập khẩu hay công ty đa nội địa là rất
thấp, thậm chí bằng 0 (đối với các công ty xuất khẩu trong nước). Việc tìm hiểu chỉ số xuyên
quốc gia cho phép công ty lựa chọn chiến lược phù hợp trong quá trình thâm nhập thị trường
quốc tế. Việc đo lường chỉ số xuyên quốc gia đã cung cấp những bằng chứng cơ bản về tỉ lệ
giữa tài sản, doanh số và lao động ở nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia. Chỉ số
xuyên quốc gia là một trong những chỉ số giúp đánh giá mức độ phạm vi hoạt động cũng như
lợi ích của các công ty xuyên quốc gia đạt được ở các quốc gia khác. Chỉ số TNI cao cho
thấy lợi thế về vị trí của nước chủ nhà hoặc chỉ ra khả năng cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ của
những công ty nước chủ nhà. Chỉ số xuyên quốc gia cũng chỉ ra mối quan hệ giữa những
hoạt động trong nước với hoạt động ở nước ngoài của một công ty. Tuy nhiên, chỉ số này
cũng có những nhược điểm là nó không đưa độ rộng lớn của nước chủ nhà vào công thức
tính và cũng không phân biệt được giữa những công ty có hoạt động tập trung ở một số quốc
gia nước ngoài và những công ty có hoạt động rộng lớn ở một số lượng lớn những quốc gia
khác. Vì vậy, để đánh giá được toàn diện, chúng ta cần xem xét thêm nhiều yếu tố khác.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. David H. Tobey, Doctoral Student Department of Management, College of Business
& Economics New Mexico State University : "The Transnationality Index:
Measuring the diversity advantage of transnational entrepreneurial organizations".


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status