SKKN SKKN hướng dẫn học sinh làm văn nghị luận xã hội thpt dạng đề mở - Pdf 26

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vò: Trường THPT Chun Lương Thế Vinh

Mã số:……………………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH
LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
XÃ HỘI DẠNG ĐỀ MỞ
Người thực hiện: Trần Thò Châu Thưởng
Lónh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ Văn
Phương pháp giáo dục:
Lónh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình Phần mền Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2012 – 2013
×
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Trần Thị Châu Thưởng
2. Ngày tháng năm sinh: 04-10-1964
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: R317, đường A3, Võ Thị Sáu, phường Thống Nhất, thành
phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại (NR): 0613.600660
6. Fax:
7. Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn tổ Ngữ văn
8. Đơn vị công tác: Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị: Tốt nghiệp Đại học Sư phạm

đất nước tư tưởng, tình cảm tốt đẹp, suy nghĩ sâu sắc trước mọi vấn đề
của cuộc sống.
Bên cạnh đó, để tăng cường tính chủ động, tích cực của học sinh
(HS), việc ra đề văn NLXH theo hướng mở ngày càng được xã hội đồng
tình, nhiều giáo viên (GV) tích cực đổi mới cách ra đề. Ưu điểm của lối
ra đề NLXH theo hướng mở là rèn luyện khả năng độc lập suy nghĩ, phát
huy tính sáng tạo và gây hứng thú cho học sinh. Kết quả chúng ta đã có
những bài viết thể hiện suy nghĩ riêng, độc đáo và chân thực của học sinh
được đăng tải trên báo và các phương tiện thông tin đại chúng.
2. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay việc ra đề
NLXH theo hướng mở và viết bài văn theo đề mở là vấn đề mới và còn
nhiều khó khăn đối với giáo viên và học sinh.
Một số giáo viên vẫn chưa khuyến khích ý tưởng riêng, có cá tính
được thể hiện trong bài viết của học sinh, mà chỉ đi theo những kiến thức
có sẵn trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn giáo viên hoặc suy nghĩ chủ
quan của bản thân. Nhiều GV tâm đắc với việc ra đề NLXH theo hướng
mở nhưng lại cảm thấy lúng túng trong cách hướng dẫn học sinh làm tốt
dạng đề này.
Một số học sinh không thích đề mở vì quen với lối làm văn máy
móc, rập khuôn theo mẫu có sẵn hoặc theo đúng ý thầy cô đã truyền thụ.
Những học sinh hứng thú với đề mở lại xuất phát từ quan niệm chưa
đúng. Các em cho đề mở là nghĩ gì viết nấy, dẫn đến lối viết tùy tiện
không đáp ứng đúng yêu cầu của một bài văn nghị luận.
3. Xuất phát từ công việc giảng dạy của một giáo viên ở bậc THPT
và từ thực tế trên, chúng tôi viết sáng kiến kinh nghiệm: HƯỚNG DẪN
HỌC SINH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI DẠNG ĐỀ MỞ
nhằm làm rõ thêm quan niệm về đề mở và một số hoạt động dạy học giúp
học sinh làm tốt dạng đề này.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận

mới dừng lại ở việc giáo viên ra đề và gợi ý cách làm bài.
Là người trực tiếp đứng lớp, chúng tôi nhận thấy, để làm tốt bài văn
NLXH theo hướng mở, HS cần có một quá trình rèn luyện. Bắt đầu từ
việc tích lũy vốn sống. Sau đó là có thói quen suy nghĩ về những vấn đề
đạo lí, có chính kiến trước một tư tưởng, hình thành những quan niệm
sống, biết trăn trở và có cái nhìn đa chiều trước mọi hiện tượng, sự việc
của cuộc sống. Cuối cùng là cách bày tỏ những hiểu biết, suy nghĩ của
bản thân trên trang giấy một cách thuyết phục, hấp dẫn. Đây chính là
những nội dung chính chúng tôi trình bày trong SKKN này.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của
đề tài
2.1. Nghị luận xã hội dạng đề mở: quan niệm và dạng
thức
2.1.1. Đề nghị luận theo quan niệm truyền thống
Trong quan niệm truyền thống, một đề văn nghị luận xã hội thường
có hai phần: phần nêu vấn đề cần nghị luận và phần yêu cầu kiểu bài (tức
thao tác lập luận). Nói cách khác, đó là dạng đề mệnh lệnh. Trong đề bài,
không chỉ nêu vấn đề cần nghị luận mà cả yêu cầu thực hiện (mệnh lệnh)
như: suy nghĩ, bình luận, giải thích, chứng minh,…Ví dụ các đề văn sau:
- Đề 1: Nhà thơ Pháp La Phôngten có nói: “Tính ích kỉ là thuốc độc
giết chết tình bạn”.
Hãy bình luận câu nói trên.
(Làm văn 10 – Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000)
- Đề 2. Giải thích câu tục ngữ: “Uống nước nhớ nguồn”.
(Làm văn 10 – Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000)
- Đề 3: Nhà bác học Đacuyn nói về kinh nghiệm thành công của
mình như sau: “Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có giá trị một chút, tôi đều
đã thu nhận được bằng cách tự học”.
Bình luận câu nói trên. Em có suy nghĩ gì về con đường học tập sắp
tới của mình.

cũng như giới hạn của đề.
Ví dụ: Câu tục ngữ:“Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” thời nay
có còn phù hợp?
- Đề mở cũng có thể là loại đề mà nội hàm của vấn đề nghị luận tùy
thuộc vào sự nhận thức của người viết.
Ví dụ:
∗ Thinh lặng là quê hương của kẻ mạnh.
∗ Vì sao mà tôi sống trên đời ?
Tất cả các loại đề mở đều không áp đặt tính chân lí – cụ thể đối với
học sinh khi nghị luận về một vấn đề nào đó, cũng không bó buộc người
viết trong một khung hình thức thể hiện nhất định.
2.1.3. Các dạng đề mở thường gặp:
Theo GS. TS Trần Đình Sử (Tlđd), có ba dạng đề mở thường gặp là:
a, Đề cho đề tài:
Đề chỉ cung cấp một đề tài chung, HS có thể cụ thể hóa thành đề
mục hay nhan đề của bài viết.
Ví dụ đề cho HS lớp 10:
- Đề 1: Suy nghĩ về ngọn lửa.
- Đề 2: Hãy viết bài văn về chủ đề người chiến thắng.
- Đề 3: Suy nghĩ từ hạt giống.
b, Đề cho tài liệu
Đề cung cấp một bức tranh hoặc ảnh, hoặc một câu chuyện, một
mẩu tin trên báo, HS tự chọn lấy vấn đề, chủ đề để viết bài văn.
Ví dụ đề cho HS lớp 12:
- Đề: Chọn một trong ba tài liệu dưới đây làm bài theo yêu cầu bên
dưới:
a. Báo Dương Thành buổi tối (Quảng Châu) tường thuật, khoảng
17g30 ngày 13-10-2010, tại một con đường nhỏ ở Quảng Phật Ngũ Kim
Thành thuộc quận Nam Hải ở Phật Sơn, bé gái Duyệt Duyệt 2 tuổi đang
lững thững đi ra đường đã bị một xe hơi loại bảy chỗ tông phải và cán

Đề đưa ra mệnh đề còn bỏ trống, HS điền vào chỗ trống để thể hiện
quan niệm của bản thân.
Ví dụ đề cho HS lớp 11:
- Đề 1: Hạnh phúc là
- Đề 2: Tôi ước mong
2.1.4. Đề mở có nhiều lựa chọn:
Ngoài những dạng đề trên, theo chúng tôi, cần có thêm dạng Đề
nhiều lựa chọn. Với dạng đề này, HS vừa được gợi ý, vừa tự do lựa chọn
hướng giải quyết theo suy nghĩ của bản thân. Đây cũng là cách hình
thành cho HS độc lập suy nghĩ, thói quen nhìn cuộc sống ở nhiều góc độ
và rèn luyện tư duy phản biện cho các em.
Ví dụ đề cho HS lớp 12:
- Đề 1: Phát biểu ý kiến về lối sống sành điệu của một bộ phận
thanh niên hiện nay.
- Đề 2: Con người sinh ra đã có tính hưởng thụ. Anh/ chị có đồng ý
không? Theo anh/ chị tính hưởng thụ là tốt hay xấu?
- Đề 3: Internet – ông thầy không mời mà đến – đang là mối bận
tâm hàng đầu của các bậc cha mẹ. Ý kiến của anh/ chị về vấn đề này.
- Đề 4: Nhà sư phạm nổi tiếng V.A. Xu-khôm-lin-xki có viết:
“Niềm tin và thế giới xúc cảm của con người có đạo đức đúng đắn,
tâm hồn đẹp đẽ được xây dựng trên cơ sở khinh bỉ những điều không
xứng đáng”.
Theo anh (chị), đối với một con người có đạo đức và tâm hồn đẹp
đẽ, những điều gì là không xứng đáng ?
2.2. Nghị luận xã hội dạng đề mở: tác dụng và yêu cầu
2.2.1. Tác dụng
Việc ra đề mở trong nghị luận xã hội có nhiều tác dụng đối với học
sinh:
- Đề mở khuyến khích tối đa sự sáng tạo, cách cảm thụ, sự linh hoạt
của người viết, rèn luyện khả năng độc lập suy nghĩ của học sinh trước

vững một số yêu cầu khi dạy học và làm văn:
2.2.2.1. Về phía học sinh:
- Đề mở thường không nêu rõ các phương thức biểu đạt, thao tác lập
luận, không có gợi ý về phạm vi, tư liệu, không có nghĩa là học sinh sẽ
viết một cách tùy tiện. Trái lại, người viết phải hiểu rõ vấn đề từ nghĩa
tường minh đến nghĩa hàm ẩn. Từ đó, lựa chọn và định hướng viết sao
cho bài văn thể hiện được suy nghĩ sâu sắc, lối viết sáng tạo, có tính
thuyết phục đối với người đọc theo hướng tích cực. Điều đó có nghĩa,
chính người viết phải tự xác lập được phương thức biểu đạt, thao tác lập
luận và phạm vi vấn đề nghị luận.
- Đề mở không chỉ có tính mở về phương thức biểu đạt, thao tác lập
luận hay phạm vi, tư liệu, mà đôi khi tính mở lại thể hiện ngay ở vấn đề
cần nghị luận. Do đó, người viết cũng phải xác định nội hàm của vấn đề,
dự liệu hướng yêu cầu của người ra đề.
2.2.2.2. Về phía giáo viên:
- Đề ra theo hướng mở cần chọn được vấn đề mở, đặt người viết
trước một tình huống bất ngờ, đa chiều, gợi được hứng thú làm bài cho
học sinh. Vấn đề đặt ra vừa có chất văn, khơi gợi được cảm xúc, vừa gắn
với cuộc sống, thường là những vấn đề xã hội và các em đang quan tâm,
tránh xa lạ, nặng về học thuật, mà cũng không gượng ép.
Đề ra theo hướng mở còn là cách giúp các em trưởng thành trong
suy nghĩ, hướng các em đến lí tưởng đẹp, hoàn thiện dần tư cách của một
công dân có trách nhiệm với xã hội.
Muốn vậy, người giáo viên phải cân nhắc đến tính vừa sức ở học
sinh. Có những vấn đề nghị luận chỉ phù hợp với học sinh lớp 12 mà lại
quá sức với học sinh lớp 10, càng khó khăn cho học sinh ở bậc trung học
cơ sở.
- Để học sinh có thể làm tốt dạng đề mở, giáo viên phải huấn luyện
cho các em kĩ năng làm văn nghị luận, nhất là các kĩ năng: phân tích đề;
lập ý, lập dàn ý; thao tác lập luận,… Nói rốt ráo, học sinh không có kĩ

việc xây dựng các luận cứ, bao gồm lí lẽ và dẫn chứng.
3.1.2. Hoạt động dạy học giúp học sinh tích lũy kiến thức và
vốn sống
Đa phần học sinh thường chưa có ý thức trong việc tích lũy tư liệu,
không có thói quen đọc báo, xem thời sự để nâng cao hiểu biết thực tế
đời sống. Do đó, giáo viên cần có các hoạt động dạy học giúp các em
hình thành thói quen này.
3.1.2.1. Cách thức tiến hành hoạt động dạy học giúp học sinh
tích lũy kiến thức và vốn sống:
HĐ 1: GV cho bài tập về nhà.
HĐ 2: GV đưa ra yêu cầu:
- Quy định ngày, giờ nộp sản phẩm;
- Quy định hình thức sản phẩm: gửi đến địa chỉ mail của giáo viên
(đây là cách GV tập hợp sản phẩm của HS);
- Quy định hình thức trình bày (bản word, font chữ ),…
HĐ 3: Giáo viên tập hợp sản phẩm.
HĐ 4: Giáo viên xóa tên học sinh, cho in thành nhiều bản, phát cho
các học sinh trong lớp.
HĐ 5:Học sinh đọc và bình chọn sản phẩm hay nhất (không chọn
của mình).
HĐ 6: Giáo viên thống kê, cho điểm và nhận xét, đánh giá.
3.1.2.2. Ưu điểm của hoạt động dạy học giúp học sinh tích lũy
kiến thức và vốn sống
Yêu cầu học sinh tích lũy kiến thức và vốn sống không phải là hoạt
động dạy học mới của giáo viên. Khi dạy văn nghị luận, chúng ta vẫn
thường nhắc nhở các em dẫn chứng phải cụ thể, xác thực, lí lẽ phải sắc
sảo. Song, chúng ta chỉ dừng lại ở việc gợi ý nên làm, mà chưa tạo thành
một yêu cầu, một thói quen cho học sinh. Chính vì thế, bài văn các em
thường nghèo nàn về ý, dẫn chứng sáo mòn với những câu danh ngôn
quen thuộc, những tấm gương chưa đọc đã biết. Và như thế, làm sao có

này. Trước khắc nghiệt cuộc đời, không khao khát, không dại khờ, thì bạn và
tôi sẽ uổng phí thời gian ngắn ngủi để sống trong vỏ bọc an toàn. Không dám
làm gì, chẳng có được gì, và chẳng là gì cả.
- Chính lựa chọn của chúng ta, chứ không phải khả năng, mới chứng tỏ
chúng ta thực sự là ai (It's our choices that show what we truly are, far more
than our abilities)
(J.K.Rowling, trích Harry Potter và Phòng chứa Bí mật)
THANH THẢO:
Hồi nhỏ xem phim Gọi giấc mơ về, tôi nhớ hoài một câu của người ông
làm nghề nước mắm nói với cô cháu gái: Cá loại một thì sẽ làm ra được nước
mắm loại một, nhưng nước mắm loại một không phải tất cả đều làm từ cá loại
một. Cá hay người thì cũng vậy thôi. Cái quan trọng không phải tôi có gì, mà là
tôi sẽ làm gì với những điều tôi có. Có ít hơn so với người khác, nhưng biết
vận dụng, vẫn có thể thành không. Có tất cả, mà dùng sai mục đích thì cũng là
vô ích. Vả lại, có bao giờ ta đánh giá được hết khả năng của chính mình mà
dựa vào đó để ngại ngần?
- Hạnh phúc là một hành trình, không phải một điểm đến (Happiness is a
journey, not a destination)
(Paulo Coelho, trích Nhà giả kim)
- Bạn có thể thất vọng nếu thất bại, nhưng sẽ sụp đổ đến tận cùng nếu từ
bỏ mọi ước mơ.
(Miguel de Unamuno)
HOÀNG THỊ MAI DUNG:
Ước mơ nuôi dưˆng tâm hồn con người. Từ bỏ ước mơ cũng đồng nghĩa
rằng ta đã đánh mất sức sống tâm hồn, đánh mất điểm tựa của niềm tin. Thất
bại chưa phải là chấm hết, nếu như còn biết ước mơ thì ước mơ ta ấp ủ sẽ là
ngôi sao chỉ đường định hướng ta đến thành công. Câu danh ngôn đã luôn thôi
thúc tinh thần, làm động lực và nhắc nhở nhở không nên từ bỏ ước mơ.
- Ý nghĩa của cuộc sống không phải ở chỗ nó đem đến cho ta điều gì, mà
ở chỗ ta có thái độ đối với nó ra sao; không phải ở chỗ điều gì xảy ra với ta,

thắng như vậy thì có ích gì đâu, vì không khi nào làm cho người ta thành thật
đồng ý với mình hết.
(Franklin)
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH:
Đa phần con người vì cái tôi và sĩ diện sẽ cố chấp không nhận sai về
mình khi bị người khác chỉ trích và đả kích mạnh mẽ, cho dù bản thân nhận
thấy mình không đúng. Vì thế, khi em không hài lòng, em không muốn cố cãi
lại hay chống đối, như trong Kinh Thánh đã ghi: “Câu trả lời nhã nhặn của bạn
đã làm tiêu tan hết mọi giận dữ”. Thay vì làm hả hê bản thân khi chiến thắng
trên sự nhục nhã của người khác, hãy suy nghĩ thấu đáo, khiêm tốn, nhẹ nhàng
giúp họ nhận sai.
- Bạn sẽ tìm thấy niềm vui khi giúp đỡ người khác bằng tất cả tấm lòng.
(Paul Newman)
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH:
Em hoàn toàn có thể cảm nhận được câu nói này mỗi khi thật lòng giúp
đˆ người khác. Niềm vui không đơn thuần ta nhận được nhiều yêu thương mà
còn từ việc ta biết sẻ chia nó. Khi thật sự trải lòng, em không còn quan tâm vật
chất nữa, không quan tâm mình mất gì, mà chỉ có thể cảm nhận được niềm vui
khi làm cho người khác hạnh phúc. Em không đòi hỏi nhận được nơi họ nụ
cười hoặc lời cảm ơn, chỉ cần thấy họ nhận lấy sự giúp đˆ của em, điều đó đã
làm em hạnh phúc.
- Ngu ngốc không phải là do thiếu kiến thức, không phải là do không
muốn học mà do tin rằng đã biết hết tất cả.
(Anita Joachim-Daniel).
TRẦN THỊ BẢO YẾN:
Tự tin vào chính mình là một điều tốt, góp phần đưa con người đi đến
thành công, song tự tin thái quá, cho rằng mình hơn người lại là một con dao
sắc nhọn từng bước bào mòn sự thành công trong mỗi chúng ta. Con người ta
luôn phải học hỏi không ngừng để hoàn thiện chính mình và thái độ “tự tin
rằng đã biết hết tất cả” là một vật cản vô cùng lớn lao trên bước đường thành

người như thế nào? Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà nước ta lại phát động
“Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Bác đúng là
một tấm gương sáng để mọi người học tập, chẳng những qua các hoạt động
chính trị lớn lao mà ngay trong những việc nhỏ nhặt nhất, Bác luôn khéo léo
biến mọi việc dù phức tạp cũng trở nên giản đơn vô cùng. Đó là một đức tính
mà tôi luôn rèn luyện, học hỏi từ Bác.
Năm 1929, khi các tổ chức cộng sản được thành lập, đất nước ta chưa kịp
reo ca vì tìm được chính Đảng lãnh đạo thì mọi người lại một lần nữa hoang
mang vì các tổ chức này hoạt động riêng rẽ, đều cho rằng chủ trương của mình
là đúng đắn, không ai chịu ai. Trước tình hình đó, đầu năm 1930, Bác Hồ đang
từ Xiêm phải trở về nước để chủ trì hội nghị họp nhất các tổ chức cộng sản
thành một đảng duy nhất. Cuộc họp diễn ra sôi nổi, những người đại diện các
tổ chức cộng sản đều đưa ra những lí lẽ thuyết phục người khác, duy chỉ có
Bác là vẫn ngồi yên. Đến khi gần kết thúc buổi họp, Bác đột ngột đứng dậy.
Mọi người im lặng. Người không nói nhiều, chỉ hỏi có một câu:
- Ai trong các anh không phải người Việt Nam thì bước ra đây!…
Một sự yên lặng kéo dài… Sau vài phút không thấy ai lên tiếng Bác mới
nói tiếp:
- Nếu tất cả là người Việt Nam thì tại sao lại phải phân chia đảng phái
này nọ, sao không tổ chức thành một đảng duy nhất để tiến hành giải phóng đất
nước chúng ta trong lúc nguy cấp này…
Thêm một khoảng thời gian yên lặng… Và… bây giờ… chúng ta có
một Đảng cộng sản lãnh đạo duy nhất; một Nhà nước của dân, do dân, vì dân;
một đất nước hòa bình – dân chủ.
Thế đó, không phải cứ nói nhiều là thành công. Quan trọng là tôi và bạn
phải biết cách nói như thế nào, nói vào lúc nào… Quan trọng là cách tôi và bạn
ứng xử như thế nào trước một sự việc… Quan trọng là cách tôi và bạn kiểm
soát được chính mình và thuyết phục người khác ra sao… Tất cả những điều ấy
tưởng như đơn giản nhưng một khi đưa vào thực tiễn, bạn sẽ thấy nó khó đến
mức nào. Không phải ngẫu nhiên khi Bác có rất nhiều hành động to lớn, tốt

mới tốt nghiệp tên là Anne Sullivan và từ đây bắt đầu một tình bạn kéo dài suốt
49 năm trời. Anne Sullivan là người đã dạy Hellen tập nói. Những năm tháng
đầu rất khó khăn song nhờ sự nỗ lực của cả cô trò, Keller đã có thể nói ra điều
mình mong muốn cũng như bày tỏ suy nghĩ, quan điểm bản thân. Khi 8 tuổi,
Keller đã bộc lộ rõ tài năng vượt trội về các môn toán, địa lí, sinh học, tập đọc;
bà còn học cả bơi, chèo thuyền, cưˆi ngựa, đi xe. Sau đó, Keller vào học
trường nữ học tiểu bang Massachusetts. Cô giáo Anne luôn luôn ở bên cạnh
Keller để viết lại nội dung bài giảng vào lòng bàn tay Keller. Năm 1900, Keller
thi đậu vào trường cao đẳng Radcliffe College, học tài liệu chữ nổi dành cho
người mù. Bà kiên trì học tới mức khi nào đầu ngón tay rớm máu mới chịu
dừng. Hai năm sau khi tốt nghiệp, Keller được vinh dự được bầu vào chức chủ
tịch hội người mù tiểu bang Massachusetts, bắt tay vào công việc xã hội phục
vụ cho cộng đồng người mù. Keller đón tiếp rất nhiều người mù, trả lời nhiều
thư từ và đi thuyết giảng lưu động tại 39 nước trên thế giới. Bà không quản
ngại vất vả, cống hiến hết sức mình cho chương trình giáo dục và chữa trị cho
người mù. Năm 1920, với sự phấn đấu không mệt mỏi, Keller đã thành lập
được Hội người mù toàn nước Mĩ. Tổ chức này vẫn còn tồn tại cho đến ngày
nay. Quả thực, cuộc đời Hellen Keller là cả một câu chuyên đầy đáng thương
nhưng sáng ngời hơn cả là đáng trọng, đáng nể phục. Rõ ràng, tàn nhưng
không phế, Hellen Keller không chỉ sống mà còn sống vô cùng có ích, vô cùng
tốt đẹp. Bà làm được những việc mà những người may mắn như chúng ta khó
có thể thực hiện. Và Hellen Keller – cái tên ấy sẽ là ánh sáng chỉ đường cho
tôi, cho bạn, cho mọi người để vươn tới một cuộc sống hoàn thiện hơn, là động
lực để ta đứng dậy sau mỗi vấp ngã. Vâng, một ý chí kiên cường, một nghị lực
phi phường, một tấm lòng nhân hậu, vượt qua nghịch cảnh để sống, để vươn
lên, khẳng định mình với cuộc đời, bà xứng đáng là tấm gương chói ngời cho
bao thế hệ ngày sau.
- ĐẶNG BÍCH NGỌC:
Steve Jobs – biểu tượng cho sự thành công của hãng Apple nổi tiếng, một
trong những "ông vua" của công nghệ. Không chỉ vậy, ông còn là tấm gương

văn nghị luận thì khó mà hình thành các tư tưởng mạch lạc và sâu sắc

Trích đoạn Phân tích đề XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status