Thực trạng và giải pháp xây dựng, phát triển thương hiệu may mặc Việt Nam - Pdf 26

Phần mở đầu
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Ngày 1/1/2007 khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, các doanh nghiệp
Việt Nam nói chung và doanh nghiệp May mặc nói riêng đã có nhiều cơ hội
lớn để mở rộng thị trường, tận dụng được các nguồn lực nước ngoài để nâng
cao khả năng cạnh tranh (nguồn vốn đầu tư, trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm
quản lý ). Tuy nhiên doanh nghiệp Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít
khó khăn đó là sự cạnh tranh mạnh mẽ của các công ty nước ngoài không chỉ
trên thị trường quốc tế mà ngay trong thị trường nội địa. Câu hỏi đặt ra cho
DN Việt Nam hiện nay là làm sao có thể tìm một chỗ đứng vững chắc trên thị
trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt hiện nay. Giải pháp là nâng cao giá trị
thương hiệu doanh nghiệp, để nâng cao uy tín, ấn tượng trong tâm chí người
tiêu dùng, có như thế thì DN mới có chỗ đứng vững chắc trong thị trường.
Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, khái niệm
Thương hiệu không còn quá mới mẻ với các DN Việt Nam. Chúng xuất hiện
thường xuyên trên các phương tiện truyền thông, được các nhà khoa học
nghiên cứu trong rất nhiều năm. Thế nhưng thực sự các doanh nghiệp vẫn
chưa thực sự nhận thức được đúng đắn hết vai trò to lớn mà thương hiệu
mang lại cho doanh nghiệp.
Hiện thực là Việt Nam thực hiện gia công hàng may mặc cho rất nhiều các
hãng thời trang nổi tiếng trên thế giới. Hàng May mặc được đánh giá là một
ngành đã được hình thành từ rất sớm tại Việt Nam và là ngành có kinh ngạch
xuất khẩu lớn, đem lại nguồn thu lớn cho nước ta. Lực lượng lao động trong
ngành khá dồi dào, có tay nghề, giá nhân công rẻ. Thị trường trong nước với
quy mô dân số lớn đạt gần 86 triệu dân là một thị trường nội địa đầy tiềm
năng cho các doanh nghiệp May mặc Việt Nam. Thị trường nước ngoài cũng
1
mở ra nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp khi Việt Nam chính thức ra
nhập WTO.
Tuy nhiên ngành hàng này cũng còn khá nhiều hạn chế: Các DN May mặc
mới chỉ tập trung vào khâu sản xuất sản phẩm, chưa quan tâm nhiều đến công

- Kết hợp nghiên cứu lý luận với khảo sát thực tế việc xây dựng thương hiệu
ở các doanh nghiệp May mặc Việt Nam.
- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, kế thừa các kết quả đã nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về Thương hiệu, xây dựng thương hiệu
và kinh nghiệm quốc tế, phân tích đánh giá thực trạng phát triển thương hiệu
hàng May mặc Việt Nam, tìm ra những nguyên nhân và hạn chế.
Về thực tiễn: Làm rõ các bước và giải pháp xây dựng phát triển thương hiệu
cho hàng May mặc Việt Nam.
6. Kết cấu đề tài: Gồm 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Thương hiệu.
Chương 2: Thực trạng phát triển thương hiệu của các doanh nghiệp May mặc
Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Chương 3: Giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu cho ngành May mặc
Việt Nam.
Sau đây là nội dung cụ thể của đề tài:
3
Chương 1
Một số vấn đề lý luận cơ bản về thương hiệu
1.1. Khái niệm
1.1.1. Phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu
Thuật ngữ Thương hiệu thực tế đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu ở Việt
Nam. Từ thời vua Bảo Đại, theo Điều 1 của Dụ số 5 ngày 1/4/1952 “Được coi
là nhãn hiệu hay thương hiệu là các danh từ có thể phân biệt rõ rệt, các danh
hiệu, biểu ngữ, dấu in, con niêm, tem nhãn, hình nổi, chữ, số, giấy phong bì
cùng các tiêu biểu khác dùng để phân biệt sản phẩm hay thương phẩm”. Như
vậy, trong khái niệm này, thương hiệu và nhãn hiệu được hiểu là như nhau.
Điều 785 Bộ luật dân sự quy định “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu
dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh
doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết

khách hàng liên tưởng khi nhắc tới một sản phẩm hay một doanh nghiệp. Bởi
vậy nhà sản xuất, kinh doanh có thể lựa chọn nhiều yếu tố khác nhau làm
thương hiệu cho mình trên cơ sở xem xét về thuộc tính của sản phẩm, thị hiếu
và hành vi tiêu dùng của những khách hàng mục tiêu và các yếu tố khác như
pháp luật, văn hoá, tín ngưỡng… Những yếu tố được chọn làm thương hiệu
có thể được gọi là yếu tố thương hiệu, ví dụ: tên gọi, logo, biểu tượng, màu
sắc, kiểu dáng thiết kế, bao bì… Các yếu tố thương hiệu của một sản phẩm,
dịch vụ có thể được pháp luật bảo hộ dưới dạng các đối tượng sở hữu công
nghiệp cụ thể như: nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng
hoá, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp và thương hiệu cũng có thể được
bảo hộ bởi cả pháp luật bản quyền.
Rõ ràng, thương hiệu là toàn bộ các dấu hiệu được sử dụng trong thương
mại để chỉ nguồn gốc của hàng hoá dịch vụ; nhà sản xuất hàng hoá, dịch vụ
đó; đặc trưng của hàng hoá, dịch vụ. Bởi vậy, thương hiệu không chỉ bao gồm
5
nhãn hiệu hàng hoá mà còn bao gồm tên gọi xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý,
tên thương mại
David A.Aaker trong cuốn Building Strong Brand đã phân biệt sự khác
nhau giữa nhãn hiệu và thương hiệu theo bảng như sau:
Nhãn hiệu Thương hiệu
Hiện diện trên các văn bản pháp lý Hiện diện trong tâm trí khách hàng
Là phần “xác” Là phần “hồn” gắn liền với uy tín, hình
ảnh của sản phẩm và công ty
Doanh nghiệp đăng ký thiết kế và được
cơ quan sở hữu trí tuệ công nhận
Doanh nghiệp xây dựng và khách hàng
công nhận
Do luật sư đảm nhận: đăng ký và bảo
vệ
Do các nhà quản trị Marketing đảm

* Slogan (câu khẩu hiệu):
Slogan là một bộ phận cấu thành của thương hiệu. Nó là một đoạn văn
ngắn chứa đựng những thông tin bổ sung cho nhãn hiệu, những thông điệp mà
doanh nghiệp muốn truyển tải đến khách hàng. Khẩu hiệu không nhất thiết
phải cố định như tên thương hiệu. Nó có thể được thay đổi cho phù hợp với
từng chiến lược hay từng đoạn thị trường khác nhau mà DN muốn khai thác.
VD: Slogan của Nike “Just do it”, của Viettel “Hãy nói theo cách của bạn”,
Mai Linh “Màu xanh cuộc sống”.
* Bao bì:
Bên cạnh chức năng bao gói, chứa đựng, giúp tăng độ bền và tránh các tác
động có hại từ môi trường tới sản phẩm, bao bì còn có tác dụng để nhận diện
và phân biệt hàng hóa, cung cấp các thông tin về hàng hóa, doanh nghiệp
(thành phần, công dụng, cách sử dụng, nơi sản xuất, hạn sử dụng ). Từ đó
giúp cho việc mua sắm, tiêu dùng sản phẩm của khách hàng dễ dàng hơn.
Những kiểu dáng bao bì độc đáo còn kích thích tiêu thụ và tạo sự liên tưởng
mạnh mẽ của khách hàng đối với sản phẩm.
7
*Chỉ dẫn địa lý:
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa
phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Danh tiếng của sản phẩm mang
chỉ dẫn địa lý được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối
với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và chọn
lựa sản phẩm đó. Khi sản phẩm có chỉ dẫn địa lý là một địa danh nổi tiếng với
mặt hàng đó thì chắc chắn người tiêu dùng sẽ tin tưởng lựa chọn sản phẩm đó
hơn các sản phẩm khác cùng loại, bởi vì những sản phẩm ở địa phương đó sẽ
có chất lượng vượt trội hơn nhờ điều kiện địa lý, kinh nghiệm lâu đời về sản
xuất sản phẩm của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng
với chỉ dẫn địa lý đó. VD: Lụa Hà Đông, vải tơ Nam Định.
* Các yếu tố khác:
- Nhạc hiệu

VD:
- Vinamilk có: Sữa chua uống, sữa tươi, sữa bột.
- Toshiba có tivi, tủ lạnh, máy giặt, máy điều hòa. Và một loạt các thương
hiệu gia đình ví dụ như: LG, Honda, Samsung
Thương hiệu gia đình mang tính khái quát cao và đại diện cho tất cả các
loại hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp tạo ra. Nhờ đó mà các thuộc tính về
chất lượng, giá trị cảm nhận của khách hàng đối với các sản phẩm do doanh
nghiệp sản xuất ra trước đây sẽ được dịch chuyển vào các sản phẩm mới trong
quá trình phát triển, mở rộng danh mục sản phẩm. Sản phẩm mới có thể thâm
nhập thị trường và sớm được người tiêu dùng chấp nhận mà chi phí bỏ ra để
giới thiệu, quảng bá sản phẩm sẽ được giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên Thương
hiệu gia đình cũng có mặt trái của nó, nếu một sản phẩm có chất lượng không
tốt thì nó có thể làm ảnh hưởng đến toàn bộ các sản phẩm còn lại mang chung
thương hiệu gia đình với sản phẩm đó.
1.2.3. Thương hiệu tập thể (thương hiệu nhóm)
9
Thương hiệu tập thể là thương hiệu của một nhóm hay một số chủng loại
hàng hóa nào đó, có thể do một cơ sở sản xuất hoặc do các cơ sở khác sản
xuất và kinh doanh. Các cơ sở sản xuất hưởng lợi từ thương hiệu tập thể
nhưng thương hiệu đó không thuộc về bất kỳ một cơ sở sản xuất nào mà nó
được xem như tài sản chung. VD: Nước mắm Phú Quốc, Nhãn lồng Hưng
Yên, Vải thiều Thanh Hà Thương hiệu tập thể có đặc điểm giống thương
hiệu gia đình ở tính khái quát và đại diện cao, nhưng điểm khác biệt cơ bản là
Thương hiệu tập thể thường gắn với các chủng loại hàng hóa của nhiều doanh
nghiệp khác nhau trong một liên kết kỹ thuật nào đó. Tính đại diện được phát
triển chủ yếu theo chiều sâu hơn là theo chiều rộng của phổ hàng hóa.
1.2.4. Thương hiệu quốc gia:
Thương hiệu quốc gia là tập hợp các liên tưởng và nhận thức của cộng đồng
về hình ảnh và bản sắc của một quốc gia. Đặc điểm của Thương hiệu quốc gia
thường có tính khái quát và trừu tượng rất cao, không bao giờ đứng độc lập, luôn

nhau, những chi phí đó tạo nên giá trị của thương hiệu. Lợi nhuận và tiềm
năng mà doanh nghiệp có được nhờ sự nổi tiếng của thương hiệu sẽ quy định
giá trị tài chính của thương hiệu.
Hàng năm tạp chí Business Week tiến hành định giá và xếp loại 100 thương
hiệu đứng đầu thế giới với các giá trị ước tính của chúng.
11
2009
Rank
2008
Rank
Brand
Country of
Origin
Sector
2009
Brand
Value
($m)
Change in
Brand
Value
1 1 United States Beverages 68,734 3%
2 2 United States Computer Services 60,211 2%
3 3 United States Computer Software 56,647 -4%
4 4 United States Diversified 47,777
-
10%
5 5 Finland Consumer Electronics 34,864 -3%
6 8 United States Restaurants 32,275 4%
7 10 United States Internet Services 31,980 25%

nghiên cứu cũng cho thấy khách hàng quyết định mua hàng hóa không chỉ vì
chất lượng, mẫu mã hay giá cả phải chăng mà còn do cảm giác phù hợp đã
được hình thành trước đó giữa hình ảnh của sản phẩm và hình ảnh của chính
bản thân khách hàng.
- &'($)$*+,* $%
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, số lượng chủng
loại hàng hóa, mẫu mã hàng hóa ngày một đa dạng phong phú góp phần tạo
điều kiện cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm nhưng
cũng lại đặt ra một vấn đề mới đó là “sự nhiễu loạn thông tin” về hàng hóa.
Người tiêu dùng lại gặp phải khó khăn đó là mua gì cho phù hợp với mục
đích tiêu dùng của mình và sản phẩm đó có đảm bảo hay không. Thương hiệu
chính là tín hiệu đảm bảo chất lượng của sản phẩm, tạo cảm giác yên tâm khi
13
sử dụng một sản phẩm nào đó. Đặc biệt là các sản phẩm mà phẩm cấp và chất
lượng của nó không dễ dàng đánh giá, phân biệt.
- ./01""(
Mối quan hệ giữa thương hiệu với khách hàng có thể được xem như một cam
kết, lời hứa có giá trị. Khách hàng đặt niềm tin và sự trung thành của mình
vào thương hiệu và ngầm hiểu rằng sản phẩm mang thương hiệu đó sẽ mang
lại lợi ích cho họ thông qua các thuộc tính của sản phẩm, giá cả phù hợp,
Điều này có nghĩa là thương hiệu có thể làm giảm rủi ro cho người tiêu dùng
khi quyết định mua và sử dụng một sản phẩm nào đó. Các rủi ro mà khách
hàng thường gặp phải bao gồm: Rủi ro chức năng (sản phẩm không được như
mong muốn), rủi ro vật chất (sản phẩm đe dọa hoặc ảnh hưởng không tốt đến
sức khỏe của người sử dụng hoặc của những người khác), rủi ro tài chính (sản
phẩm không tương xứng với số tiền đã trả), rủi ro xã hội (sản phẩm không
phù hợp với văn hóa, tín ngưỡng hoặc chuẩn mực đạo đức xã hội), rủi ro thời
gian (sản phẩm không tốt nên mất thời gian để mua sản phẩm khác).
- 2/3 1#45$6
Một sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng làm cho khách hàng tin tưởng vào

dàng tiêu thụ sản phẩm với giá cạnh tranh và có thể thực hiện một chính sách
giá phân biệt trên thị trường.
Mặt khác tên nhãn giúp người bán xử lý các đơn đặt hàng và phát hiện ra các
vấn đề được dễ dàng hơn; việc theo dõi các đơn hàng cũng được thuận tiện hơn
và khi có hàng hóa bị lạc địa chỉ hoặc khi có khách hàng khiếu nại về các vấn đề
có liên quan đến sản phẩm thì cũng nhanh chóng tìm hiểu được nguyên nhân.
Những sản phẩm đã tạo được hình ảnh đ‹p trong khách hàng, thì chi phí
quảng cáo dành cho những sản phẩm này thường thấp hơn rất nhiều so với
các sản phẩm đang ở giai đoạn đầu tiên trong quá trình tạo dựng thương hiệu.
@7"21(!4.':/;A."
$"'!17B
15
Sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm của người tiêu dùng được
các nhà khoa học theo trường phái hành vi đánh giá căn cứ vào tần số mua
hàng của khách. Sự trung thành của khách hàng có nguồn gốc từ một thử
nghiệm ban đầu về sản phẩm và được tăng dần thông qua sự thỏa mãn dẫn
đến hành động mua lặp lại. Các sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng thường
được người mua lặp lại hành vi mua nhiều hơn.
Chính sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu hàng hóa tạo nền
tảng cho sự ổn định và phát triển thị phần. Khách hàng trung thành có thể coi
là một tài sản vô hình của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy những thương hiệu
lớn thường có tŒ lệ khách hàng trung thành cao hơn.
@''C7"$D-.E"32D7
1$"'B
Cạnh tranh là đặc trưng của nền kinh tế thị trường, là động lực của sự phát
triển. Cạnh tranh cũng là quá trình tạo dựng vị thế của doanh nghiệp trên
thương trường. Vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp rất đa dạng và phong
phú: tiềm lực tài chính, khoa học công nghệ, sản phẩm, giá, Thương hiệu
đang là một vũ khí cạnh tranh sắc bén được nhiều doanh nghiệp quan tâm.
Đây là một vũ khí cạnh tranh khó xây dựng nhưng nếu xây dựng thành công

hãng này cũng bị chỉ trích vì dù đã biết trước những lỗi về kỹ thuật đối với các
dòng xe kinh doanh tại Mỹ, nhưng không thông báo kịp thời và cũng không
làm gì để khắc phục. Kết quả là, Toyota đã phải chấp nhận trả cho Cục An toàn
giao thông quốc gia Mỹ số tiền phạt kŒ lục 16,4 triệu USD. Tuy nhiên, doanh
số của Toyota tại Mỹ vẫn không hề giảm mà thậm chí còn tăng 9,9% trong nửa
đầu năm 2010. Điều này phần lớn là do các sản phẩm có thương hiệu đã thiết
lập được một hình ảnh tốt trong tâm trí của người tiêu dùng.
@+I"*2<'E"7 #
1H,B
Công việc đầu tiên trong quá trình xây dựng thương hiệu mà DN cần làm đó
là tạo ra những dấu hiệu và sự khác biệt trên sản phẩm của mình. Thương
17
hiệu chính là thông điệp của sản phẩm tới khách hàng. Muốn xây dựng một
thương hiệu có ý nghĩa, phù hợp với thị hiếu và kỳ vọng của khách hàng trên
thị trường mục tiêu thì trước hết DN cần trả lời được những câu hỏi sau: Sản
phẩm có những thuộc tính gì? Thế mạnh của sản phẩm? những lợi ích mà
sản phẩm đem lại cho khách hàng là gì? và sản phẩm tương trưng cho cái
gì? Như vậy, việc gắn các nhãn hiệu khác nhau giúp cho nhà kinh doanh dễ
dàng hơn trong việc phân đoạn thị trường.
@/72/>H6I&EG
"H,B
Người lao động có trình độ luôn muốn làm việc ở những công ty có danh
tiếng, có chế độ đãi ngộ và tuyển dụng người tài hấp dẫn. Còn nhà đầu tư thì
muốn đầu tư vào những nơi có khả năng sinh lời cao và ít rủi ro. Qua những
lợi ích mà một thương hiệu đem lại cho một công ty, chúng ta có thể thấy, đa
số các công ty có thương hiệu đều đáp ứng đươc những yêu cầu và mong đợi
của người lao động và nhà đầu tư. Nên có thể nói thương hiệu mạnh là một
công cụ gọi vốn và thu hút nhân tài cho công ty.
1.3.3 Đối với quốc gia
@4.':/''CE",= *1+

Thương hiệu là một tài sản được đầu tư dài hạn. Doanh nghiệp có thể tính
giá trị thương hiệu dựa trên những chi phí cần thiết cho quá trình phát triển
thương hiệu. Tuy nhiên khi tính giá trị thương hiệu theo phương pháp này
doanh nghiệp cũng gặp phải một số khó khăn:
- Đối với những thương hiệu có quá trình tồn tại và phát triển lâu đời rất khó
thống kê được đầy đủ các khoản chi phí đã bỏ ra để xây dựng thương hiệu.
Nếu xác định được hết tất cả các khoản chi phí này thì lại gặp phải khó khăn
khi lượng hóa giá trị của chúng.
- Khó có thể xác định một cách rạch ròi các khoản chi phí có tác dụng kép
phần chi phí nào là để xây dựng thương hiệu, phần chi phí nào có tác dụng
khác. Ví dụ: chi phí kiểm tra chất lượng, chi phí hoàn thiện bộ máy tổ chức
19
- TŒ giá luôn biến động mạnh, đặc biệt là trong tình trạng bất ổn của nền
kinh tế và chính trị thế giới hiện nay, do đó để đưa ra được hệ số điều chỉnh
thích hợp là rất khó khăn.
Phương pháp này có nhược điểm khi đánh giá các thương hiệu thành công
không bằng những nỗ lực marketing trên thị trường mà nhờ chất lượng sản
phẩm cao, ổn định, chiến lược kinh doanh đúng đắn, sự phù hợp giữa sản
phẩm với nhóm khách hàng mục tiêu.
Tổng mức chi phí tính được nhưng hiệu quả thực sự mà chi phí đó đóng góp
cho thương hiệu thì không thể xác định được.
Phương pháp này chỉ thực sự hiệu quả đối với những thương hiệu mới hoặc
đang trong quá trình hình thành.
1.4.2 Phương pháp chi phí thay thế
Để khắc phục những khó khăn của phương pháp chi phí lịch sử, DN có thể
đặt mình trong điều kiện hiện tại và sử dụng tư duy thay thế trong cách tính
toán. Những yếu tố cần tạo ra là: sự nhận biết về thương hiệu, chất lượng
được cảm nhận, sự trung thành đối với thương hiệu, các liên hệ thương
hiệu Ngoài ra, DN cần phải chú ý đến khoảng thời gian cần thiết để tạo ra
thương hiệu. Chi phí để chuyển thời điểm trong tương lai về hiện tại thường

21
Hai yếu tố cuối cùng là tuổi của thương hiệu và vị trí cạnh tranh của thương
hiệu. Trường hợp tuổi của thương hiệu được giả thiết là các thương hiệu nhiều
tuổi hơn có nhận biết sản phẩm và bản quyền lớn hơn. Nghiên cứu cũng giả thiết
rằng các thuận lợi chiến lược đổ dồn cho những thương hiệu tiên phong.
Simon và Sullivan trình bày hai kỹ thuật cho việc đo giá trị thương hiệu của
một DN. Các phương pháp đó được nhận từ thị trường tài chính ước tính các
lợi nhuận liên quan đến thương hiệu. Trong phương pháp thứ nhất, Simon và
Sullivan phân tích giá trị tài sản vô hình của một Dn thành 3 yếu tố cấu thành:
giá trị cổ phần doanh nghiệp của thương hiệu; giá trị của các yếu tố không
phải thương hiệu, mà làm giảm các chi phí của công ty liên quan đến các đối
thủ cạnh tranh của nó; và giá trị của các yếu tố công nghiệp rộng rãi cho phép
nhận được các lợi nhuận độc quyền hoặc cạnh tranh siêu đẳng ( như là môi
trường thuận lợi). Trước tiên, họ đo giá trị vô hình của một công ty, rồi họ
liên hệ giá trị vô hình của công ty với ba cấu thành mô tả trên. Mục tiêu là để
tách biệt giá trị thành phần của thương hiệu khỏi các giá trị xác định bởi cơ
cấu công nghiệp hoặc thuận lợi chi phí.
Trong phương pháp thứ hai, Simon và Sullivan áp dụng phương pháp loại sự
kiện đối với các giá trị cổ phần cho các công ty riêng biệt xác định trên sự
kiện nằm ngang.
Ngoài ra còn có rất nhiều các phương pháp định giá thương hiệu khác, tuy
nhiên phải dựa vào những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp để
có thể tiến hành định giá một cách hợp lý nhất. Nếu điều kiện không cho phép
doanh nghiệp tự tiến hành định giá thì DN nên tham khảo ý kiến của các
chuyên gia, hay thuê các tổ chức định giá chuyên nghiệp để có thể có cái nhìn
đúng đắn về giá trị tài sản vô cùng quý giá của DN.
1.5. Kinh nghiệm quốc tế
1.5.1. Louis Vuitton
Nhắc đến thương hiệu thời trang nổi tiếng thế giới chắc hẳn chúng ta không
thể không nhắc tới Louis Vuitton. Louis Vuitton đã thành lập công ty này vào

23
nhiều nước châu Á khác đã xuất hiện thương hiệu danh giá này trên cơ sở hợp
đồng sử dụng li-xăng. Ngay cả ở Việt Nam, cũng có công ty ký kết được hợp
đồng này như công ty An Phước. Tùy từng loại hợp đồng mà Pierre Cardin
thu phí sử dụng li-xăng khác nhau, nhưng thông thường là từ 7-10% doanh
thu bán hàng. Càng những năm về sau, nguồn thu từ kinh doanh thương hiệu
càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu của Tập đoàn Pierre Cardin.
1.5.3. May mặc Trung Quốc
Theo thống kê Hải quan Trung Quốc, xuất khẩu dệt may nước này trong năm
2010 đã gia tăng 23,6% so với cùng kỳ năm 2009, đạt 206,53 tŒ USD, và tăng
11,2% trong năm 2008. Trung Quốc là nhà sản xuất và xuất khẩu hàng dệt
may lớn nhất thế giới và là nhà cung cấp hàng đầu thế giới về xơ hoá học, sợi,
vải, tơ tằm và hàng may mặc.
Hàng dệt may Trung Quốc len lỏi vào các thị trường thế giới với tốc độ và số
lượng lớn trong đó có Việt Nam. Hàng Trung Quốc có ưu điểm là mẫu mã đa
dạng, giá cả cạnh tranh. Trung Quốc đã có sự chuẩn bị cho ngành dệt may từ
nhiều năm trước khi gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), mà quan
trọng nhất là thành lập Trung tâm thiết kế thời trang. Vì thế, khi gia nhập
WTO họ đã có cả một đội ngũ thiết kế đủ mạnh để xây dựng những thương
hiệu riêng cho hàng hóa xuất khẩu cũng như bán trong nước.
Tuy nhiên, nhìn chung Trung Quốc chỉ là nhà cung cấp các sản phẩm có giá
trị thấp và trung bình. Nhiều nhà cung cấp Trung Quốc hướng về xuất khẩu,
gia công các sản phẩm cần nhiều lao động, phần lớn giành được lợi thế về giá
do có qui mô sản xuất lớn.
1.5.4. Bài học cho ngành May mặc Việt Nam
- Ngành May mặc cần chủ động kiểm soát được tất cả các khâu trong quá
trình sản xuất sản phẩm từ nguyên liệu đầu vào, thiết kế đến sản xuất và hoàn
thiện sản phẩm, đảm bảo chất lượng đồng bộ, loại bỏ các sản phẩm không đạt
tiêu chuẩn chất lượng. Điều làm nên các tên tuổi thời trang lớn đó chính là sự
độc đáo, sang trọng trong từng mẫu thiết kế và quy trình kiểm soát chặt chẽ

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status