TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ Đánh giá quy trình thiết kế đề thi trắc nghiệm khách quan tại Khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội Đại học Thái Nguyên - Pdf 26

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay chất lượng giáo dục đang trở thành mối quan tâm chung
của toàn xã hội, đặc biệt là chất lượng giáo dục đại học. Trong khi
nguồn lực tại các cơ sở đào tạo còn hạn chế, chưa đủ đáp ứng kịp
thời việc tăng nhanh quy mô và các loại hình đào tạo thì vấn đề chất
lượng đào tạo trong giáo dục đại học hiện đang là điểm nóng rất cần
được quan tâm.
Một trong những nội dung quan trọng nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục đại học chính là việc đổi mới phương pháp giảng dạy, trong
đó có việc đổi mới về phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập
của người học. Công cuộc đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường
đại học hiện nay đang được đặc biệt quan tâm, các giảng viên được
tập huấn về đổi mới phương pháp giảng dạy, các phương pháp kiểm
tra đánh giá, tuy nhiên hiệu quả chưa cao. Sử dụng ngân hàng câu
hỏi và thi trắc nghiệm khách quan hiện đang được các trường khuyến
khích, tuy nhiên đa số các câu hỏi trắc nghiệm khách quan do giảng
viên tự biên soạn chưa theo đúng quy trình, đặc biệt các câu hỏi sau
khi sử dụng không được phân tích, đánh giá nên các đề thi/ kiểm tra
hiện nay là chưa chuẩn và chất lượng không cao.
Trước tình hình như vậy, tôi chọn đề tài luận văn: “Đánh giá quy
trình thiết kế đề thi trắc nghiệm khách quan tại Khoa Khoa học
Tự nhiên và Xã hội (nay là trường Đại học Khoa học) – Đại học
Thái Nguyên”. Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu cần
thiết góp phần vào quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả của
việc biên soạn và thiết kế đề thi trắc nghiệm khách quan tại đơn vị,
đồng thời giúp đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng của
giảng viên trong việc thiết kế câu hỏi.
2
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

• Các giảng viên có nắm được quy trình thiết kế đề thi TNKQ?
• Đề thi của các giảng viên có đáp ứng yêu cầu kiểm tra đánh
giá thành quả học tập hay không?
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6.1. Khách thể nghiên cứu
• Các giảng viên đang giảng dạy tại Trường và đang áp dụng
hình thức thi TNKQ cho các kỳ thi của Nhà trường.
• Các bài thi TNKQ (kết quả thi TNKQ của sinh viên).
6.2. Đối tượng nghiên cứu
• Nghiên cứu cách thức, quy trình thiết kế đề thi TNKQ của
các giảng viên trong Trường hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nghiên cứu lý thuyết
• Nghiên cứu các tài liệu về đo lường đánh giá trong giáo dục.
7.2. Nghiên cứu thực nghiệm
• Quan sát: quan sát quá trình thực hiện đổi mới KTĐG của
giảng viên, quá trình thử nghiệm xây dựng ngân hàng câu hỏi
TNKQ.
• Điều tra: bằng phiếu hỏi và phỏng vấn để tìm hiểu quy trình
thiết kế đề thi TNKQ của các giảng viên trong Trường.
• Phân tích và tổng kết kinh nghiệm
7.3. Phương pháp Toán học
• Sử dụng phần mềm SPSS phân tích số liệu thống kê.
• Sử dụng phần mềm chuyên dụng Quest, ConQuest.
8. Cấu trúc của luận văn
Mở đầu
4
Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan.
Chương 2. Thực trạng quy trình thiết kế đề thi TNKQ tại trường
Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên.

Bước 7: Phân tích câu hỏi và bài thi
Bước 8: Xem lại câu hỏi thi lần 2
Bước 9: Chỉnh sửa câu hỏi
Bước 10: Tập hợp các câu hỏi thi
1.4.2. Ngân hàng câu hỏi TNKQ
1.5. Kỹ thuật xây dựng các câu hỏi TNKQ
1.5.1. Loại đúng – sai (True or False)
1.5.2. Loại ghép đôi (Matching items)
1.5.3. Loại điền khuyết (Supply item)
1.5.4. Loại nhiều lựa chọn (Multi choice questions)
1.5.5. So sánh trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
1.6. Phân tích đánh giá câu hỏi và bài trắc nghiệm khách quan
1.6.1. Mục đích phân tích câu hỏi và bài trắc nghiệm khách quan
1.6.2. Phương pháp phân tích câu hỏi theo lý thuyết khảo thí hiện
đại
1.6.3. Một số yêu cầu thống kê đối với câu hỏi và bài TNKQ
• Độ khó và độ phân biệt của câu trắc nghiệm
• Độ tin cậy
• Độ giá trị
• Độ phù hợp với mô hình của bài trắc nghiệm khách quan
1.7. Kết luận chương 1
Trong chương 1 đã trình bày các vấn đề sau:
- Khái quát các vấn đề nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam;
6
- Một số vấn đề lý luận cơ bản về đo lường và đánh giá trong
GD;
- Quy trình xây dựng đề thi TNKQ;
- Các kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ;
- Cách phân tích đánh giá câu hỏi và bài thi TNKQ.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUY TRÌNH THIẾT KẾ ĐỀ THI

Có nhiều GV không xác định rõ mục tiêu của đề thi/ kiểm tra
trong học phần đã dạy. Nói cách khác, các GV thường không lập
bảng trọng số về mục tiêu kiến thức và nội dung của học phần để ra
đề thi, dẫn đến có những nội dung đề cập nhiều và ngược lại, làm ảnh
hưởng đến độ giá trị của đề thi.
Phỏng vấn sâu các GV được biết, họ ít khi xác định mục tiêu đánh
giá và xây dựng bảng trọng số trước khi viết câu hỏi thi, các GV cho
rằng điều đó là không cần thiết vì trong quá trình dạy học và biên
soạn đề họ đã biết được phần nào quan trọng hơn. Có nhiều GV cho
rằng, việc xây dựng bảng trọng số chỉ cần thiết đối với các GV trẻ, ít
kinh nghiệm.
• Về độ bao phủ, độ khó, độ phân biệt, độ tin cậy, độ giá trị
và thời gian thi, kiểm tra.
Trong các bài thi kiểm tra, các câu hỏi thường ở mức độ nhận
thức biết và hiểu là chính, câu hỏi ở mức độ vận dụng ít, nhưng lại có
những bài thi có ít câu hỏi lại thường đánh giá người học ở mức độ
vận dụng nhiều. Bởi vậy việc ĐGKQHT chưa thật sự khoa học và
công bằng, đồng thời độ chính xác là không cao. Bài thi với những
câu hỏi ở mức độ vận dụng mà không có câu hỏi ở mức độ biết và
hiểu, nếu sinh viên đạt kết quả không cao thì chúng ta không đánh giá
chính xác khả năng và năng lực của sinh viên có đạt mục tiêu về kiến
8
thức và kỹ năng của học phần đề ra hay không? Nếu GV thiết kế các
câu hỏi chỉ đo mức độ nhớ và hiểu thì nếu sinh viên nào học tủ hoặc
học theo kiểu ghi nhớ máy móc thì sẽ được điểm cao, các sinh viên
học theo kiểu tư duy lại chỉ được điểm trung bình.
Theo kết quả điều tra có nhiều GV nhận thức rằng việc biên soạn
đề thi TNKQ sẽ cho kết quả đánh giá khách quan và công bằng, tuy
nhiên vì những lý do khác nhau mà GV vẫn hiếm khi sử dụng
phương pháp TNKQ để đánh giá KQHT của sinh viên.

cần phải thiết kế các đề thi TNKQ…
Có những GV mặc dù đã tự nghiên cứu về xây dựng đề thi
TNKQ, nhưng do chưa có kinh nghiệm thiết kế nên họ không chắc
chắn vào chất lượng biên soạn đề thi của mình.
• Về thang điểm của đề thi.
Theo kết quả điều tra các GV cho rằng, với các câu hỏi tự luận,
câu hỏi vấn đáp GV thường cho điểm cả câu, còn các ý và các chi tiết
trong câu hỏi, GV cho điểm tùy theo nội dung bài làm của SV và tâm
trạng của GV khi chấm thi. Nếu điểm của cả lớp tương đối thấp thì
SV chỉ viết hoặc trả lời đúng ý cũng có thể đạt được một số điểm
nhất định mà chưa cần phân tích, bình luận. Còn nếu điểm của cả lớp
tương đối cao thì SV sẽ không được điểm cao nếu không phân tích và
bình luận ý đó. Mặt khác, với cùng một bài thi nhưng hai GV chấm
thi khác nhau có thể cho kết quả khác nhau. Điều này dẫn đến sự
thiếu khách quan và công bằng.
Như vậy, qua các phân tích ở trên chúng ta có thể thấy rằng với
quy trình thiết kế đề thi TNKQ như hiện nay ở phần lớn các khoa bộ
môn trong trường ĐHKH sẽ không đánh giá chính xác được năng lực
của SV.
10
2.3.3. Thực trạng phân tích và xử lý kết quả thi
• Phân tích kết quả thi
Kết quả điều tra cho thấy rằng khoảng 34% GV cho rằng họ có
phân tích câu hỏi thi sau khi chấm bài và 66% không phân tích. Đây
là một điều rất đáng quan tâm vì sau khi chấm thi hầu như các GV
không bao giờ quan tâm xem đề thi của mình có phù hợp với mục
tiêu của học phần đề ra hay không? Có bao phủ nội dung chương
trình đào tạo? Có đảm bảo khách quan công bằng và phù hợp với
năng lực của SV không? Thực trạng này cho thấy việc ra đề và việc
kiểm tra đánh giá cho SV còn nhiều bất cập.

Theo kết quả thi TNKQ, học phần Xã hội học đại cương với 60
câu hỏi MCQ với thời gian thi là 60 phút (xem thông tin chi tiết trong
Phụ lục 2.2) với một lớp 50 thí sinh. Trung bình thời gian trả lời câu
hỏi là 1phút/ 1câu. Theo kết quả thu được, có 26% sinh viên đạt điểm
dưới trung bình và 66% sinh viên đạt điểm trung bình. Có 2 sinh viên
đạt điểm thấp nhất là 3 điểm và có 4 sinh viên đạt điểm cao nhất là 7
điểm. Như vậy có thể thấy rằng đề thi này không phù hợp so với
năng lực của sinh viên. Điều này phù hợp với thông tin thu được khi
tiến hành phỏng vấn sâu sinh viên, các sinh viên đều cho rằng đề thi
này không khó lắm tuy nhiên nội dung quá nhiều, thời gian làm bài
không đủ. Có thể kết luận rằng thời gian thi không phù hợp với số
lượng và nội dung của câu hỏi thi. Với những sinh viên có năng lực
cao chỉ làm được 70% số lượng câu hỏi thi đã hết thời gian làm bài.
• Đề thi học phần Giải tích A1:
Với 20 câu hỏi TNKQ dạng MCQ, đề thi học phần Giải tích A1 có
thời gian làm bài là 90 phút (xem thông tin chi tiết tại phụ lục 2.3).
12
Kết quả phân tích cho thấy đa số sinh viên cho rằng đây là đề thi vừa
phải, tuy nhiên do thời gian làm bài tương đối nhiều (90 phút) nên
hầu hết sinh viên làm được hết các câu hỏi của bài thi. Điều này cho
thấy thời gian thi không cân đối với độ khó và số lượng câu hỏi (4,5
phút/1 câu).
Có 60% sinh viên đạt điểm khá (7 đến 8 điểm), 18% sinh viên đạt
điểm giỏi (9 đến 10 điểm) và chỉ có 22% sinh viên đạt điểm trung
bình (5 và 6 điểm). Điểm thấp nhất của sinh viên trong học phần này
là 5 điểm và điểm cao nhất là 10 điểm. Kết quả trên cho thấy đề thi
có quá nhiều câu dễ cho nên không đánh giá được năng lực của các
sinh viên khá giỏi và không phân loại được sinh viên.
• Phân tích đề thi TNKQ của học phần “Khoa học môi trường
đại cương” bằng lý thuyết khảo thí hiện đại:

thi còn chưa phù hợp với chương trình học (về nội dung, độ khó, thời
gian thi…).
- Các đề thi được biên soạn phần lớn dựa theo kinh nghiệm chủ
quan cá nhân chứ chưa đúng theo quy trình.
- Chưa chú trọng đến chất lượng của đề thi.
Với thực trạng trên, để nâng cao hiệu quả của việc thiết kế đề thi
TNKQ tại đơn vị, cần có các biện pháp cụ thể để khắc phục. Qua
thăm dò ý kiến của các GV, họ đều mong muốn nhà trường bồi
dưỡng kiến thức về việc biên soạn các đề thi TNKQ, việc phân tích
và xử lý kết quả thi TNKQ.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUY TRÌNH THIẾT KẾ ĐỀ THI TNKQ TẠI TRƯỜNG ĐHKH
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp
14
3.2. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quy trình thiết kế đề thi
TNKQ tại đơn vị
Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi đề xuất một số biện pháp
sau:
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của GV về tầm quan trọng
của việc KTĐG thông qua hình thức thi TNKQ.
Biện pháp 2: Bồi dưỡng GV về quy trình và kỹ thuật xây dựng
đề thi TNKQ, cách xử lý kết quả thi.
Biện pháp 3: Tổ chức cho GV tự xây dựng và thử nghiệm đề
thi TNKQ cho SV.
3.3. Tổ chức thử nghiệm biện pháp
Tiến trình thử nghiệm cụ thể như sau:
Thứ nhất: Nâng cao nhận thức của GV về tầm quan trọng của
việc KTĐG thông qua hình thức thi TNKQ (biện pháp 1):
Thứ hai: Bồi dưỡng GV về quy trình và kỹ thuật xây dựng đề thi
TNKQ, cách xử lý kết quả thi (biện pháp 2).

- Với số lượng 50 câu hỏi cho thấy số lượng câu hỏi vừa đủ lớn để
đảm bảo độ tin cậy và hợp lý.
- Số lượng câu hỏi đã phân bố đều cho tất cả các chương và ở tất
cả các mục tiêu cần đánh giá. Sinh viên không thể xem nhẹ phần nào,
không thể học tủ, học lệch.
- Số lượng câu hỏi trên phạm vi kiến thức rộng nên sinh viên
không có cơ hội và thời gian quay cóp hoặc trao đổi bài trong khi thi.
- Đề phát ra cho SV, không cho SV nhìn bài và trao đổi.
- Thời gian làm bài trung bình 1,2 phút/ 01 câu.
- Câu trả lời đúng tính theo thang điểm quy định, câu trả lời sai 0
điểm.
16
Phân tích, đánh giá câu hỏi và bài thi trắc nghiệm
Sau khi thu lại toàn bộ bài làm của thí sinh, chúng tôi tiến hành
làm các bước sau:
- Nhập số liệu vào SPSS.
- Làm sạch số liệu: kiểm tra lại xem có nhập sai hoặc bỏ sót số
liệu hay không.
- Lựa chọn phần mềm chuyên dụng: Sử dụng phần mềm QUEST.
Phân tích dữ liệu bằng mô hình Rasch: Sau khi sử dụng phần mềm
Quest, ta có các báo cáo thống kê về đặc tính của bài test như sau:
a. Độ phù hợp với mô hình của các câu hỏi và độ tin cậy của bài
test.
- Độ phù hợp với mô hình:
Một trong những dẫn chứng quan trọng để nói rằng bộ câu hỏi do
các GV biên soạn là tốt khi xác định được tất cả các câu hỏi đều tạo
thành một cấu trúc. Kết quả phân tích bằng phần mềm Quest dựa trên
mô hình Rasch cho thấy tất cả các câu hỏi đều có Infit MNSQ nằm
trong khoảng từ 0.77 đến 1.30.
Kiểm tra sự phù hợp trong thống kê với mô hình Rasch của các

Những câu có độ khó P < 40% là những câu trắc nghiệm khó,
trong đề thi có 6 câu, chiếm 12% (là các câu 4, 22, 27, 32, 37, 39).
Những câu có độ khó < 20% là những câu rất khó, chỉ dùng để đo
thí sinh có năng lực cao, trong đề thi có 2 câu là câu 14 và 41 (tương
ứng với P = 15.3% và P = 10.2%).
Bước 8: Xem lại câu hỏi thi lần 2: Khi có số liệu phân tích cần
kiểm tra lại các câu hỏi xem có vấn đề gì không? Nếu do câu hỏi
chưa tốt cần chỉnh sửa hoặc loại bỏ.
Bước 9: Chỉnh sửa câu hỏi:
18
Xác định những câu hỏi cần sửa chữa và đề xuất cách sửa:
Dựa vào độ phân biệt:
Dựa vào độ phân biệt (Disc) xác định những câu hỏi cần sửa chữa
sau:
Disc < 0.2: có 8 câu (chiếm 16%)
Các câu này phần lớn rơi vào các câu khó hoặc rất khó, để lập
ngân hàng đề thi cũng cần phải sử dụng các câu hỏi này nên không
cần loại bỏ.
a. Dựa vào độ khó của câu hỏi:
Phân tích độ khó của câu trắc nghiệm cho ta thấy giá trị P của mỗi
câu chưa khẳng định được câu hỏi đó tốt hay không, nhưng nó nói
lên độ khó tương đối của câu hỏi đó đối với số thí sinh tham gia làm
bài trắc nghiệm.
Những câu có độ khó < 20% là những câu rất khó, chỉ dùng để đo
thí sinh có năng lực cao, trong đề thi có 2 câu là câu 14 và 41 (tương
ứng với P = 15.3% và P = 10.2%).
Như đã phân tích ở trên nên các câu hỏi quá khó hoặc quá dễ đều
có thể giữ lại vì để đo thí sinh có năng lực khác nhau. Do vậy các câu
hỏi trong bộ đề trên nhìn chung là đảm bảo yêu cầu về độ khó nên
không cần chỉnh sửa.

3.4. Đánh giá chung của GV về tính khả thi và hiệu quả của các
biện pháp đã triển khai
Sau khi thử nghiệm, so sánh đề thi TNKQ thử nghiệm với đề thi
TNKQ do GV tự thiết kế trước đây, chúng tôi đã tiến hành khảo sát
lấy ý kiến của GV về tính khả thi đối với việc áp dụng quy trình
chuẩn để thiết kế đề thi TNKQ, kết quả thu được:
20
100% giảng viên cho rằng cần phải có một quy trình chuẩn để
biên soạn và thiết kế đề thi TNKQ;
100% giảng viên cho rằng cần phải được tập huấn đầy đủ và được
thử nghiệm thiết kế đề thi;
92% giảng viên cho rằng cần phải xác định đúng mục đích của kỳ
thi/ kiểm tra và cần phải xây dựng bảng trọng số khi thiết kế đề thi
TNKQ;
74% giảng viên khẳng định kỹ năng thiết kế đề thi TNKQ của họ
được nâng lên rõ rệt sau khi được tập huấn;
70% giảng viên cho rằng họ có thể tự xây dựng đề thi TNKQ cho
các học phần mà họ giảng dạy theo quy trình chuẩn được tập huấn;
35% giảng viên cho rằng việc phân tích đề thi là rất cần thiết và
phải được thực hiện liên tục;
100% giảng viên trong Khoa Sinh học cho rằng: đề thi TNKQ
được xây dựng theo quy trình chuẩn vừa được thử nghiệm đã đảm
bảo được yêu cầu thống kê như đã phân tích ở trên; bảo đảm bao
trùm nội dung môn học mà giảng viên giảng dạy, có khả năng chống
được hiện tượng học tủ, học lệch, gian lận trong thi cử; đề thi có thời
gian hợp lý, phù hợp với trình độ của sinh viên và đảm bảo được tính
khách quan, công bằng khi chấm thi;
Đa số các giảng viên cho rằng, sử dụng đề thi TNKQ để kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của sinh viên là hợp lý nếu đề thi được thiết
kế theo đúng quy trình chuẩn, được thử nghiệm kỹ càng.

đánh giá; các phương pháp và kỹ thuật xây dựng công cụ ĐLĐG
thông qua hình thức TNKQ; quy trình xây dựng và thiết kế một đề thi
22
TNKQ chuẩn cũng như cách phân tích, xử lý và đánh giá một bài trắc
nghiệm.
1.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn đã làm sáng tỏ thực trạng quy trình thiết kế đề thi
TNKQ tại trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên, từ đó có
thể rút ra một số kết luận sau:
- Thực trạng biên soạn, thiết kế đề thi TNKQ tại đơn vị còn rất
nhiều bất cập, chưa đảm bảo độ tin cậy do nhiều lý do khác nhau: đề
thi được thiết kế chưa đảm bảo chất lượng do GV chưa có hoặc thiếu
kinh nghiệm ra đề. GV ít khi xác định mục tiêu đánh giá hoặc chưa
phù hợp với mục tiêu đề ra. Việc xây dựng bảng trọng số chưa hợp lý
và chưa được coi trọng đúng mức. Đề thi chưa bao phủ hết nội dung
chương trình đào tạo, thậm chí vẫn có những đề thi không phù hợp
mục tiêu đề ra.
- Kết quả điều tra cũng cho thấy thực trạng hiện nay ở trường
ĐHKH là phần lớn giảng viên sau khi ra đề, chấm thi xong hầu như
không phân tích và xử lý kết quả thi. Đồng thời, có nhiều GV chưa
được bồi dưỡng về việc biên soạn đề thi TNKQ cũng như cách phân
tích, xử lý kết quả thi. Họ cũng mong muốn nhà trường tổ chức tập
huấn bồi dưỡng cho họ về vấn đề này.
Từ thực trạng trên chúng tôi thấy rằng cần phải có những biện
pháp cụ thể để nâng cao chất lượng biên soạn và thiết kế đề thi
TNKQ, góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo trong Nhà
trường.
Với thực trạng trên, Luận văn đã đề xuất 3 biện pháp nhằm nâng
cao chất lượng cũng như hiệu quả của việc thiết kế đề thi TNKQ và
đã tiến hành thử nghiệm thành công.

làm tăng thêm tính hiệu quả và tính khả thi. Thông qua các biện pháp
cũng giúp cho GV xem xét lại chương trình mục tiêu, các nội dung
chính, từ đó có sự điều chỉnh bổ sung phù hợp nhằm nâng cao chất
lượng giảng dạy.
Với những kết quả thu được, luận văn có thể khẳng định rằng đây
là các biện pháp mà các giảng viên có thể sử dụng nhằm nâng cao
chất lượng biên soạn và thiết kế đề thi TNKQ, đồng thời, luận văn
cũng khẳng định việc vận dụng các biện pháp này là hoàn toàn khả
thi và đã mang lại hiệu quả tốt.
Từ kết quả thử nghiệm có thể khẳng định rằng luận văn đã thực
hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và giả thuyết bước đầu đã
được kiểm nghiệm.
2. KIẾN NGHỊ
Từ những kết luận đã nêu trên, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị
sau để nâng cao hiệu quả biên soạn và thiết kế đề thi TNKQ tại đơn
vị như sau:
1. Tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên và sinh viên
về tầm quan trọng của việc KTĐG thông qua hình thức thi TNKQ.
2. Tạo điều kiện cho GV học tập bồi dưỡng về phương pháp TNKQ,
lý thuyết khảo thí hiện đại nói riêng và lý thuyết đánh giá nói
chung, qua đó hình thành đội ngũ GV có trình độ kiến thức, kỹ
năng và kinh nghiệm trong lĩnh vực khoa học mới này.
3. Trường nên có kế hoạch đầu tư cho các giảng viên trong việc xây
dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ, tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn
về thiết kế đề thi để nâng cao hiệu quả chất lượng thiết kế đề thi
TNKQ cho GV và cách phân tích các kết quả thi một cách nghiêm
túc và khoa học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status