ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐOÀN THỊ DUYÊN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG
CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN QUẢNG NGÃI
HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN LONG
HÀ NỘI - 2012
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã
hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi
ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ
văn hoá, kinh tế, v.v… trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt là toàn cầu hóa
về kinh tế. Một mặt, tạo cơ hội cho những tổ chức, cá nhân có năng lực
phát huy được tiềm năng của mình, đem lại lợi ích cho cá nhân và cho
cả xã hội. Mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế cũng đem đến tác động tiêu
cực trong phát triển ổn định, bền vững nhất là đối với những nước đang
phát triển như Việt Nam. Đó là việc đặt mục tiêu kinh tế và lợi nhuận
lên trên hết, làm giàu bất chính bằng bất cứ giá nào. Điều đó, góp phần
làm băng hoại nền đạo đức xã hội, làm cho quan hệ giữa người với
người trở nên lạnh lùng, xa lạ, "không tình, không nghĩa" và đây thực
sự là một nguy cơ của sự suy thoái đạo đức, lối sống con người Việt
Nam hiện nay. Biểu hiện thông qua, lối sống sùng bái vật chất, cá nhân,
vị kỷ, thực dụng, đua đòi, ăn chơi xa hoa, lãng phí, sống truỵ lạc, thác
loạn, ưa dùng bạo lực Lối sống đó đang phần nào tác động đến một
giáo dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên tài chính - kế toán
góp phần vào sự phát triển ổn định, bền vững của nền kinh tế nước nhà.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn làm sáng tỏ, vai trò, nội dung, thực trạng của công tác
giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường CĐTCKT Quảng Ngãi, từ đó đề
xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác
giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường CĐTCKT Quảng Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên thì luận văn có nhiệm vụ làm rõ: Đạo
đức và vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường CĐTCKT
Quảng Ngãi; Thực trạng, nội dung đạo đức và giáo dục đạo đức cho
sinh viên Trường CĐTCKT Quảng Ngãi; Đề xuất các giải pháp nhằm
4
nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường CĐTCKT
Quảng Ngãi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng:
Sinh viên đang học tập tại Trường CĐTCKT Quảng Ngãi
- Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường
CĐTCKT Quảng Ngãi hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục và giáo dục
đạo đức cho sinh viên Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp một số
chỉnh hành vi con người, nhân loại bao giờ cũng cần đến đạo đức. Từ
cổ đại đến hiện đại, từ phương Đông đến phương Tây, không lúc nào
vắng bóng hay thiếu sự hiện diện của đạo đức. Khoa học - kỹ thuật
càng phát triển, xã hội càng tiến bộ nhân loại càng cần đến đạo đức.
Do vậy, “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã
hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã
hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con
người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội.”
1.1.2. Chức năng của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội góp phần quan trọng xây
dựng mối quan hệ giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội. Chức
năng của đạo đức là giúp con người nhận thức, giáo dục và điều chỉnh
suy nghĩ, hành động phù hợp với những yêu cầu xã hội. Nhờ vậy con
người tự giác tuân theo những quy tắc, chuẩn mực trong xã hội. Đạo
đức còn có vai trò to lớn giúp con người sáng tạo hạnh phúc và giữ gìn,
bảo vệ cuộc sống tốt đẹp của xã hội và phẩm giá con người. Những giá
6
trị đạo đức cao cả có sức rung cảm sâu sắc làm thức tỉnh những tình
cảm cao đẹp và lâu bền trong tâm hồn con người. Đạo đức xã hội chủ
nghĩa chẳng những có ý nghĩa nâng cao lòng tin của con người vào
cuộc sống, nâng cao tính tích cực của họ, mà bản thân nó cũng là sự
biểu hiện lòng tin của con người và xã hội. Vì vậy trong quản lý xã hội
cần có sự quan tâm đúng mức của chức năng đạo đức: Chức năng giáo
dục; Chức năng điều chỉnh hành vi; Chức năng nhận thức.
1.2. Giáo dục đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên
1.2.1. Giáo dục đạo đức
Theo C.Mác, giáo dục đạo đức, nghĩa rộng đó là sự hình thành đạo
đức, không quy giản chỉ về việc truyền đạt, dạy dỗ những nguyên tắc,
những chuẩn mực xã hội, những cách thức ứng xử giữa người và người
theo những yêu cầu nhất định. C.Mác đặc biệt chú ý đến việc tạo ra
đang theo học tập trung chuyên nghiệp tại các trường Đại học và Cao
Đẳng trong phạm vi cả nước, có sự phát triển hoàn chỉnh về mặt sinh
lý, và sự thành thục mang tính tương đối về mặt tâm lý.
- Đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên
Trước tiên là giai đoạn biến đổi sinh lý của sinh viên: Đây là
giai đoạn phát triển đỉnh cao của quá trình sinh trưởng và phát triển của
con người nói chung, giai đoạn này rơi vào khoảng từ 17 đến 20 tuổi.
Đây là giai đoạn hình dạng cơ thể, cơ bắp, xương cốt đều biến đổi
nhanh chóng. Xét từ góc độ phát triển sinh lý, thì đây chính là giai đoạn
phát triển mang tính ổn định của quá trình sinh trưởng từ hình dạng cơ
thể đến các hệ thống các cơ quan nội tạng và cơ năng. Vì thế sự phát
triển sinh lý của sinh viên không chỉ đem lại cho họ tiền đề sinh lý tất
yếu để họ sinh hoạt và học tập độc lập, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến
phát triển tâm lý, khiến họ tăng cường cảm giác đã là người lớn, nên
yêu cầu độc lập tự chủ rất mạnh mẽ, tinh thần hăng hái, muốn biểu thị
năng lực của mình.
Thứ hai là giai đoạn biến đổi tâm lý của sinh viên, trên cơ sở của
sự phát triển sinh lý thì sự biến đổi về mặt tâm lý của sinh viên cũng
diễn ra hết sức nhanh chóng, họ có những nhận thức nhất định về xã hội
8
và cuộc sống, họ đưa ra những nhận định rất “người lớn” về cuộc sống
xung quanh họ và các mối quan hệ khác bên ngoài xã hội thông qua: Sự
phát triển về trí năng; Sự phát triển về tình cảm; Sự tự ý thức về bản
thân; Ý thức giới tính phát triển.
1.2.3.2. Vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên
Giáo dục đạo đức cho sinh viên có vai trò tạo dựng sự ổn định trật
tự lâu dài của xã hội. Bảo đảm tính chất và định hướng của nhà trường
xã hội chủ nghĩa. Giáo dục đạo đức cho sinh viên có vị trí hàng đầu và
chủ đạo trong giáo dục ở nhà trường bởi nó giữ vai trò định hướng cuộc
sống, duy trì được các giá trị đạo đức mà những thế hệ trước đã tạo ra
Đại học Tài chính - Kế toán vào ngày 13/07/2011 đáp ứng nhu cầu mở
rộng đào tạo nguồn nhân lực không chỉ chủ yếu cho khu vực Miền
Trung và Tây Nguyên mà là đào tạo nguồn lực Tài chính - Kế toán
trong phạm vi toàn quốc. Đây là cơ sở đào tạo Công lập thuộc Bộ Tài
10
chính nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ đào tạo và
bồi dưỡng cán bộ có trình độ Đại học, Cao đẳng và các trình độ thấp
hơn trong lĩnh vực kinh tế, tài chính - tiền tệ, kế toán, quản trị kinh
doanh, hệ thống thông tin quản lý, tiếng Anh; thực hiện nghiên cứu
khoa học trên lĩnh vực kinh tế - tài chính - kế toán, phục vụ nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội
Trường CĐTCKT hiện có 4.542 sinh viên. Sinh viên của Trường
đến từ khắp mọi miền của Tổ quốc nhưng chủ yếu tập trung ở khu vực
Miền Trung và Tây Nguyên. Sinh viên Trường CĐTCKT được tuyển từ
số học sinh đăng ký dự thi đại học có nguyện vọng học tại Trường từ
các khối thi A và D, đa số có độ tuổi từ 18 đến 22, trẻ trung, năng động,
nhiệt tình, chăm ngoan
2.2. Thực trạng và một số vấn đề đặt ra cho việc giáo dục đạo
đức của sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toánhiện nay.
2.2.1. Tình hình đạo đức của sinh viên Trường Cao đẳng Tài
chính - Kế toán
Được sự giúp đỡ của Thầy hướng dẫn và sự cho phép của Ban giám
hiệu Trường CĐTCKT vào tháng 10 năm 2011 tác giả luận văn đã tiến
hành khảo sát 495 sinh viên thuộc khoá học 12 và 13 tại trường với 98
câu hỏi tập trung vào 5 vấn đề cơ bản liên quan trực tiếp đến đề tài của
luận văn
2.2.1.1. Vấn đề về động cơ, thái độ học tập của sinh viên.
Động cơ đầu tiên để các em đăng ký tuyển sinh vào trường là “vì
uy tín và chất lượng đầu ra của trường” chiếm 61,14%; Động cơ thứ
hai, đây là loại nghề “dễ kiếm ra tiền” chiếm 36,01%; Động cơ thứ ba,
hưởng không nhỏ đến đời sống và sự quyết định con đường đi đến
tương lai của sinh viên. Nhiều sinh viên đã tâm sự “nghề nào học xong
kiếm tiền lo được cho mình và giúp đỡ được bố mẹ thì nên cố gắng
thôi”, ước mơ tưởng chừng như đơn giản nhưng để biến nó thành sự
thật thì cuộc sống sinh viên phải trải qua không ít những gian nan.
Ông cha ta đã từng dạy bảo con cháu “học ăn, học nói, học gói, học
mở”, trong các trường học từ bậc tiểu học đến bậc phổ thông đều
thường có câu “Tiên học lễ, hậu học văn” ấy vậy mà khi học đến những
12
bậc học cao hơn thì dường như sinh viên và các nhà quản lý giáo dục đã
bỏ mất cái phần “lễ” chỉ quan tâm chú trọng vào phần “văn” - tức phần
kiến thức chuyên ngành - cái mà có thể làm ra được cơm, áo, gạo, tiền
phục vụ trực tiếp cho cuộc sống hiện tại của bản thân mỗi cá nhân, con
người cụ thể.
Do vậy, hơn 50% sinh viên có mong muốn được học về đạo đức và
đạo đức nghề nghiệp, yêu cầu Nhà trường cần phải có sự quan tâm thoả
đáng cho vấn đề về đạo đức và giáo dục đạo đức trong nhà trường, mà
đặc biệt là giáo dục đạo đức nghề nghiệp để sinh viên có cơ hội lĩnh hội
được những điểm đến cao hơn trong sự nghiệp của mình.
2.2.1.3. Vấn đề quan niệm về lối sống.
Xã hội hiện đại với muôn vàn các yêu cầu về sự phát triển đã đòi
hỏi con người sống trong xã hội đó luôn luôn phải vận động, vận động
và vận động liên tục để phù hợp với xu thế của thời đại, hay nói chính
xác hơn là để phù hợp với chính những yêu cầu, những thay đổi quá ư
là mau chóng của của bản thân cá nhân những con người hợp thành xã
hội đó. Điều ấy buộc mỗi một con người cụ thể phải dốc toàn lực cho
cuộc sống, cho nhu cầu của chính bản thân, gia đình và xã hội. Và kết
quả, mỗi một bước vinh hoa, mỗi một đỉnh vinh quang mà con người
chinh phục được đã để lại phía sau nó không ít những tổn thất, đặc biệt
là về các giá trị tinh thần mang đậm tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc
gần gũi với sinh viên. 12,63% còn lại do nhiều yếu tố kể cả khách quan
và chủ quan từ phía người dạy lẫn người học có thể là do một số thầy
cô quá nghiêm khắc hoặc do một số sinh viên quá lười hoặc không may
hôm đó “quên” học bài, hoặc vì thời tiết, hoặc vì chuyện gia đình…mà
bị thầy cô quở phạt nên không có thiện cảm mấy khi đánh giá về thầy
cô của mình.
54,10% giảng viên đứng lớp ngoài việc giảng bài, cung cấp cho
sinh viên lượng tri thức cần và đủ cho môn học mình đảm nhận giảng
dạy thì các thầy, các cô cũng đã thể hiện sự quan tâm đến cuộc sống và
sinh hoạt của sinh viên thông qua những lời hỏi thăm, những lời động
viên, những lời khuyên, lắng nghe và giải đáp thắc mắc của sinh viên
về nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực “thượng vàng hạ cám” , “đông tây kim
14
cổ” miễn là vấn đề không quá phức tạp để đưa ra câu trả lời tại chỗ, còn
những vấn đề khó và phức tạp ngoài phạm vi có thể giải đáp của mình
thì thầy cô hẹn sẽ giải đáp lần sau hoặc giới thiệu người có thể giải đáp
được.
Cùng với mối quan hệ giữa Thầy cô và Học trò thì trong môi
trường học đường còn có mối quan hệ không thể thiếu đó là quan hệ
giữa những người học trò ấy với nhau mà ta thường gọi đó là mối quan
hệ “bạn bè”.
Sinh viên cho rằng đã là bạn bè thì phải: Biết chia sẽ, lắng nghe;
giúp đỡ, thấu hiểu; gắn bó, bảo bọc; đồng cảm quên mình. Tình bạn là
một tình cảm nảy sinh tất yếu thông qua nhu cầu kết giao của bản thân
mỗi con người cụ thể với người khác và với cộng đồng. Tình bạn là
biểu hiện tốt đẹp trong quan hệ xã hội giữa người và người. Trong cuộc
sống, tình bạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng nó cổ vũ con người tiến
lên, thúc đẩy con người phát triển toàn diện nhân, trí, thể, mỹ.
2.2.1.5. Vấn đề quan niệm về chính trị, pháp luật
Hiện nay, giáo dục chính trị, pháp luật tại Trường CĐTCKT được
Giáo dục lòng yêu nước và sự trung thành với sự nghiệp cách mạng
của Đảng giúp sinh viên có nhận thức đúng và từ đó có những hành
động thiết thực trong lao động, trong học tập và trong cống hiến. Bởi
“thanh niên có những đặc điểm của tuổi trẻ mà các lứa tuổi khác không
có. Đó là lớp người đang lớn lên về thể chất, đang phát triển về trí tuệ,
rất giàu tinh thần xung phong, hăng hái, ham tiến bộ, thiết tha với lý
tưởng tốt đẹp của Đảng và không sợ khó khăn, nguy hiểm, sẵn sàng hi
sinh phấn đấu vì lý tưởng đó. Với những đức tính ấy, Đảng tin tưởng
rằng thanh niên sẽ kiên quyết phấn đấu đến cùng dưới lá cờ của Đảng”.
16
2.2.2.2. Hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên
Trường CĐTCKT
Thứ nhất, giáo dục đạo đức qua các môn học. Thực trạng giáo
dục đạo đức cho sinh viên của Trường CĐTCKT hiện nay theo kết quả
khảo sát của tác giả có thể nêu ra được một số vấn đề có tính chất nổi
cộm như sau: Sinh viên không mấy mặn mà nếu không muốn nói theo
khuynh hướng tiêu cực đó là các em “ghét” học các môn: Những
nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin; Đường lối cách mạng
của Đảng cộng sản Việt Nam; Các môn học về Luật vì một số lý do
sau: “Không ăn nhập gì với chuyên ngành mà sinh viên học; Không
phục vụ được gì cho sinh viên sau khi ra trường; Kiến thức và ngôn ngữ
hàn lâm rất khó hiểu; Thầy cô giảng bài rất chán, thiếu sinh động và xa
rời thực tiễn”. Trong sinh viên xuất hiện, tồn tại tư tưởng coi thường
một số môn học chủ yếu là các môn học cơ sở và cơ sở ngành, họ cho
rằng: “Đó là môn học không quan trọng; Để dành sự quan tâm, ưu tiên
cho các môn học ứng dụng; Nên bỏ bớt một số môn”.
Thứ hai, giáo dục đạo đức qua các môn cơ sở ngành và chuyên
ngành.
Giáo dục đạo đức và đạo đức nghề nghiệp trong môi trường giáo
dục chuyên nghiệp chỉ là bộ phận nhỏ trong tổng quan tri thức của con
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam… đặt ra yêu
cầu rất nặng nề cho những người làm công tác giảng dạy các môn học
này, nó đòi hỏi, một mặt phải có kiến thức sâu, rộng ở nhiều lĩnh vực,
mặt khác, phải có khả năng truyền tải hệ thống thông tin đến cho người
học một cách thiện cảm nhất, khoa học nhất, tạo dựng niềm tin cho
người học để đào tạo nên một thế hệ tiếp nối truyền thống bằng “lửa”
đã v9à đang cháy trong tim, bằng tình yêu đối với chế độ và con người
đang xây dựng chế độ - chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ
nghĩa. Song hiện thực của cuộc sống, của cơ chế thị trường, của toàn
cầu hóa, của sự suy đồi, băng hoại về đạo đức lối sống của một bộ phận
cán bộ, đảng viên, sinh viên… đã đặt lên vai những người làm công tác
tuyên truyền, giáo dục về chế độ, về lý tưởng về con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ngày càng khó khăn hơn, khó thuyết
phục hơn. Đòi hỏi những người làm công tác giảng dạy phải có nghệ
thuật truyền đạt, khả năng sư phạm phù hợp cho từng đối tượng bởi, nội
dung giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa
phải tuỳ theo đối tượng, tuỳ theo cấp học, mà áp dụng cho thích hợp,
nhưng cấp học nào cũng phải coi việc giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin và
lý tưởng cộng sản chủ nghĩa là cơ sở của việc giáo dục tư tưởng và
chính trị. Chính vì thế, yêu cầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất
lượng giảng dạy các môn học này không chỉ là một yêu cầu bắt buộc
19
mà trên hết nó phải là một nghệ thuật đỉnh cao trong công tác tuyên
truyền.
3.2. Xây dựng nội dung chương trình đảm bảo các yếu tố của
giáo dục đạo đức
3.2.1. Xây dựng nội dung giáo dục đạo đức phù hợp, bảo đảm sự
kết hợp giữa giáo dục đạo đức truyền thống với giáo dục đạo đức
chuyên môn nghiệp vụ, quản lý doanh nghiệp
ở bất kỳ tình huống nào, lĩnh vực nào, công việc gì và Hồ Chí Minh là
tấm gương sáng ngời trong giáo dục đạo đức và thực hành đạo đức.
Người nói: “Học để hành: Học với hành phải đi đôi. Học mà không
hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Do
vậy, công tác hướng dẫn sinh viên thực tập, thực tế là một trong những
môi trường thuận lợi để thực hiện hành vi giáo dục đạo đức cho sinh
viên một cách hiệu quả nhất. Bởi, trong thực tập, sinh viên được các
Thầy cô giáo không chỉ hướng dẫn tận tình về chuyên môn mà còn,
hoặc nêu ra các tình huống giả định hoặc dựa trên một số tình huống cụ
thể yêu cầu sinh viên phải giải quyết vấn đề nhằm vừa bảo đảm được
lợi ích của chủ thể kinh tế vừa bảo đảm được chuẩn mực đạo đức
chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và trên hết là không vi phạm pháp
luật.
3.3. Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh, trường
học thân thiện - học sinh tích cực.
3.3.1. Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh
Thực trạng các loại tệ nạn xã hội hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi cũng như trong phạm vi cả nước cho chúng ta thấy nổi lên vấn đề
đặc biệt nghiêm trọng trong đạo đức lối sống của một bộ phận thanh
niên, sinh viên đó là các đối tượng phạm tội đang ngày một trẻ hóa,
động cơ và tính chất vụ án mỗi ngày một nghiêm trọng hơn mà các lý
do chủ yếu xoay quanh về “TIỀN” nhằm thỏa mãn các nhu cầu “bức
bách” của hung thủ như: Cần tiền để chơi game, cần tiền để mua sắm,
cần tiền để hút chích, cần tiền để đánh bạc, cần tiền để uống rượu…
cũng có không ít các trường hợp sinh viên , thanh niên phạm tội là do
sự lạm dụng quyền lực của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý… Riêng
đối với Trường CĐTCKT mặc dù chưa có trường hợp phạm tội
21
nghiêm trọng nào nhưng nhiều hình thức xử lý kỷ luật đã được ban
hành với lý do sinh viên nghỉ học dài ngày không lý do, sinh viên uống
học tập nhằm tạo ra sự quen biết, học hỏi, trao đổi, khảo nghiệm, tư vấn
22
chuyên môn, tư vấn tâm lý, cơ hội việc làm, cơ hội nghề nghiệp cho
sinh viên.
3.4. Đổi mới công tác quản lý giáo dục đạo đức
Quản lí là quá trình điều hành, phối hợp sắp xếp và bố trí nhân lực
thực hiện các nhiệm vụ đã cho trước. Là hoạt động phối hợp và sử dụng
tối ưu các nguồn lực (con người, tài chính). Đối với công tác quản lý
giáo dục cần phải có sự đổi mới để phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
khách quan đồng thời phù hợp với nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo của Nhà
trường và xã hội. Do vậy, Trường Đại học Tài chính Kế toán trong
công tác quản lý giáo dục đạo đức cần: Yêu cầu tuyển chuẩn và bồi
dưỡng chuẩn chuyên nghiệp đối với người làm công tác quản lý; Làm
tốt công tác tổ chức ngay từ buổi đầu tiên sinh viên còn bỡ ngỡ bước
vào trường ở tất cả các khâu: ăn, ở, đi lại, lớp học, phòng học, lịch học,
lịch làm việc, thời gian lên lớp, giảng viên phụ trách lớp, Văn phòng
đoàn, Hội sinh viên , phòng đào tạo, phòng công tác học sinh - sinh
viên…; Tổ chức và quản lý lớp học vừa theo lớp sinh hoạt vừa theo lớp
học phần, trong đó việc tổ chức và quản lý theo các lớp học phần là khá
phức tạp do số lượng các lớp học phần rất nhiều nhưng chỉ tồn tại trong
một học kỳ. Vì vậy cần phải bố trí các cán bộ quản lý lớp học phần có
đầy đủ sự nhiệt tình, năng động, trẻ trung, mẫn cán, tâm huyết vào vai
trò vừa là giáo viên chủ nhiệm vừa là giáo viên cố vấn học tập, vừa là
người giám sát chuyên môn để đánh giá nhiệm vụ học tập của sinh
viên; Đoàn Thanh niên - Hội sinh viên cần coi việc tổ chức và quản lý
học tập của sinh viên làm nhiệm vụ chính cho các hoạt động của mình,
chứ không chỉ là hoạt động vui chơi, giải trí; Quan tâm sâu sát đến công
tác tuyên truyền bởi nó có sức mạnh cực kỳ to lớn, thông qua tuyên
truyền nó tác động đến sự thay đổi của cái “khó dời - bản tính” của sinh
viên.
Trường Đại học Tài chính - Kế toán”, Nội san nghiên cứu khoa học,
Trường Đại học Tài chính - Kế toán, (64).
25