Bài 4. Vệ sinh môi trường không khí và ô nhiễm không khí
Phan Thị Trung Ngọc
MỤC TIÊU
1. Định nghĩa môi trường không khí, mô tả được vai trò của không khí đối
với sự sống con người và sinh vật.
2. Liệt kê được các chỉ số đánh giá vệ sinh trong môi trường không khí, tiêu
chuẩn chất lượng môi trường không khí cho phép ngưỡng tối đa của
một số chất khí.
3. Định nghĩa được thế nào là ô nhiễm không khí, nêu khái quát về lịch sử
của sự ô nhiễm không khí.
4. Nêu được các nguồn gây ô nhiễm, các tác nhân gây ô nhiễm, và quá trình
gây ô nhiễm, các tác hại của ô nhiễm không khí.
5. Đề xuất được các biện pháp bảo vệ và khống chế sự ô nhiễm môi trường
không khí.
NỘI DUNG
1. Khái niệm về môi trường không khí
1.1. Môi trường không khí
Là phần không gian bao quanh Trái đất, gồm nhiều tầng khác nhau tùy
theo sự thay đổi độ cao và nhiệt độ. Thành phần không khí là một hỗn hợp khí
với tiêu chuẩn lý tưởng là 78,09% khí Nitơ, 20,94% khí Oxy, 0,032% khí CO
2
,
0,93% khí Agon, hơi nước và một số thành phần khí khác chiếm tỉ lệ rất nhỏ.
Tuy nhiên với tình hình hiện nay thì môi trường không khí không trong lành
như tiêu chuẩn này nữa mà nó còn chứa thêm rất nhiều chất khác với tỉ lệ khá
lớn và độc hại.
1.2. Vai trò của không khí:
Là môi trường cực kỳ quan trọng trong sự sinh tồn và phát triển của nhân
loại, con người và các sinh vật sống cần có không khí để hô hấp duy trì sự sống
1
là nhu cầu bức thiết nhất (người ta có thể nhịn đói 7 - 10 ngày, nhịn khát 2 - 3
0
C (trung bình lên cao mỗi km giảm 6,4
0
C). Áp suất không
khí càng lên cao càng giảm, nồng độ không khí cũng loãng dần khi càng lên
cao.
1.3.2. Tầng bình lưu:
Tiếp theo tầng đối lưu là tầng bình lưu, độ cao từ 10 - 50 km, tầng này có
chứa tầng ôzôn bảo vệ trái đất. Thành phần không khí gần giống tầng đối lưu,
chủ yếu là O
3
, N
2
, O
2
, ít hơi nước hơn (nồng độ O
3
ở tầng này cao gấp 1000 lần
tầng đối lưu).
Ở tầng này, càng lên cao nhiệt độ lại tăng lên và đạt 0
o
C khi đến đỉnh (50
km), người ta giải thích việc tăng nhiệt độ ở tầng này có lẽ do tầng ôzôn (xuất
hiện ở độ cao 18 - 30km) có nhiệm vụ hấp thụ - chặn - các tia tử ngoại từ mặt
2
trời chiếu xuống trái đất. Càng lên cao áp suất không giảm nữa, đạt bão hòa ở
mức 0 mmHg.
1.3.3. Tầng trung lưu:
Tiếp với tầng bình lưu là tầng trung lưu, cao từ 50 - 90 km. Thành phần
không khí cũng gần giống như các tầng dưới, nhưng nồng độ O
3
ban hành chính sách khuyến khích sử dụng gỗ thay cho than; Shakespeare kết
luận quan sát thấy ô nhiễm ở các thôn xóm.
Những năm đầu thế kỷ 20 là thời kỳ công nghiệp hóa bắt đầu phát triển,
dấu hiệu ô nhiễm không khí rõ rệt nhất do dùng than là hiện tượng "khói sương
mù" và hàm lượng khí CO
2
tích lũy trong nhiều trong không khí do quá trình
đun nước lấy hơi để chạy máy. Con người đã tạo ra CO
2
vượt quá khả năng
chứa của không khí.
Đến thời đại thông tin, giữa thế kỷ thứ 20, thời đại văn minh, xe máy và
máy nổ được phát minh. Vào năm 1948, tại Thị trấn công nghiệp Donora của
Mỹ có nhà máy cán thép cở lớn, nhà máy hóa chất sản xuất kẽm và lưu huỳnh
và các nhà máy nhiệt điện, nhà máy luyện kim Vào thời điểm đó, ở Mỹ chưa
có các qui định về vấn đề phòng chống ô nhiễm không khí, nên các nhà máy
này đã tự do thải trực tiếp vào khí quyển: các khí thải đặc biệt là khí SO
2
và khí
CO, cùng với nhiều bụi khói đen chứa nhiều độc chất (bụi kim loại) gây ô
nhiễm không khí. Đến cuối tháng 10/1948 mức độ ô nhiễm không khí đã trở
nên hết sức trầm trọng: cả thị trấn bị bao phủ bởi màn sương chứa đầy độc chất,
vào lúc đó khu vực này lại không có gió thổi làm cho tình trạng ô nhiễm ngày
càng nặng thêm. Hậu quả là: chỉ trong vòng 2 tuần đã có 20 người chết và hơn
một nửa số dân sống ở thị trấn này phải cấp cứu vì nhiễm độc do hít thở không
khí ô nhiễm. Giai đoạn 1940-1950, người ta quan sát thấy hiện tượng khói
sương mù ở Los Angeles, khói sương mù tạo thành khi không khí lạnh và ứ
đọng gần mặt đất, với độ ẩm cao, lớp sương sẽ giữ các chất ô nhiễm và làm
chúng không phân tán được trong không khí. Và ở Luân Đôn (nước Anh) vào
chặt chẽ và nghiêm khắc; có rất nhiều cơ sở sản xuất, nhà máy, khu công
nghiệp với các trang thiết bị thô sơ, cũ kỹ và chưa có hệ thống xử lý chất thải,
5
khí thải. Các nhà máy sản xuất xi măng như nhà máy xi măng Hoàng Thạch
(phía Bắc), xi măng Hà Tiên (phía Nam) cũng đã gây ô nhiễm khói bụi cả
một vùng rộng lớn. Nhà máy super phosphate Lâm Thao đã làm ô nhiễm không
khí ảnh hưởng đến sinh vật sống trong khu vực.
Như vậy đến những năm 1970 -1980, ô nhiễm không khí đã xuất hiện với
quy mô toàn cầu. Cho đến ngày nay, tình hình ô nhiễm không khí ngày càng
trở nên trầm trọng hơn, trở thành vấn đề thời sự đáng quan tâm, nhất là nạn ô
nhiễm ở các thành phố lớn, các trận mưa axít, hiệu ứng nhà kính, bào mòn tầng
ôzôn đặc biệt là sự gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu luôn được nhắc đến nhằm
kêu gọi sự bảo vệ của toàn cầu.
3. Các chỉ số đánh giá vệ sinh môi trường không khí
3.1. Chỉ số về vật lý:
3.1.1. Nhiệt độ (độ C hoặc độ F):
Mặt trời là nguồn tạo nhiệt chính trên trái đất, những tia mặt trời không
làm nóng bầu không khí bao nhiêu mà không khí nóng chủ yếu là do tiếp xúc
với mặt đất, khi lớp không khí tiếp xúc với mặt đất nóng lên sẽ bị giảm trọng
lượng và bốc lên cao nhường chỗ cho lớp không khí xa mặt đất: cứ như vậy tạo
ra dòng đối lưu không khí tiếp xúc với đất. Ở vùng xích đạo, ngày dài bằng
đêm cho nên nhiệt độ không khí trong ngày thay đổi khá đột ngột, trong khi ở
hai vùng địa cực thì nhiệt độ không khí trong ngày biến đổi rất ít. Ngược lại,
nhiệt độ không khí trong năm thay đổi tuỳ theo vĩ độ của từng nơi, ở vùng xích
đạo bức xạ mặt trời và nhiệt độ gần như không thay đổi trong suốt năm, còn ở
hai vùng địa cực thì mặt trời không lặn trong 6 tháng và không mọc trong 6
tháng cho nên nhiệt độ không khí trong năm lại dao động khá nhiều.
Trước đây (từ 1714), người ta đo nhiệt độ theo thang nhiệt độ F
(Fahrenheit) với các mức chuẩn: "nhiệt độ đóng băng" là 32
0
triển đối với một số côn trùng, vi trùng gây bệnh đặc biệt là các bệnh đường hô
hấp, tiêu hoá do vi trùng, ký sinh trùng. Mỗi loại côn trùng, vi trùng có thể phát
triển được ở một khoảng nhiệt độ nhất định, từ đó nó quyết định đến tỷ lệ mắc
bệnh trong cộng đồng và có ảnh hưởng đến việc lưu hành một số bệnh truyền
nhiễm. Nhiệt độ không khí cũng ảnh hưởng đến sự tác động của các độc chất
có trong không khí, và khi nhiệt độ tăng sẽ làm cho biên độ và tần số hô hấp
cũng tăng lên dẫn đến lượng chất độc trong không khí xâm nhập vào cơ thể qua
đường hô hấp nhiều hơn.
3.1.2. Độ ẩm ( mmHg hoặc g/m
3
không khí ) :
Độ ẩm không khí là lượng hơi nước hòa tan vào trong không khí, bằng
mắt thường khó nhìn thấy được, biểu thị bằng sức trương của hơi nước. Người
ta đo lượng hơi nước này bằng áp lực riêng phần của hơi nước (mmHg) hoặc
tính khối lượng hơi nước trong một đơn vị thể tích không khí (g/m
3
không khí).
Ý nghĩa vệ sinh: cùng với nhiệt độ, độ ẩm không khí cũng liên quan tới sự
tồn tại và phát triển của các loại mầm bệnh, các loại côn trùng tiết túc trung
7
gian truyền bệnh, đặc biệt là các loại nấm và vi nấm. Vì vậy mà có sự xuất hiện
các bệnh nhiễm trùng, nhiễm ký sinh trùng đôi khi bùng phát thành các trận
dịch bệnh liên quan đến vùng miền khí hậu và theo mùa. Ngoài ra, khi độ ẩm
cao kết hợp với nhiệt độ cao (hiện tượng nóng ẩm) sẽ gây cản trở quá trình thải
nhiệt, nên cơ thể tích nhiệt dẫn đến say nóng; Độ ẩm không khí thấp mà nhiệt
độ lại cao sẽ gây mất nhiều nươc dẫn đến hiện tượng suy kiệt, nhất là ở người
già và trẻ em; còn khi độ ẩm và nhiệt độ đều thấp thì sẽ làm cho da và niêm
mạc bị khô, nứt nẻ, bong tróc, và dễ chảy máu.
3.1.3. Sự chuyển động của không khí (m/s):
Không khí thường xuyên có các luồng chuyển động, do mặt trời sưởi
với đơn vị đo là Deciben (dB). Mức tối thiểu tai người có thể nghe thấy là 0 dB
ở tần số 1.000 Hz, và thang đo tiếng ồn là từ 0 - 130 dB. Trong các tiêu chuẩn
vệ sinh hiện nay, người ta thường sử dụng đơn vị là dBA.
Ý nghĩa vệ sinh: tác động của tiếng ồn phụ thuộc vào tần số, cường độ và
sự lặp đi lặp lại của tiếng ồn, ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng của người
tiếp xúc. Khi tác động lên cơ quan thính giác: tiếng ồn sẽ làm giảm độ nhạy
cảm, tăng ngưỡng nghe nên làm giảm sức nghe, giảm sự tập trung và sự an
toàn; tiếng ồn gây kích thích hệ thần kinh trung ương dẫn đến hiện tượng nhức
đầu, chóng mặt, stress, bức rức, trầm uất, sợ hãi, nóng giận vô cớ ngoài ra
còn làm cho trẻ con bị ức chế, chậm biết nói và khả năng học tập kém và người
già thì thường xuyên mất ngủ; Tiếng ồn cũng tác động lên hệ tim mạch làm
tăng huyết áp, tăng nhịp tim, rối loạn nhịp tim và ảnh hưởng tới sự hoạt động
bình thường của hệ tuần hoàn máu. Đồng thời, tiếng ồn cũng ảnh hưởng đến dạ
dày gây rối loạn quá trình tiết dịch vị, làm tăng axit trong dạ dày và rối loạn sự
co bóp dẫn đến viêm loét dạ dày
3.1.5. Kích thước bụi (mm, µm):
Bụi rất phổ biến, có mặt ở mọi lúc, mọi nơi trong môi trường, với nhiều
trạng thái và kích thước khác nhau (từ vài µm đến vài mm). Dưới sự chuyển
động của gió đã lôi cuốn rất nhiều bụi vào không khí gây nên sự ô nhiễm bụi
trong không khí.
9
Ý nghĩa vệ sinh: bụi trong không khí khi tiếp xúc với da và mắt có thể gây
viêm, ngứa, dị ứng da, tổn thương mắt; đặc biệt những hạt bụi có kích thước
nhỏ và thành phần độc hại có thể xâm nhập sâu vào phổi gây bệnh bụi phổi, xơ
hóa phổi
3.2. Chỉ số về hóa học:
Đo nồng độ các chất có trong không khí (như: SO
2
, H
2
4.1.2.1. Nguồn ô nhiễm từ công nghiệp :
Do các ống khói từ các nhà máy - cơ sở sản xuất thải vào môi trường
không khí rất nhiều chất độc hại (nhất là các nhà máy - cơ sở sản xuất có trang
thiết bị lạc hậu, chưa có trang bị bộ phận xử lý chất thải).
Đồng thời nguồn ô nhiễm công nghiệp còn phát sinh từ quá trình bốc hơi,
rò rỉ, thất thoát trong dây truyền sản xuất, trên các đường ống dẫn tải. Nhất là
các nhà máy sản xuất hóa chất, nhà máy thuốc lá, nhà máy chế biến thực phẩm,
nhà máy nhiệt điện, nhà máy sản xuất nhựa - cao su - chất dẻo, luyện kim, kỹ
nghệ xi măng, khai thác quặng mỏ, các lò hạt nhân Đặc điểm các chất ô
nhiễm này có nồng độ độc hại rất cao, thường là hỗn hợp khí và hơi độc hại.
Nhìn chung, mỗi nhà máy - cơ sở sản xuất sinh ra nhiều chất ô nhiễm
khác nhau, do đó tính đa dạng của nguồn ô nhiễm từ công nghiệp đã gây ra sự
phức tạp và khó khăn trong việc xác định các biện pháp xử lý ô nhiễm môi
trường đặc biệt là khu công nghiệp lớn có nhiều loại nhà máy khác nhau. Tại
Thành phố Hồ Chí Minh sự ô nhiễm không khí chủ yếu là do các hoạt động
công nghiệp, theo các số liệu thống kê cho thấy: có hơn 700 nhà máy sản xuất
công nghiệp, 30.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và hàng trăm cơ sở có
vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có rất nhiều cơ sở sản xuất, nhà máy, khu công
nghiệp với các trang thiết bị thô sơ, cũ kỹ và chưa có hệ thống xử lý chất thải,
khí thải, là nguồn gây ô nhiễm rất nghiêm trọng cho môi trường không khí của
Thành phố.
4.1.2.2. Nguồn ô nhiễm từ giao thông vận tải :
Hoạt động giao thông vận tải không những tự nó sinh ra các chất thải độc
hại do đốt cháy nhiên liệu mà quá trình di chuyển của nó còn làm khuyếch tán
bụi và các chất ô nhiễm từ môi trường đất sang môi trường không khí và từ nơi
này sang nơi khác. Đây là nguồn ô nhiễm di động, trong quá trình hoạt động
11
các phương tiện giao thông (đặc biệt là sự đốt cháy không hoàn toàn nhiên liệu
của các động cơ) sẽ thải một khối lượng lớn bụi khói, và các chất khí độc hại
vào môi trường không khí, ví dụ: các xe có sử dụng xăng, dầu khi đốt cháy sẽ
ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe con người.
Hiện tượng ô nhiễm không khí trong nhà :
Hiện nay, ô nhiễm không khí trong nhà đang được xem là một trong
những vấn đề sức khỏe môi trường trên toàn cầu cần được quan tâm nhất, bởi
12
vì ô nhiễm không khí trong nhà là nguồn ô nhiễm có số người phơi nhiễm, tiếp
xúc nhiều nhất so với các ô nhiễm không khí xung quanh. Chất lượng không
khí trong nhà là một vấn đề đang được chú trọng ở nhiều tòa nhà của các nước
phát triển, vì chúng được thiết kế xây dựng kín gió và tiết kiệm năng lượng, các
chất hóa học sinh ra từ nhiên liệu đốt cháy, từ khói, các vật liệu xây dựng, đồ
đạc, mỹ phẩm, chất tẩy rửa và các nguồn khác trong các tòa nhà tích tụ lại ngày
càng nhiều gây ô nhiễm không khí bên trong nhà phổ biến nhất là khói thuốc
lá, các sản phẩm phân rã của chất phóng xạ Uran (radon), formaldehyt, sợi
amiant, dẫn xuất của Cacbon, dẫn xuất Nitơ, dẫn xuất Lưu huỳnh, và các hợp
chất Hydrocacbon thơm đa vòng… Ngoài ra, một số tác nhân vi sinh vật như
virút, vi khuẩn, nấm mốc, tảo, bào tử, phấn hoa… cũng làm ô nhiễm không khí
trong nhà. Sự ô nhiễm này là một trong những nguyên nhân gây viêm nhiễm
đường hô hấp cấp tính ở trẻ em, làm trầm trọng thêm các bệnh hen suyễn, bệnh
phổi mãn tính và ung thư ở người lớn, đồng thời gây tác động tiêu cực tới
những phụ nữ đang mang thai. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, đặc biệt là viêm
phổi, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi, với khoảng 4
triệu người tử vong mỗi năm, chiếm 10% tổng gánh nặng bệnh tật ở các nước
đang phát triển.
4.2. Các tác nhân gây ô nhiễm không khí:
4.2.1. Dẫn xuất của cacbon:
4.2.1.1. Cacbonic (Dioxyt Cacbon, CO
2
):
Bình thường, thành phần cấu tạo của bầu khí quyển có khoảng 0,032%
khí CO
than - củi - nhiên liệu không hoàn toàn, trong kỹ nghệ, đặc biệt là từ động cơ
xăng là nguồn chính thải khí CO.
Khí CO không màu, không mùi tồn tại rất lâu trong không khí, là chất gây
ngạt hóa học, có ái lực rất cao với Hb hồng cầu (250 lần Oxy), con người rất
nhạy cảm với khí này, khi nhiễm độc có thể bị ù tai, chóng mặt, buồn nôn, nặng
hơn: dẫn đến hôn mê.
4.2.1.3. Các Hydrocacbon:
Hình thành từ thực vật (tự nhiên), và quá trình đốt cháy không hoàn toàn
các nhiên liệu từ các động cơ, lò đốt ảnh hưởng đến sức khỏe con người, một
số hydrocacbon (nhất là các benzen vòng) có nguy cơ gây ung thư.
4.2.2. Dẫn xuất của lưu huỳnh:
4.2.2.1. Khí Sulfurơ (SO
2
):
SO
2
sinh ra từ quá trình khai thác dầu mỏ - mỏ than, kỹ nghệ cơ khí, luyện
kim, điều chế acid Sulfuric, quá trình đốt nhiên liệu - than đá (đặc biệt là than
xấu), núi lửa phun (là nguồn tự nhiên chính). Robinsson và Robbins đã tính
toán được hàng năm có khoảng 132 triệu tấn SO
2
thải vào khí quyển (nhiều
nhất từ đốt than và xăng dầu).
SO
2
là một chất khí không màu, có mùi đặc trưng (hăng cay), nồng độ cao
gây ngộ độc, kích thích - co thắt các cơ hô hấp, làm chít hẹp đường hô hấp, gây
14
tăng tiết nhầy và có thể gây tử vong. Trong không khí, SO
2
máy bay tạo ra NO), vũ khí hạt nhân đặc biệt ở các trung tâm đô thị nồng độ
của nó cao gấp 10 - 15 lần so với nông thôn.
NO
2
là một chất khí bền vững, khi hít thở NO
2
vào cũng gây kích thích
đường hô hấp, giảm khả năng tự vệ của phổi và làm trầm trọng thêm tình trạng
bệnh ở những bệnh nhân hen phế quản hay các bệnh mãn tính khác ở đường hô
hấp; khi vào máu NO
2
cũng có khả năng kết hợp với hồng cầu, ngăn cản sự
chuyên chở oxy đến các cơ quan. NO
2
có màu vàng sậm, khi có nồng độ cao
trong không khí sẽ làm giảm tầm nhìn, đồng thời nó có khả năng hấp thụ mạnh
tia cực tím, gây ô nhiễm quang hóa học ảnh hưởng đến tầng ozôn và hiệu ứng
nhà kính. Ngoài ra, NO
2
cũng đóng vai trò là tác nhân gây mưa acid.
Khí NO cũng là một trong các thành phần chất khí tác động phá hủy tầng
ozôn:
(NO + O
3
NO
2
+ O
2
).
4.2.3.2. Khí Amoniac (NH
Bình thường ozôn có nồng độ cao ở tầng bình lưu có tác dụng bảo vệ trái
đất, còn ở tầng đối lưu (gần với sự sống) thì hàm lượng O
3
rất ít. Khi nồng độ
ozôn tăng cao ở gần mặt đất thì trở nên độc cho sinh vật, gây nên sương mù
quang hóa, kích thích khá mạnh ở đường hô hấp làm thay đổi nhịp thở và xâm
nhập sâu vào phổi. Ở đường hô hấp trên, ozôn có thể tác động gây ra tình trạng
sổ mũi, ngứa họng; tác động lên đường hô hấp dưới gây phản xạ ho, thở khò
khè, đau ngực… và các triệu chứng toàn than như nhức đầu, mệt mỏi, chóng
mặt… Đặc biệt ở những người bị hen phế quản, ozôn sẽ kích thích và làm cho
người bệnh dễ lên cơn hen thường xuyên hơn.
16
4.2.6. Bụi:
Do tự nhiên: gió bão lốc xoáy mang cát bụi, núi lửa phun nham thạch -
bụi tung vào không khí. Từ các hoạt động của con người: bụi khói trong quá
trình đốt cháy (sinh hoạt, đốt rơm rạ, cháy rừng ), khói thải công nghiệp,
phương tiện giao thông vận tải, khai thác đá - quặng mỏ, luyện kim, sản xuất xi
măng, xây dựng
Bụi có nhiều kích cỡ và nhiều thành phần khác nhau (VD: bụi silic, bụi
than, bụi gỗ, bụi amiant, bụi chì, bụi mangan, bụi xi măng, bụi từ khai thác
đá ). Bụi làm ô nhiễm không khí, gây dị ứng da - đường hô hấp, gây bệnh bụi
phổi – xơ hóa hay ung thư phổi, tổn thương mắt, ngộ độc các bụi kim loại
4.2.7. Tiếng ồn:
Được xem là một trong các tác nhân gây ô nhiễm không khí rất phổ biến
hiện nay nhất là ở vùng đô thị. Tiếng ồn được phát sinh từ rất nhiều động cơ
máy nổ (tàu thủy, tàu hỏa, xe cộ, máy bay, máy móc sản xuất ), khu vui chơi
giải trí âm nhạc, các nhà máy, khu công nghiệp ảnh hưởng làm giảm sức
nghe, tăng ngưỡng nghe gây nên điếc nghề nghiệp. Ngoài ra tiếng ồn cũng kích
thich hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn gây ra các xáo trộn bất thường
trong cơ thể.
), và các hạt α, β, γ trong điện tử và các năng lượng điện tử khác có năng
lượng lớn, ngoài ra chúng còn có thể tồn tại trong không khí dưới dạng hợp
chất. Chất phóng xạ được sinh ra từ khai thác quặng, nhà máy sản xuất điện
nguyên tử, lò phản ứng hạt nhân, vũ khí hạt nhân, một số nghiên cứu khoa học
và điều trị y khoa, các khí dung phóng xạ có thể rơi xuống từ khí quyển hay do
sử dụng chất đồng vị phóng xạ làm nguyên tử đánh dấu trong nông nghiệp và
công nghiệp…
Khả năng phát sinh những tổn thương phóng xạ và thời gian xuất hiện
triệu chứng thường khác nhau phụ thuộc vào số lượng, chất tiếp xúc, bản chất
lý hoá học của chúng và thời gian bán phân huỷ. Có thể gây ra các rối loạn
miễn dịch, biến đổi gen và ung thư
4.2.10. Ô nhiễm do vi sinh vật:
Không khí bị ô nhiễm bởi nhiều vi sinh vật có khả năng gây bệnh cho
người và các sinh vật sống, đôi khi thành dịch và mang tính chu kỳ. (như: virút
cúm, quai bị, sởi, viêm não, thủy đậu, phế cầu, liên cầu, tụ cầu, bạch hầu, ho
gà, lao ). Đặc biệt, những nơi dân cư đông đúc - thiếu ánh sáng - vệ sinh kém
thì sự ô nhiễm này càng trầm trọng hơn.
Loại vi khuẩn
Thời gian tồn tại trong không
khí
Phế cầu 4 - 5 tháng
Liên cầu tan huyết 2 - 6 tháng
Tụ cầu vàng 3 ngày
Trực khuẩn dịch hạch 8 ngày
Trực khuẩn bạch hầu 30 ngày
4.3. Quá trình gây ô nhiễm:
18
Gồm các quá trình sau:
- Trước tiên là phải có nguồn sản sinh ra các chất gây ô nhiễm.
- Tiếp theo là quá trình phóng thích các chất ô nhiễm vào trong không khí,
2
SO
4
.
5.1.4. Ảnh hưởng của mưa:
Mưa có tác dụng làm sạch môi trường không khí, nhưng sẽ mang theo các
chất ô nhiễm từ không khí vào nước, đất gây ô nhiễm lan truyền đến 2 môi
trường này.
5.2. Ảnh hưởng của địa hình:
Địa hình đồi núi, thung lũng, gò đất hay các công trình xây dựng với độ
cao không lớn lắm cũng có ảnh hưởng đến sự khuếch tán chất ô nhiễm trong
không khí. Do địa hình là vật chắn gió, kìm hãm sự khuếch tán không khí.
5.3. Yếu tố nhà cửa, công trình:
Nhà cửa, công trình, các khu công nghiệp, hầm mỏ cũng là vật cản kìm
hảm sự khuếch tán chất ô nhiễm trong không khí, làm cho nồng độ các chất ô
nhiễm ở những nơi này cao và tồn tại lâu hơn, tác hại nặng nề hơn.
6. CÁC TÁC HẠI CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ:
6.1. Gây hại cho sức khỏe con người:
Các bệnh lý đường hô hấp (viêm, tăng tiết, co thắt ) do hít phải các tác
nhân ô nhiễm trong không khí: một số loại tác nhân có nguồn gốc hữu cơ: bụi,
phấn hoa, bông, đay, gai… có khả năng gây co thắt phế quản, gây ra các cơn
hen suyễn… làm suy giảm chức năng hô hấp; Các chất khí CO, SO
2
, H
2
S, NO
2,
Hydro-cacbon có thể gây ngộ độc cấp hay mạn tính (ảnh hưởng lên đường hô
hấp, ảnh hưởng cả thần kinh và toàn thân), thậm chí có thể dẫn đến tử vong.
Ô nhiễm không khí cũng gây nên các bệnh nghề nghiệp, bệnh ở da - mắt,
của các mầm bệnh và côn trùng sâu bệnh phá hoại mùa màng, trong khi đó khả
năng đề kháng của con người lại giảm dần đi, vì thế sức khỏe của con người
càng bị đe dọa.
Sự tăng nhiệt độ trái đất dẫn đến việc tan các tảng băng, gây ra những
thảm họa lũ lụt hàng năm và mức nước biển cũng tăng lên làm ngập nhà cửa
ruộng vườn, nhiễm mặn đất trồng trọt. Các nhà chiến lược Việt Nam dự báo
vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển sẽ dâng cao thêm khoảng 30cm; đến cuối thế
21
kỷ 21 thì mức dâng thêm của mực nước biển sẽ là 75cm so với thời kỳ những
năm 1980 – 1999 và sẽ ngập mất đi gần 20% diện tích vùng đồng bằng sông
Cửu Long (đặc biệt là các vùng thấp ven biển như: Kiên Giang, Hậu Giang, Cà
Mau, Sóc Trăng ).
6.4.2. Hiệu ứng nhà kính:
Thực ra thuật ngữ "hiệu ứng nhà kính" và tác dụng của nó đã được biết
đến từ rất lâu, nó luôn luôn tồn tại và có tác dụng giúp cho trái đất giữ cân bằng
nhiệt vào ban đêm, nếu không có "hiệu ứng nhà kính" thì ban đêm nhiệt độ trái
đất sẽ xuống rất thấp. Tuy nhiên, từ năm 1980, các nhà khoa học đã tính toán
và xác định thấy lượng khí CO
2
tăng quá nhiều trong khí quyển, gây ra tác
động "hiệu ứng nhà kính" quá mức, làm nhiệt độ trái đất nóng lên và gây biến
đổi khí hậu toàn cầu nên "hiệu ứng nhà kính" đã được nhắc đến thường xuyên
hơn. Vì vậy, tháng 12/1997 bản dự thảo về "nghị định thư Kyoto, nhằm cam
kết cắt giảm khí thải, hạn chế sự nóng lên của toàn cầu" được ký kết và chính
thức có hiệu lực vào tháng 02/2005, tính đến tháng 02/2009 đã có 181 nước ký
kết tham gia nghị định này, trong khi đó chỉ có 2 nước (Hoa Kỳ và Kazakhstan)
không tiến hành biện pháp cắt giảm khí thải nhà kính.
Theo các số liệu thống kê cho thấy, mỗi năm lượng CO
2
toàn cầu sinh ra
nên kết quả sinh ra CO
2
là âm.
Cơ chế của "hiệu ứng nhà kính" được giải thích như sau: do Mặt trời
chiếu ánh sáng hàng ngày xuống trái đất bằng các bước sóng ngắn xuyên qua
môi trường không khí trong suốt và được mặt đất hấp thụ, rồi sau đó bức xạ trở
lại ra ngoài không gian với nhiệt độ bức xạ thấp và truyền đi phần lớn bằng bức
sóng dài. Khi có sự hiện diện quá nhiều khí CO
2
và một số tác nhân khác trong
bầu khí quyển ngày càng tăng (đặc biệt là ở tầng đối lưu) tạo nên một màng
chắn chỉ cho phép bước sóng ngắn của ánh sáng mặt trời đi qua chiếu xuống
mặt đất, nhưng lại hấp thụ năng lượng ngăn cản sự bức xạ nhiệt dạng bước
sóng dài từ mặt đất ra ngoài không trung (giống như hiện tượng ánh nắng chiếu
vào nhà kính nhưng khó tỏa nhiệt trở ra ngoài), ngăn cản sự tỏa nhiệt làm cho
mặt đất ngày càng nóng lên.
6.4.3. Phá hủy tầng ozôn:
Tầng ozôn có tác dụng ngăn các tia tử ngoại từ mặt trời chiếu xuống để
bảo vệ sự sống cho trái đất. Vào những năm 1970, người ta đã phát hiện chất
CFC (được sinh ra từ các hoạt động trong sản xuất công nghiệp và trong sinh
hoạt của con người) cùng với một số chất khí ô nhiễm khác trong không khí có
khả năng tạo phản ứng với ozôn, tác động làm mỏng dần và phá hủy lớp ozôn ở
tầng bình lưu, và đến năm 1985 các nhà khoa học cũng đã phát hiện lỗ thủng
tầng ozôn ở tầng bình lưu của vùng Nam cực. Sự phá hủy tầng ozôn sẽ làm
tăng tỉ lệ ung thư da, bệnh khô mắt, rối loạn miễn dịch, rối loạn hệ sinh thái
Do đó, vào tháng 9/1987 tại hội nghị toàn cầu ở Montreal, Canada đã ban hành
một nghị định về loại trừ hoàn toàn sản xuất và sử dụng các chất làm suy giảm
23
tầng ôzôn đó là "nghị định thư Montreal" đến nay đã có 175 quốc gia ký kết
thực hiện nghị định này.
xuyên và để lại nhiều hậu quả hết sức trầm trọng như: nhiệt độ tăng cao, hạn
hán kéo dài, lũ lụt bất thường và dữ dội, nhiều cơn bão thất thường và mạnh mẽ
đã gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản; động đất, sóng thần
7. CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ KHỐNG CHẾ SỰ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ:
7.1. Khống chế các nguồn nhằm giảm các tác nhân ô nhiễm:
Chính phủ cần ban hành các luật qui định về quản lý và kiểm soát môi
trường, thực hiện luật bảo vệ môi trường, quản lý và kiểm soát những nguồn và
các tác nhân gây ô nhiễm, nhằm cải thiện chất lượng không khí.
Thay thế các trang thiết bị - phương tiện kỹ thuật cũ bằng trang thiết bị -
phương tiện kỹ thuật hiện đại, dây chuyền khép kín, xử lý tốt các chất thải, khí
thải trước khi thải ra môi trường. Công nghệ làm sạch không khí phải luôn
được hoàn thiện.
Chuyển các động cơ, lò đốt bằng nhiên liệu than đá, xăng dầu sang sử
dụng năng lượng mặt trời, năng lượng thủy điện Các động cơ, phương tiện
giao thông cần cải tiến sử dụng điện năng hay thiết kế bộ phận đốt cháy hoàn
toàn nhiên liệu, sử dụng các nhiên liệu cao cấp ít độc chất. Đồng thời, phải
kiểm soát và quản lý nồng độ các khí thải của các động cơ, phương tiện giao
thông, kiên quyết bắt buộc ngưng hoạt động đối với các động cơ, phương tiện
giao thông quá niên hạn sử dụng hay nồng độ khí thải vượt quá ngưỡng qui
định. Trong sinh hoạt hằng ngày (nấu nướng, thấp sáng ) hạn chế sử dụng các
loại nhiên liệu như: than đá, củi, dầu Ngoài ra, cần phải có biện pháp quản lý
chặt chẽ phòng chống cháy rừng, chống đốt phá rừng, hạn chế đốt rơm rạ và
25