TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đề tài tiểu luận triết học:
TRÀO LƯU TRIẾT HỌC KHOA HỌC VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ ĐẾN XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY THỜI HIỆN ĐẠI
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Học viên thực hiện: Nguyễn Thái Bình
Mã số học viên: 7701220076
STT: 9 - Nhóm 2 Lớp đêm 1- K22
TP.HCM, ngày 9 tháng 12 năm 2012
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC KHOA HỌC ĐẾN XÃ HỘI PHƯƠNG
TÂY THỜI HIỆN ĐẠI
Trang 1
I. LỜI MỞ ĐẦU:
I.1. Tổng quan về đề tài :
Triết học phương Tây hiện đại bao gồm những khuynh hướng triết học ngoài triết
học Mác, ra đời và phát triển mạnh trong thời kỳ tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư
bản.
Nó phản ánh những mâu thuẫn, bế tắc của CNTB hiện đại: các hệ thống triết học
tư biện trở nên lỗi thời, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, hai cuộc chiến tranh
thế giới do chủ nghĩa đế quốc gây ra, tình trạng khủng hoảng tâm lý, tính dục trong
xã hội hiện đại, vấn đề tôn giáo, v.v Triết học phương Tây hiện đại có nhiều
khuynh hướng khác nhau, đối lập nhau nhưng đều phản ánh những khía cạnh khác
nhau của xã hội tư bản và thể hiện sự bế tắc trong việc giải quyết những vấn đề do
xã hội tư bản đặt ra. Các khuynh hướng chủ yếu là:
♦ Duy khoa học (chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa hậu thực chứng )
♦ Nhân bản phi lý tính (chủ nghĩa hiện sinh)
♦ Triết học thực tiễn (chủ nghĩa thực dụng)
♦ Đề cao vô thức (chủ nghĩa Phơrơt)
lượng xã hội mới và các mâu thuẫn xã hội mới ngày càng bộc lộ gay gắt. Họ không
còn nhu cầu chống lại thần học, tôn giáo như trước đây. Nhưng để phát triển sức sản
xuất, củng cố sự thống trị của bản thân họ, giai cấp tư sản cần phát triển khoa học kỹ
thuật. Vì vậy, giai cấp này tìm cách điều hoà mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo.
Dưới chế độ tư bản, tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sản xuất phát triển
mạnh mẽ nhưng vẫn không đưa lại “tự do, bình đẳng, bác ái”. Trái lại, nó còn dẫn
đến các cuộc khủng hoảng xã hội, khủng hoảng tinh thần, khủng hoảng sinh thái
Trang 3
ngày càng sâu sắc, đẩy con người vào tình trạng tha hoá toàn diện ngày càng nặng
nề hơn.
Trong điều kiện lịch sử đó, trong triết học phương Tây đã diễn ra sự tách biệt và sự
đối lập giữa chủ nghĩa duy khoa học và chủ nghĩa nhân bản. Để phát triển sản xuất,
gia tăng lợi nhuận, giai cấp tư sản cần đến khoa học, nhưng lại lý giải khoa học một
cách duy tâm, do đó đã hình thành trào lưu triết học duy khoa học theo lập trường
duy tâm đầy mâu thuẫn trong vấn đề con người và xã hội, giai cấp tư sản không
muốn thừa nhận các quy luật khách quan của sự phát triển nên họ đề cao chủ nghĩa
phi duy lý. Do đó đã hình thành trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lý. Trào lưu
duy khoa học và trào lưu phi duy lý dường như đối lập nhau, nhưng trên thực tế lại
bổ sung nhau, vì chúng đều cần thiết cho sự ổn định và phát triển của xã hội tư bản,
đều là phản ánh mâu thuẫn trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại.
Trong dòng triết học duy khoa học thì chủ nghĩa thực chứng mới và chủ nghĩa thực
chứng cũ là hai trào lưu triết học cơ bản của phương Tây thế kỷ XX. Sự ra đời và
phát triển của hai trào lưu triết học này có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển như vũ
bão của khoa học phương Tây thế kỷ XX. Hai trào lưu triết học này phát triển kế
tiếp nhau trong lịch sử, có nhiều điểm chung trong quan niệm về nhận thức khoa
học. Mặc dù đều thuộc về chủ nghĩa duy khoa học, chúng cũng có nhiều điểm trái
ngược nhau. Chủ đề trọng tâm mà hai quan điểm triết học này quan tâm là vấn đề
phương pháp luận nhận thức khoa học.
Chủ nghĩa thực chứng mới xuất hiện và phát triển trong điều kiện cuộc cách mạng
khoa học đầu thế kỳ XX phát triển mạnh mẽ, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã
học, hóa học, sinh học, xã hội học, kinh tế học, tâm lý học v.v… Quy luật bảo toàn
và chuyển hóa năng lượng đã chứng minh một cách khoa học về mối quan hệ không
Trang 5
tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn của các hình thức vận động
của vật chất trong thế giới tự nhiên. Thuyết tiến hóa đã đem lại cơ sở khoa học về sự
phát sinh, phát triển đa dạng bởi tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa
các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên. Thuyết tế bào là một
căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất về mặt nguồn gốc, hình thái và cấu tạo
vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình phát triển sự sống trong
mối liên hệ của chúng. Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tiến hóa
và thuyết tế bào là những thành tựu khoa học bác bỏ tư duy siêu hình và quan điểm
thần học về vai trò của “ Đấng Sáng Thế”, khẳng định tính đúng đắn của quan điểm
duy vật biện chứng về thế giới vật chất là vô cùng , vô tận, tự tồn tại, tự vận động, tự
chuyển hóa; khẳng định tính khoa học của quan điểm duy vật biện chứng trong nhận
thức và thực tiễn.
Tuy nhiên, với sự phát triển ngày càng nhanh của khoa học trong xã hội phương
Tây vào những năm 50 – 60 của thề kỷ XX, chủ nghĩa thực chứng mới với mong
muốn quy mọi lý thuyết khoa học về kinh nghiệm khoa học của nó, ngày càng trở
nên lạc hậu hơn và không thích hợp được nữa với sự phát triển khoa học. Điều đó
đòi hỏi quan điểm của chủ nghĩa thực chứng mới phải thay đổi. Điều đó cũng chứng
tỏ ý đồ loại trừ những vấn đề thế giới quan ra khỏi nhiệm vụ của triết học, ý đồ hình
thức hóa mọi lý thuyết khoa học, hay đưa mọi tri thức lý thuyết về tri thức kinh
nghiệm v.v… của chủ nghĩa thực chứng mới là không thể thực hiện được và là một
sai lầm cơ bản.
Quá trình phê phán sai lầm đó của chủ nghĩa thực chứng mới dẫn đến sự ra đời của
chủ nghĩa hậu thực chứng. Về mặt này, có thể xem chủ nghĩa hậu thực chứng xuất
hiện với tư cách là trào lưu triết học đối lập với chủ nghĩa thực chứng mới. Trên
thực tế, vào những năm 60 -70 của thế kỷ XX, chủ nghĩa hậu thực chứng đã được
hình thành một cách căn bản, mà người đặt nền móng là Cáclơ Raimanđơ
Trang 6
khoa học tạm thời. Việc nảy sinh vấn đề và việc xây dựng các lý thuyết khoa học
tạm thời ở đây chỉ là những quy ước, những giả thuyết tưởng tượng hoàn toàn chủ
quan chưa phải là khoa học. Nó có thể đúng, có thể sai. Vì vậy, bước tiếp theo phải
loại bỏ cái sai, nghĩa là phải thực hiện những sự phê phán thực chất là những phép
thử có tính chất ngụy tạo kinh nghiệm, và cuối cùng đi đến vấn đề khoa học mới vẫn
nằm trong thế giới thứ ba. C.Pôppơ cho rằng mọi lý thuyết khoa học đều phải chịu
sự phê phán mới trở thành khoa học. Điều này phù hợp với thực tế quá trình phát
triển lý thuyết khoa học. Cũng như trong tập sách ” Tri thức khách quan” ( 1972)
của mình ông cho rằng : " lý thuyết khoa học bao giờ nó cũng đi trước quan sát, còn
những quan sát và những trắc nghiệm thực nghiệm đóng vai trò chỉ cho ta thấy một
vài lí thuyết của ta là sai kích gợi chúng ta khám phá những lí thuyết khả quan hơn.
Và mỗi khi đối mặt với một vấn đề, ta thường bắt đầu tìm cách giải quyết ta thường
hành xử theo hai cách: lúc đầu ta có thể dự đoán hoặc phỏng định một giải pháp, rồi
sau đó tìm cách phê phán hay bác bỏ cái dự đoán do ta đưa ra, và tri thức của mỗi
con người được tăng trưởng theo phương pháp phỏng định và bác bỏ này. Và quan
điểm này cũng được Einstein đã trình bày tại Hội nghị Herbert Spencer năm 1933”.
Và ông cũng cho rằng sự tăng trưởng của tri thức của chúng ta là kết quả của một
quá trình rất gần gũi với cái mà Darwin gọi là quá trình "chọn lọc tự nhiên"; tức là
quá trình chọn lọc tự nhiên của các giả thuyết: tri thức của chúng ta ở mọi thời điểm
đều đuợc cấu thành với những giả thuyết đã chứng tỏ được khi năng thích nghi
( mang tính so sánh) cúa chúng, bằng việc đến giờ này chúng ván tiếp tục sống sót
được trong cuộc đấu tranh sinh tồn của mình; một cuộc chiến đấu tranh giành nhằm
loại trừ những giả thuyết không thích nghi.
Tuy nhiên quan niệm về sự phát triển tri thức khoa học của C.Pôppơ mới chỉ là mô
tả biểu hiện bên ngoài của quá trình đó, chưa nói lên nguyên nhân thực sự của quá
trình đó là gì và hoàn toàn khác với quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Trang 8
Các bước của quá trình phát triển lý thuyết khoa học theo quan điểm của C.Pôppơ
có thể biểu hiện bằng sơ đồ sau:
VĐ > LL1 >LS > VĐ2 …1
của Thomas S. Kuhn về bản chất của những phát minh khoa học và tiến trình phát
triển của khoa học. Lakatos không tán thành nguyên tắc phủ chứng của Pôppơ và
quan niệm về vai trò quyết định của “hệ chuẩn” của Kuhn đối với tri thức khoa học.
Theo Lakatos, cả Pôppơ và Kuhn đều phủ nhận tính chân lý khách quan và tính liên
tục của sự phát triển tri thức khoa học.
Lakatos, trái lại, coi sự phát triển của khoa học là quá trình phát triển từ thấp lên
cao trong tính liên tục của Cương lĩnh nghiên cứu khoa học. Cương lĩnh này được
tạo thành từ bốn yếu tố là: hạt cứng, dây bảo hộ, quy tắc gợi ý phản diện và quy
tắc gợi ý chính diện. Trong đó các học thuyết có liên hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi
học thuyết tiếp sau học thuyết ban đầu trong chương trình đều xuất hiện với tư
cách là kết quả bổ sung thêm cho học thuyết trước đó. Tuy nhiên, các học thuyết
đều chia xẻ những điểm chung mà Lakatos gọi là “hạt nhân cứng” .
Như vậy, nếu chủ nghĩa phủ chứng thô sơ chỉ quan tâm đến khía cạnh lôgích, lý
tính mà ít hay không chú trọng đến lịch sử, sự kiện hiện thực, thì chủ nghĩa phủ
chứng tinh tế đã bàn đến vai trò của lịch sử hiện thực, nhưng lịch sử hiện thực lại bị
che đậy kín đáo bởi lý tính tự do vô hạn. Điều này nói rằng, chủ nghĩa phủ chứng cố
vượt ra khỏi chủ nghĩa lôgích, nhưng nó vẫn còn bị ràng buộc với lý tính lôgích
trong nó, chủ nghĩa lịch sử mới chỉ nhú mầm chứ chưa bám rễ vững chắc. Sau này
khi xuất phát từ thực trạng của khoa học và các yếu tố bên ngoài của khoa học như
tín niệm tập thể của cộng đồng khoa học , Cun (1922 –1996), nhà triết học khoa
học Mỹ đã làm cho chủ nghĩa lịch sử xuất hiện với một sức sống mãnh liệt.
Ông cho rằng, trong sự nghiệp khoa học luôn tồn tại các khối cộng đồng khoa học
độc lập nhau, bị chi phối bởi các kiểu mẫu mực khác nhau. Khối cộng đồng khoa
Trang 10
học là một tập hợp các con người cùng làm công tác khoa học, có sự tiếp thụ văn
hóa cơ bản giống nhau, có sự giao lưu nội bộ tương đối đầy đủ, có sự nhất trí về
quan niệm chuyên môn, có những bài học kinh nghiệm và phong thái tư duy gần
nhau Những khối cộng đồng khoa học khác nhau luôn chú ý đến những vấn đề
khoa học khác nhau, hay cùng chú ý đến một vấn đề nhưng theo những cách khác
nhau. Vì vậy, giữa các khối cộng đồng khoa học khác nhau khó có sự trao đổi
. Tiền khoa học là thời kỳ hình thành dần các quan điểm, lý luận, phương
pháp cơ bản thống nhất đưa đến sự ra đời một kiểu mẫu mực ….
. Khoa học bình thường là thời kỳ cả khối cộng đồng khoa học công nhận và
kiên định sử dụng một kiểu mẫu mực để tập trung tinh lực giải quyết các vấn đề nảy
sinh trong nghiên cứu mà không cần kiếm tra phê phán hay thay đổi nó. Tuy nhiên,
do đối tượng nghiên cứu phức tạp bị gò ép theo một kiểu mẫu mực đơn điệu, nên
những sự kiện bất thường xuất hiện. Để biến sự kiện bất thường thành bình thường
cần phải nhanh chóng điều chỉnh lý luận và phương pháp, mà kết quả là lý luận
phong phú thêm, phương pháp hiệu quả hơn và tri thức tinh xác thêm
. Khủng hoảng khoa học là thời kỳ mà sự kiện bất thường xuất hiện ngày
càng nhiều và càng gay gắt, còn sự điều chỉnh bổ sung lý luận về phương pháp
không còn tác dụng nữa. Lúc này, lý luận trở nên mơ hồ, phương pháp trở nên kém
hiệu quả, khoa học mất phương hướng, kiểu mẫu mực hiện hành bị nghi ngờ.
Những quan điểm, lý luận, phương pháp mới cạnh tranh nhau làm cho kiểu mẫu
mực này đứng trên bờ vực sụp đổ. Một số thành viên của khối cộng đồng tiếp tục cố
giữ kiểu mẫu mực cũ và cự tuvệt kiểu mẫu mực mới. Một số thành viên khác chủ
trương từ bỏ kiểu mẫu mực cũ và ra sức xây dựng kiểu mẫu mực mới. Khối cộng
đồng khoa học bị phân hóa, chia rẽ và tan rã khi hai xu hướng này xung đột mạnh
mẽ. Đây là thời kỳ tinh thần phê phán sáng tạo dâng cao nhất…
Trang 12
. Cách mạng khoa học là thời kỳ phá bỏ kiểu mẫu mực cũ, xây dựng kiểu
mẫu mực mới đầy sức sống, và cơ cấu lại khối cộng đồng khoa học. Nhờ vậy mà
các sự kiện bất thường nhất cũng biến thành bình thường. Trong cách mạng khoa
học, lực lượng tiến bộ chủ yếu là các nhà khoa học trẻ, ít chịu ảnh hưởng bởi kiểu
mầu mực cũ, có niềm tin vào nó không sâu, nên dễ hoài nghi và nhanh chóng từ bỏ
nó. Còn lực lượng bảo thủ là các nhà khoa học thuộc thế hệ già được rèn luyện lâu
dài và chịu ảnh hưởng sâu bởi kiểu mẫu mực cũ, nên họ khó từ bỏ nó để chấp nhận
kiểu mẫu mực mới. Nhiều kiểu mẫu mực mới cạnh tranh nhau mãnh liệt. Để một
kiểu mẫu mực nào đó có cơ may được khối cộng đồng khoa học thừa nhận thì nó
phải hội đủ những tiêu chuẩn khách quan và có được những nhân tố chủ quan như
của nhận thức khoa học. Chủ nghĩa lịch sử đã đưa Cun đến thuyết bất khả tri, chủ
nghĩa quy ước, chủ nghĩa tương đối, nhưng các lý luận về cách mạng khoa học, về
vai trò của yếu tố lịch sử - tâm lý - xã hội tác động đến việc xác lập kiểu mẫu mực
(hay lý luận khoa học), về vai trò của kiểu mẫu mực quy định quan điểm - lý luận -
phương pháp cơ bản của một khối cộng đồng khoa học, về sự cạnh tranh giữa các
kiểu mẫu mực trong quá trình phát triển khoa học luôn là những giá trị to lớn của
triết học Cun. Ông xứng đáng là người khởi xướng chủ nghĩa lịch sử và làm cho nó
tuôn ra mạnh mẽ trong trào lưu triết học khoa học.
Và trong tác phẩm “Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học” (1962), Cun
lập luận rằng sự nghiên cứu khoa học và tư tưởng nói chung bị quy định bở những
“hệ chuẩn” (hệ quy chiếu). Hệ chuẩn được Cun quan niệm như là một hệ thống
niềm tin được chấp nhận hơn là một hệ thống những tiêu chuẩn khách quan. Các
nhà khoa học chấp nhận một hệ chuẩn đang được thịnh hành, tiến hành và mở rộng
hoạt động nghiên cứu trong phạm vi hệ chuẩn đó.
Dần dần những hệ chuẩn này không còn thích hợp nữa gây ra một cuộc
khủng hoảng và chỉ được giải quyết bằng một cuộc cách mạng thay đổi thế hệ chuẩn
cũ bằng một hệ chuẩn mới, chẳng hạn như là sự thay thế thuyết địa tâm của Ptôlêmy
Trang 14
bằng thuyết nhật tâm của Côpecnich, thay thế hệ chuẩn của Niutơn về một vũ trụ cơ
giới bằng hệ chuẩn của Einstein về một vũ trụ tương đối. Thật ra, đây là một cách
nhìn phiến diện. Nó tuyệt đối hóa yếu tố chủ quan và phủ nhận yếu tố khách quan là
yếu tố giữ vai trò quyết định trong nội dung và phương pháp nghiên cứu của các
khoa học.
III. Kết Luận
Trong mọi lĩnh vực đặc biệt là khoa học kỹ thuật (KHKT) luôn có tính kế thừa, cái
đi trước rồi sẽ bị phủ chứng để hình thành một cái đi sau tốt hơn, hoàn thiện hơn và
như thế cứ tiếp diễn từ thời đại này đến thời đại khác, như là ” Mỗi học thuyết tiếp
sau học thuyết ban đầu trong chương trình đều xuất hiện với tư cách là kết quả bổ
sung thêm cho học thuyết trước đó ”. Nhưng mỗi tư tưởng, mỗi phát minh đều để lại
cho con người những giá trị vô cùng quý báu, ảnh hưởng lên đời sống xã hội con
hưởng” hoặc “ngoại vi”, riêng châu Phi (trừ đất nước Nam Phi) bị coi là “sa mạc
của khoa học”.
Cuộc cách mạng KHCN đã làm biến đổi tồn tại xã hội và ý thức xã hội, lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất; khiến nhân loại phải cấu trúc lại giáo dục, thay đổi
nhận thức về KH & CN; tác động sâu sắc đến thế giới quan, nhân sinh quan và cách
thức tiến hành cuộc sống; thay đổi các quan niệm về giá trị, đạo đức, tôn giáo, nghệ
thuật, môi trường, cũng như về vị trí và vai trò của con người trong thế giới. Nó đưa
nhân loại tiến tới cái mà Masuda (học giả người Nhật) gọi là "xã hội thông tin", hay
Daniel Bell (Mỹ) gọi là "xã hội hậu công nghiệp", "xã hội dịch vụ" Nó hình thành
nên một "nền văn hoá mới" dựa trên cơ sở của KHCN: văn hoá số, văn hóa @, văn
hóa mềm, văn hóa ảo để chỉ sự kết nối, phi biên giới, hiện thực ảo, cá nhân hóa,
bùng nổ sáng tạo. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, nó làm cho "những cá nhân có
tính địa phương được thay thế bằng những cá nhân có tính lịch sử thế giới" (Karl
Trang 16
Marx), tức là những cá nhân đã trực tiếp liên hệ với toàn thế giới .
Trên quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể, việc nhìn nhận đúng vị trí và vai trò của
KHCN là điều rất có ý nghĩa. Chúng ta bao giờ cũng cần có những công cụ và
phương tiện lao động tốt hơn để sinh tồn, chống lại thiên tai, dịch bệnh, hiểu biết và
cải tạo thế giới.
Nhưng trên hết triết học đã đi trước KHKT trên nhiều lĩnh vực, và bằng những tư
tưởng đúng đắn, bằng những dự kiến thiên tài, triết học đã không những vạch đường
cho KHKT tiến lên và giúp cho KHKT phương hướng và những công cụ nhận thức
để khắc phục những khó khăn trở ngại vấp phải trên đường đi của mình.
Trang 17
Một số tài liệu tham khảo nhằm giải quyết mục tiêu trên:
. Triết Học phần 1 : Đại cương về lịch sử Triết Học - TS.Bùi Văn Mưa (chủ biên).
. Triết Học và Bức Tranh Vật Lý Học về thế giới - TS.Bùi Văn Mưa.
. Giáo trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác Lê Nin – Nhà Xuất
Bản Chính Trị Quốc Gia
. Sách Tri Thức Khách Quan của tác giả C.Poppơ dịch giả Chu Đình Lan