Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI 2:
TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG GIA VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN XÃ HỘI PHƯƠNG
ĐÔNG
GVHD
: TS Bùi Văn Mưa
HVTH
: Phạm Thị Ngọc Uyên
Lớp
: Ngày 4 K22
Nhóm
: 9
STT
: 81
Tp.HCM, năm học 2012 – 2014
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 2
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 4
TÓM TẮT
Ở phương Đông, bộ phận văn hoá dân gian chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu nền văn hoá
dân tộc và có vai trò rất quan trọng trong lịch sử, nhất là ở việc bồi dưỡng tâm hồn con
người, thống nhất cộng đồng. Văn hoá dân gian cũng là nơi bảo lưu những giá trị văn hoá
lâu đời của dân tộc. Nhiều giá trị văn hoá dân gian đã trở thành bộ phận của đời sống xã
hội hiện đại, trong đó có Triết lý âm dương – một thành tựu đặc sắc của tư duy Á Đông.
Ngay từ khi ra đời, triết lý âm dương đã được người phương Đông nhất là ở Trung Quốc
và Việt Nam, vận dụng vào mọi lĩnh vực của đời sống: từ nhận thức về vũ trụ đến nhận
thức về con người, từ tổ chức đời sống tập thể đến đời sống cá nhân, từ ứng xử với môi
trường tự nhiên đến ứng xử với môi trường xã hội. Có thể khẳng định rằng, Triết lý âm
dương đã đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống người phương Đông
nói chung, và của người Việt nói riêng.
chất, quan hệ …) và khuynh hướng như: giống cái, đất, mẹ, vợ, nhu, thuận, tối ẩm, phía
dưới, bên phải, số chẵn …, tĩnh, tiêu cực …
Dương là phạm trù đối lập với âm, phản ánh những yếu tố, tố (sự vật, hiện tượng, tính
chất, quan hệ …) và khuynh hướng như: giống đực, trời, cha, chồng cương, cường, sáng,
khô, phía trên, bên trái, số lẻ …, động, tích cực …
Âm và dương không chỉ phản ánh hai loại yếu tố (lực lượng) mà còn phản ánh hai loại
khuynh hướng đối lập, không tách rời nhau, ôm lấy nhau, xoắn vào nhau; vì vậy, trong
âm có dương, và trong dương có âm. Đó cũng là sự thống nhất giữa cái động và cái tĩnh;
trong động có tĩnh, và trong tĩnh có động …; nghĩa là trong âm và trong dương đều có
tĩnh và có động; và chúng chỉ khác ở chỗ, bản tính của dương là hiếu động, còn bản tính
của âm là hiếu tĩnh … Do thống nhất, giao cảm với nhau mà âm và dương có động; mà
động thì sinh ra biến; biến tới cùng thì hóa để được thông; có thông thì mới tồn vĩnh cửu
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 6
được. Như vậy, sự thống nhất và tác động của hai lực lượng, khuynh hướng đối lập âm và
dương tạo ra sự sinh thành biến hóa của vạn vật; nhưng, vạn vật khi biến tới cùng thì
quay trở lại cái ban đầu.
1.2.1.2. Nội dung nguyên lý âm dương
Âm và dương thống nhất , giao hòa lẫn nhau; trong âm có dương và trong dương có âm.
Âm và dương tác động, chuyển hóa lẫn nhau; dương cực thì âm sinh, dương tiến thì âm
lùi, dương thịnh thì âm suy …; và ngược lại.
1.2.2. Quá trình biến dịch từ cái duy nhất thành đa dạng của vạn vật trong
vũ trụ
Thái cực → Lưỡng nghi → Tứ tượng → Bát quái → Trùng quái → Vạn vật.
Thái cực là cội nguồn của mọi sự biến hóa trong vũ trụ, nó thống nhất trong mình hai lực
lượng đối lập âm và dương (lưỡng nghi). Lưỡng nghi giao cảm, biến hóa lẫn nhau tạo
thành tứ tượng (thái dương thiếu dương, thái âm thiếu âm)… Khi chưa có chữ viết, âm
được ký hiệu bằng vạch đứt ( ), và dương được ký hiệu bằng vạch liền (−). Khi lấy
Hỏa: lửa, mùa hạ, phương nam, màu đỏ, vị đắng
Thổ: đất, giữa hạ và thu, trung ương, màu vàng, vị ngọt…
Kim: kim khí, mùa thu, phương tây, màu trắng, vị cay…
Thủy: nước, mùa đông, phương bắc, màu đen, vị mặn…
Nội dung quy luật ngũ hành
Ngũ hành sinh hóa và chế ước lẫn nhau theo trình tự
Một là, tương sinh: thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh
hỏa, hỏa sinh thổ.
Hai là, tương khắc: thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc
mộc, mộc khắc thổ.
Có thể diễn đạt sự tương tác sinh – khắc trên bằng biểu tượng đường tròn ngoại tiếp hình
ngôi sao năm cánh với các đỉnh lần lượt theo chiều kim đồng hồ là thổ, kim, thủy, mộc,
hỏa. Theo chiều kim đồng hồ trên đường tròn thể hiện quá trình tương sinh. Còn theo các
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 8
cạnh hình ngôi sao (cũng tiến theo chiều kim đồng hồ) thể hiện quá trình tương khắc. Âm
dương gia cho rằng không chỉ các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên mà cả hoạt động của
con người và đời sống xã hội đều tuân theo quy luật ngũ hành tương sinh – tương khắc.
Thí dụ, (1) Trong tự nhiên, gỗ bị đốt sinh ra lửa (mộc sinh hỏa); Lửa thiêu cháy mọi vật
tạo thành tro – đất (hỏa sinh thổ); Trong lòng đất sinh ra các quặng thể rắn – kim loại (thổ
sinh kim); Vật rắn bằng kim loại bị nóng chảy sang thể lỏng (kim sinh thủy); Nước là
thành phần không thể thiếu được để cây cối sinh sôi nảy nở (thủy sinh mộc)… Rễ cây ăn
sâu vào đất (mộc khắc thổ); Đất thấm nước, ngăn chặn dòng nước (thổ khắc thủy); Nước
làm tắt lửa (thủy khắc hỏa); Lửa nóng làm chảy kim loại (hỏa khắc kim); Dụng cụ kim
loại cưa chặt được gỗ (kim khắc mộc)… (2) Tháng Giêng, mùa xuân, gió thổi tan hơi
lạnh, sinh vật nằm yên trong mùa đông bắt đầu trỗi dậy. Đó là tháng khí trời tỏa xuống,
khí đất dâng lên, trời đất hòa hợp với nhau, cây cối đâm chồi nảy lộc. Vào tháng này, bậc
đế vương chỉ nên điều hòa mệnh lệnh làm vui, thi ân cho trăm họ được lấy lộc, cấm chặt
Khí được dịch là hơi thở hay năng lượng là ý niệm quan trọng nhất trong thuật phong
thuỷ. Khí là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến đời sống loài người. Khí là năng lượng hay
lực tạo nên núi, điều hướng sông suối, màu sắc, hình dạng cây cỏ. Năng lượng này người
ta gọi là “long điểm”. Trong thuật Phong thuỷ, các chuyên gia thăm dò mạch tốt hay
“dưỡng” khí và rồi khơi hướng, thanh lọc khí để bồi dưỡng sự sống và người ngụ cư. Từ
xa xưa, người Hoa cho rằng khí ảnh hưởng đến vận mạng và các liên hệ xã hội của một
người. Dù sao cũng có giới hạn của nó. Tuy nhiên, dưỡng khí làm vận may khá hơn; khác
với người có sẵn dịp may mà không luyện khí. Làm thế nào để cân bằng khí vận hành
trong môi trường giúp tăng và hài hoà với năng lượng chúng ta. Khí của người và cả ngôi
nhà giống nhau, cả hai phải vận chuyển điều hoà. Khí của một ngôi nhà ảnh hưởng đến
bầu không khí và người ở nơi ấy. Có một vài nơi chúng ta cảm thấy thích thú dễ chịu, có
nơi ta cảm thấy bứt rứt khó chịu: Có chỗ thì sinh động sáng sủa, có chỗ lại lạnh lẽo, âm u,
nặng nề. Điều hoà và tăng vận khí là mục đích căn bản của phong thủy. Vượng khí vào
nhà làm vượng khí cho người ngụ cư. Ý niệm về khí là điều cốt tủy trong việc đánh giá
nhà cửa, văn phòng, đất đai cũng như các yếu tố bên trong và bên ngoài.
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 10
2.2. Mối liên hệ giữa Âm dương và Phong thủy trong xã hội Trung Quốc cổ
đại
Cùng với Âm- Dương, ngũ hành là một phương thức bổ sung để phân tích và hòa điệu
khí của người và ngôi nhà. Khí chia thành 5 nguyên tố sau: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Những hành này là tính chất tinh tuý của mọi sự, mọi vật. Các hành này cùng kết hợp
với các màu sắc, mùa màng, phương hướng, tinh tú, các phủ tạng trong người
v.v…Phong thủy dùng chu kỳ của các màu sắc để điều chỉnh khí. Trong chu kỳ sáng tạo
(tương sinh), Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy,Thủy sinh Mộc, Mộc sinh
Hỏa. Trong chu kỳ hủy diệt (tương khắc), Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc
hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.
Nghiên cứu của nhóm Dương Văn Hoành, Âm Dương là tổ tiên của Phong thủy, nói về
bố trí Âm Dương học, lập Giáo thụ ở các lộ, châu, phủ, tất cả những thầy Âm Dương đều
bị quản lý, trong đó cũng bao gồm các thầy Phong Thủy. Cho đến đời nhà Minh vẫn còn
thông lệ đó, trong Minh Sử - Chức Quan Chí ghi chép, năm thứ 17 Hồng Vũ đời Minh
Thái Tổ lập ra các chức quan về Âm Dương học, ở mỗi châu, phủ, huyện, đặt một người,
phàm là bậc am tường thiên văn, đoán thời tiết, bói sao, xem chỗ ở, chọn ngày tốt đều tập
trung vào quản lý. Nhà Thanh kế thừa chế độ nhà Minh, vẫn tổ chức như thế. Một cách tự
nhiên, các nhà Phong Thủy hoàn toàn giống với những nhà thiên văn, xem thời tiết, xem
sao, và thường được gọi là “ Âm Dương tiên sinh”.
Song, ngoài những điều này, Phong Thủy và Âm Dương còn có mối tương quan chặt chẽ,
nhưng không hoàn toàn giống nhau, một là có nguồn gốc trong các ghi chép nòi về việc
chọn chỗ ở, hai chữ “Âm Dương” đã xuất hiện như thế, phái lý khí, đều tiếp nhận một
lượng lớn khái niệm Âm Dương mang ý nghĩa Triết học để bàn luận về cách thức xem
xét, đo đạc Phong Thủy của mình.
Hai chữ Âm Dương xuất hiện trong sách vở, được tìm thấy sớm nhất trong chương Công
Lưu của Kinh Thi, nói rằng vào cuối thời nhà Hạ, Công Lưu dẫn dân tộc Chu di chuyển
từ đất Đài đến đất Mân, đo đạc xem xét điều kiện địa thế núi sông và thủy thổ, kế tiếp lá
quy hoạch xây dựng nhà ở, để những cư dân cổ dân tộc Chu có được nơi an cư lạc
nghiệp. Bộ sự thi đẹp đẽ này đã miêu tả một cách rõ ràng chi tiết mọi hoạt động cư trú
của Công Lưu – thủ lĩnh bộ lạc – người đã rất cần mẫn xem xét thăm dò, quy hoạch nơi
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 12
cư trú của bộ lạc, như “đi quan sát vùng đất này”, “lên đỉnh núi quan sát, quay trở xuống
đồng bằng”, “tơi chỗ có hàng trăm con suối, quan sát vùng đồng bằng rộng lớn, đi lên
ngọn núi cao phía Nam, quan sát vùng đồng bằng rộng lớn, đi lên ngọn núi cao phía
Nam, quan sát chỗ đất kinh”, “quan sát khe suối”, “đo đạc vùng đồng bằng trũng”, “tính
toán bóng nắng buổi chiều” … trong đó có câu “lên núi đo bóng nắng, quan sát Âm
Dương” chẳng những được các nhà Phong Thủy qua các thời đại chú trọng, dẫn ra làm
điển lệ, mà còn được coi trọng trong các nghiên cứu lịch sử thiên văn học, lịch sử đại lý
xem xét và đo đạc một cách tỉ mỉ địa hình sông núi, đại chất thủy văn, tiểu khí hậu, thảm
thực vật, sinh thái, cảnh quan … sau đó chọn nơi ở tốt và xác định đúng phương hướng vị
trí, tiến hành xây dựng quy hoạch. Về vấn đề này, thuật ngữ Âm Dương mà người đời sau
tiếp tục dùng cũng thường lấy nghĩa gốc từ điển cố trên. Chẳng hạn như tác phẩm Chu Lễ
- Địa Quan Tư Đồ Đệ Tam ghi rằng “Chức quan Đại Tư Đồ là nắm giữ bản đồ đất đai
của quốc gia”, “phân biệt: núi rừng, sông ngòi ao đầm, gò đồi, đầm lầy, đồng bằng”.
“Dùng phương pháp thổ hội để phân biệt các loài vật sống ở năm loại đất’’, “dùng
phương pháp thổ nghi để phân biệt mười hai danh xưng và sản vật ở mỗi nơi và xem nơi
ở của dân để biết được điều lợi, hại, để nhân dân được phồn vinh, chim thú sinh sôi, cỏ
cây tươi tốt, tùy tính người mà chọn nơi ở”, “dùng phương pháp thổ khuê, đo đất dài
rộng, đo bóng nắng, để tìm đại trung”. “Khi bóng nắng chiếu xuống đo được năm tấc gọi
là điạ trung, đây là nơi đất trời hợp lại, bốn mùa chuyển giao, mưa gió hội tụ, Âm Dương
hòa hợp. Về sau vạn vật đông đúc yên ổn, đây chính là nơi xây dựng vương quốc”. Còn
như trong Hán Thư - Tiều Thố Truyện lại nói: “Quan sát sự hài hòa Âm Dương, nếm thử
vị nước suối, kiểm tra điều kiện đất đai, quan sát cỏ cây có tươi tốt hay không, sau đó lập
ấp xây thành, lập làng cắt đất làm nhà, chấn chỉnh đường sá”. Cổ Bản Táng Kinh của
Quách Phác – một trong những tác phẩm Phong Thủy kinh điển – đã nói một cách ngắn
gọn, đầy đủ về tiêu chuẩn lựa chọn của Phong Thủy như sau: “Núi sông tụ hội, Âm
Dương tương tác hài hòa, đất dày nước sâu, cỏ cây tươi tốt, quý như hàng ngàn cỗ xe tứ
mã, giàu như có ngàn vàng” …
Thuyết nguyên khí cũng được hình thành từ một Âm một Dương gọi là Đạo, khí Âm,
Dương tương tác nhau tạo nên sự hài hòa. Loại tư duy lý luận triết học này được quy về
cho các nhà Phong Thủy cũng có đầy đủ thành phần triết học tư biện, tuy nó có cả Huyền
học thậm chí cả những yếu tố mê tín , đồng thời cũng thiếu vắng triết lý xác đáng của
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 14
phép biện chứng, hơn nữa, tư duy lý luận đó lại trực tiếp làm cho mỹ học sơn thủy –
ngành học lấy sông núi tự nhiên làm đối tượng thẩm mỹ, ngày càng phtq triển hoàn thiện.
gió” đều thể hiện vẻ đẹp mạnh mẽ của Dương; gió mát, trăng thanh, hương thơm lẩn
khuất, bóng mờ, nước trôi qua chiếc cầu nhỏ, dương liễu sóng biếc và “Giang Nam hoa
hạnh mưa xuân’ đều là nét đẹp nhu mì của Âm.
Cũng theo nghiên cứu của nhóm Dương Văn Hoành, cách nhìn hữu cơ luạn đối với tự
nhiên trong Phong Thủy được biểu hiện ở bốn phương diện sau
Thứ nhất, mối quan hệ giữa trời và đất. Các nhà Phong Thủy cho rằng trời đất
tương thông là một chỉnh thể. Do đó, có tên lý thì có địa lý (Địa Lý Khu Yếu Tự). Ví dụ,
trời có Ngũ tinh, đất có Ngũ hành; trời phân tinh tú, đất chia sông núi; khí hình thành ở
đất, hình tượng thể hiện trên trời; trời có tượng, đất có hình (Thanh Nang Kinh). Những
tư tưởng này đều xuất phát từ Chu Dịch, Dịch sánh ngang với trời đất, lấy việc tu chỉnh
giới tự nhiên làm bản gốc mô tả, do đó nó và tòa bộ giới tự nhiên là một thể thống nhất.
Cũng có nghĩa là cách nhìn hữu cơ luận đối với tự nhiên của Trung Quốc cổ đại đã được
đặt nền tảng trong Chu Dịch. Dựa trên nền tảng của Chu Dịch, các nhà Phong Thủy đã
phát triển cách nhìn hữu cơ luận đối với tự nhiên lên một bước, họ cho rằng hình dáng
của núi trên trái đất trùng khớp với những tinh thể trên trời, sông ngòi, gò đồi trên mặt đất
chính là những vì sao trên trời, chúng vốn không phải là hai sự vật khác nhau.
Thứ hai, mối quan hệ giữa trời và người. Vào thời Tây Chu và trong Chu Dịch,
con người và xã hội rất được xem trọng; con người, trời và đất gọi chung là Tam tài. Nó
rất xem trọng vai trò năng động chủ quan của con người, xem con người là chủ thể. Bất
luận nói đến vấn đề nào chăng nữa thì cuối cùng cũng quy về con người và sự nghiệp của
con người. Giới tự nhiên trong vũ trụ là một thế giới lớn và con người là một thế giới
nhỏ. Sự thay đổi hiện tượng thiên văn trong tự nhiên có mối quan hệ cảm ứng trực tiếp và
cùng chung quy luật với hoạt động chuyển hóa khí trong cơ thể con người. Giữa trời và
người tồn tại một mối liên hệ nội tại, mượn trời để nói về con người, suy ngẫm đạo trời
để hiểu rõ nhân tình thế thái, đây chính là “thiên nhân nhất lý”. Các nhà Phong Thủy căn
cứ vào quan niệm này để đưa ra quan niệm “thuận theo đạo trời chính là nguồn cội của
địa lý” (Nho Môn Sùng Lý Triết Trung Kham Dư Hoàn Hiếu Lục). Sự hưng thịnh của một
gia đình, ắt do tổ tiên tích nhiều phúc đức, làm nhiều việc thiện mà không cần báo đáp.
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 17
đất quý có Phong Thủy tốt, vừa thuận theo ý trời vừa hợp với lòng người, lại có được
may mắn của địa mạch. Nếu như nhà cửa đất đai đã được chọn và xây cất mà chủ nhà
không trường thọ, con cháu hiếm hoi, tai họa liên miên, có thể là do đất ở không tốt,
Phong Thủy xấu, nhất định phải đi mời ngay thầy Phong Thủy đến giải trừ để điều hòa
mối quan hệ giữa trời, đất và con người.
Sinh lý, hình thể và tính cách con người có quan hệ mật thiết với môi trường sinh thái mà
con người đang sinh sống, song môi trường sinh thái cũng có quan hệ gắn bó với vận
mệnh, thành bại, giàu nghèo, sang hèn, lành dữ, họa phúc của con người. Bởi vì sức sáng
tạo và tính chủ động của con người có thể làm thay đổi trong môi trường, khiến môi
trường thích nghi với con người, phục vụ cho con người.
Lý luận phong thủy cổ đại Trung Quốc chú trọng điều hòa quan hệ giữa môi trường sinh
thái và sự tồn tại của con người, thông qua việc điều hòa mối quan hệ giữa trời, đất và
con người, chọn lựa một môi trường sinh thái thích hợp với sự sinh tồn và phát triển của
loài người. Đặc biệt là lý luận về sự lựa chọn Dương trạch và xây dựng nhà cửa, yếu tố
hợp lý càng lớn hơn, nó đặc biệt chú trọng sự thống nhất hài hòa của môi trường tự nhiên
như cây cối, gò đồi, địa chất, đường sá, nguồn nước, núi non, địa mạo, địa lý, địa thế, địa
hình, theo đuổi sự hài hòa dung hợp thành một khối tự nhiên của môi trường xung quanh
và vật thể kiến trúc. Đây là cơ sở nền tảng của văn hóa kiến trúc cổ đại Trung Quốc
không chỉ chú trọng đến đặc trưng thẩm mỹ về bố cục và thiết kế, cũng như kết cấu và
nguyên liệu vật liệu của các vật thể kiến trúc mà càng chú trọng hơn mối liên hệ của nôi
trường và vật thể kiến trúc. Qua đây ta có thể khẳng định lý luận kiến trúc cổ đại không
thể tách rời Phong Thủy.
3. Triết học Âm dương gia trong văn hóa tryền thống Việt Nam
Ngày xưa cũng như ngày nay, thuyết tương đối âm dương vẫn gắn bó mật thiết và sâu sắc
với văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam. Nó được biểu hiện cụ thể, chân
phương từ nhiều góc độ trong đời sống.Thứ nhất, âm dương là bản chất của giới tự
thống. Trong đó, tính cộng đồng được phản ánh từ việc ăn tổng hợp, ăn chung; còn tính
mực thước là biểu hiện của khuynh hướng quân bình âm dương. Nó đòi hỏi người ăn
không ăn quá nhanh hay quá chậm, không ăn quá nhiều hay quá ít, không ăn hết hay ăn
còn. Đây được xem là lối giao tiếp tế nhị, ý tứ khác hẳn tính cách cực đoan, lối giao tiếp
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 19
trực khởi của người phương Tây: Khách phải ăn kỳ sạch để tỏ lòng biết ơn chủ nhà. Tính
cộng đồng và tính mực thước trong bữa ăn thể hiện tập trung qua nồi cơm và chén nước
mắm. Nồi cơm ở đầu mâm và chén nước mắm ở giữa mâm là biểu tượng cho cái đơn
giản mà thiết yếu: Cơm gạo là tinh hoa của đất, mắm chiết từ cá là tinh hoa của nước –
chúng giống như hành Thủy và hành Thổ là cái khởi đầu và cái trung tâm trong Ngũ
Hành.
Trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt còn thể hiện khá rõ tính linh hoạt và tính biện
chứng. Theo đó, tính linh hoạt phản ánh trong dụng cụ ăn, đôi đũa; tính biện chứng ở
quan hệ biện chứng âm dương gồm ba mặt
Sự hài hòa âm dương của thức ăn.
Sự quân bình âm dương trong cơ thể.
Sự cân bằng âm dương giữa con người với môi trường tự nhiên.
Để tạo ra những món ăn có sự cân bằng âm dương, người Việt phân biệt thức ăn theo
năm thức âm và dương ứng với Ngũ Hành: Hàn (lạnh, âm nhiều = Thủy), Nhiệt (nóng,
dương nhiều = Hỏa), Ôn (ấm, dương ít = Mộc), Lương (mát, âm ít =Kim), Bình (trung
tính = Thổ). Theo đó, người Việt tuân thủ nghiêm ngặt luật âm dương bù trừ và chuyển
hóa khi chế biến. Điều đó lý giải tại sao chén nước chấm của người Việt dung hòa cả đủ
cả Ngũ Hành: Vị mặn (thủy) của nước mắm, đắng (hỏa) của vỏ chanh, chua (mộc) của
chanh giấm, cay (kim) của tiêu ớt. Để tạo ra sự quân bình âm dương trong cơ thể, người
Việt sử dụng thức ăn như vị thuốc với mục đích điều chỉnh sự mất quân bình âm dương
trong cơ thể. Chẳng hạn: Đau bụng nhiệt (dương) cần ăn những thứ hàn (âm) như chè đậu
đen, trứng gà lá mơ. Đau bụng hàn (âm) cần dùng các thứ nhiệt dương như gừng, riềng.
dân tộc.
Với nhu cầu ở, người Việt đặc biệt chú trọng vấn đề “phong thủy”. “Phong” và
“thủy” là hai yếu tố quan trọng nhất tạo thành tạo thành vi khí hậu của một ngôi nhà.
Phong là gió (thuộc dương); thủy là nước, tĩnh hơn, thuộc âm. Trong nhà, nếu có gió quá
nhiều hoặc nước tù quá đọng đều không tốt. Người ta vẫn xây dựng các bình phong để lái
gió hoặc dựng hòn non bộ để điều thủy (âm dương điều hòa) là vậy. Ngoài ra, tất cả các
chi tiết của ngôi nhà được liên kết với nhau bằng “mộng”. “Mộng” là cách ghép theo
nguyên lý âm dương, nghĩa là: Phần lồi ra của bộ phận này phải khớp với chỗ lõm tương
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 21
ứng của bộ phận khác. Kỹ thuật này tạo nên sự liên kết rất chắc chắn mà vẫn linh động
giúp tháo dỡ dễ dàng. Khi cần cố định các chi tiết của ngôi nhà thì dùng đing tre vuông
tra vào các lỗ tròn (âm – dương). Khi lợp nhà, người Việt dùng ngói âm dương: Viên sấp,
viên ngửa khác với ngói ống Trung Hoa. Trong hình thức kiến trúc thường coi trọng bên
trái và số lẻ. Tất cả đều từ triết lý âm dương mà ra.
Tóm lại, triết lý âm dương trong đời sống văn hóa Việt xưa và nay biểu hiện chủ yếu ở
các góc độ: Tự nhiên, xã hội lẫn tín ngưỡng. Nó góp phần tôn vinh giá trị truyền thống
mà vẫn dung hòa với vẻ đẹp hiện đại trong mỗi nếp nhà người Việt.
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 22
4. KẾT LUẬN
Học thuyết Âm dương ngũ hành không những được nhiều trường phái triết học tìm hiểu
lý giải, khai thác mà còn được nhiều ngành khoa học khác quan tâm vận dụng. Có thể
nói, ít có học thuyết triết học nào lại thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của tri thức và được
vận dụng để lý giải nhiều vấn đề của tự nhiên, xã hội như học thuyết này.
5.
6. />i-s
7. />%3Aluu-hoang-chuong-triet-ly-am-duong-trong-van-hoa-dan-gian-nguoi-
viet&Itemid=42&catid=133%3A
Và một số nguồn tài liệu tham khảo khác
Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Đông
Phạm Thị Ngọc Uyên_Ngày 4_K22 24
MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1. Tổng quan về Âm dương gia 5
1.2. Lý luận Âm dương 5
1.2.1. Nguyên lý Âm dương 5
1.2.1.1. Phạm trù Âm dương 5
1.2.1.2. Nội dung nguyên lý âm dương 6
1.2.2. Quá trình biến dịch từ cái duy nhất thành đa dạng của vạn vật trong vũ trụ 6
1.3. Lý luận Ngũ hành 7
1.4. Với lý luận âm dương và lý luận ngũ hành 8
2. Thuyết Âm dương trong Phong Thủy Trung Quốc cổ đại 9
2.1. Phong thủy 9
2.2. Mối liên hệ giữa Âm dương và Phong thủy trong xã hội Trung Quốc cổ đại 10
3. Triết học Âm dương gia trong văn hóa tryền thống Việt Nam 17
4. KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23