ĐỀ TÀI:
!"
#$%&'
()
*+ ',(
."
TP HCM, tháng 12 năm 2012
/0/
1 *23456789:;<
Với lịch sử phát triển hàng ngàn năm và có một sự ảnh hưởng tư tưởng, văn
hóa đáng kể đến các quốc gia láng giềng, trong đó các tư tưởng triết học ra đời và
phát triển tại Trung Quốc đóng một vai trò quan trọng. Tư tưởng Âm dương gia là
một trong những trường phái triết học lớn bắt nguồn từ Trung Quốc và có ảnh
hưởng sâu sắc đến xã hội phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Vì vậy, sự
cần thiết về việc nghiên cứu về tư tưởng Âm dương gia và ảnh hưởng của nó đến xã
hội phương Đông sẽ cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh
của xã hội xung quanh.
- =5:<>?5@A9:;<
Trên cơ sở làm rõ hoàn cảnh ra đời và lý luận của triết học Âm dương gia; ảnh
hưởng của nó đối với xã hội phương Đông, đề tài hướng đến mục tiêu: Làm rõ yếu
tố triết lý âm dương gia trong đời sống xã hội hàng ngày của người phương Đông
B 6CDE<8F6<>85G?
Thuyết Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội Phương Đông ngày nay.
' 6HI8F6JKF6<>8G?
Thứ nhất, phương pháp luận: Người viết sử dụng phương pháp duy vật bin chứng
v duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho đề tài.
Thứ hai, vận dụng phương pháp phân tích - tổng hợp để phân tích, khái quát kết quả
Âm dương gia là một trong những luồng tư tưởng cơ bản của người Trung
Quốc cổ đại. Đến thời Chiến quốc, học thuyết âm dương gia đã phát triển đến một
trình độ khá cao và trở thành phổ biến trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên. Song
học thuyết âm dương gia cũng như các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại là thế
giới quan của người Trung Hoa ở vào một thời kỳ lịch sử đã lùi vào dĩ vãng, lúc đó
lực lượng sản xuất và khoa học còn ở trình độ thấp, cho nên không khỏi có những
hạn chế do những điều kiện lịch sử đương thời quy định Đặc biệt, sự phát triển của
nó chưa gắn với những thành tựu của khoa học tự nhiên cận hiện đại, nó còn mang
dấu ấn của tính trực giác và tính kinh nghiệm. Song học thuyết đó đã trang bị cho
con người tư tưởng duy vật khá sâu sắc và độc đáo nên đã trở thành lý luận cho một
số ngành khoa học cụ thể.
- 6J<Z?J:E9:X<L:675YD3HI8FF<A
-1 *2[?\8]D3HI8F
Lý luận về âm dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách
"Quốc ngữ". Tài liệu này mô tả âm dương đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại phổ
biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng
có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược Hai thế lực âm và dương tác động lẫn
nhau tạo nên tất cả vũ trụ. Sách "Quốc ngữ" nói rằng "khí của trời đất thì không sai
thứ tự, nếu mà sai thứ tự thì dân sẽ loạn, dương mà bị đè bên dưới không lên được,
âm mà bị bức bách không bốc lên được thì có động đất".
Học thuyết âm dương được thể hiện sâu sắc nhất trong "Kinh Dịch". Theo lý
thuyết trong "Kinh Dịch" thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực là nguyên
nhân đầu tiên, là lý của muôn vật: "Dịch có thái cực sinh ra hai nghi, hai nghi sinh ra
bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ". Như vậy, tác giả của “Kinh Dịch" đã quan
niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động. Trong thái cực, thiếu dương vận động đến
thái dương thì trong lòng thái dương lại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đến
thái âm thì trong lòng thái âm lại nảy sinh thiếu dương. Cứ như thế, âm dương biến
hoá liên tục, tạo thành vòng biến hóa không bao giờ ngừng nghỉ. Vì thế, các nhà làm
Dịch mới gọi tác phẩm của mình là "Kinh Dịch”. Ở "Kinh Dịch", âm dương được
quan nệm là những mặt, những hiện tượng đối lập. Như trong tự nhiên: sáng - tối,
Ngũ hành tương sinh: thuộc lẽ thiên nhiên, nhờ nước cây xanh mọc lớn lên
(thủy sinh mộc), cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (mộc sinh hỏa, tro tàn tích lại đất vàng
thêm (hỏa sinh thổ), lòng đất tạo nên kim loại trắng (thổ sinh kim), kim loại vào lò
chảy nước đen (kim sinh thủy).
Ngũ hành tương khắc: lẽ xưa nay rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày (mộc khắc thổ),
đất đắp đê cao ngăn nước lũ (thổ khắc thủy), nước dội nhiều nhanh dập lửa ngay
(thủy khắc hỏa), lửa lò nung chảy đồng sắt thép (hỏa khắc kim), thép cứng rèn dao
chặt cỏ cây (kim khắc mộc).
6?_L:F^6;86
Học thuyết Ngũ hành chủ yếu nói về mối quan hệ phức tạp thể hiện ở quy luật
sinh - khắc - chế - hoá và bổ sung cho thuyết Âm Dương hoàn bị hơn.
Tinh thần cơ bản của thuyết Ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau
gọi là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc. Trên cơ sở sinh và khắc kết
hợp với hiện tượng chế hoá, tương thừa, tương vũ nhằm biểu thị mọi sự biến hoá
phức tạp của sự vật.
Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng, đem
Ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa
lẫn nhau.
Mộc sinh Hoả = Can sinh Tâm
Hoả sinh Thổ = Tâm sinh Tỳ
Thổ sinh Kim = Tỳ sinh Phế
Kim sinh Thuỷ = Phế sinh Thận
Thuỷ sinh Mộc = Thận sinh Can.
Trong luật tương sinh của Ngũ hành còn hàm ý là hành nào cũng có quan hệ về
hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, tức là quan hệ mẫu tử. Trong quan
hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biểu hiện cái ý thăng bằng, giữ gìn lẫn
nhau.
Luật tương khắc:
Mộc khắc Thổ = Can khắc Tỳ
Thổ khắc Thuỷ = Tỳ khắc Thận
Thân thể con người được chia ra như sau: Bên ngoài (lưng) là dương, bên
trong (bụng, ngực) là âm; lục phủ gồm tâm, can, tỳ, phế, thận thuộc âm; còn ngũ
tạng gồm tiểu trường, đởm, vị, đại trường, bàng quang, tam tiêu thuộc dương…Còn
theo thuyết ngũ hành, các nhà y học đã đề ra thuyết ngũ tạng để tạo ra một mô hình
tự điều chỉnh gồm năm chức năng của cơ thể là: tâm, can, tỳ, phế, thận và mỗi tạng
của cơ thể đều được ứng với một hành. Ví dụ như can ứng với hành mộc bởi vì tính
của cây gỗ thì cứng cỏi…Ngoài ra cách phân chia dựa theo công năng cơ thể để tìm
sự tương ứng với hành nào đó trong ngũ hành cũng được chấp nhận. Ví dụ hành
mộc và sự vận động, hành hỏa và sự phát nhiệt…
1-$8F3=8F:X48FK6]8:g568F?_>886]8E;56?h8N4J8ij86:\:
Theo các nhà y học cổ truyền thì nguyên nhân của bệnh tật là do sự mất cân
bằng về âm dương trong cơ thể, và mất cân bằng âm dương giữa cơ thể con người
và thiên nhiên. Sự mất cân bằng này được biểu hiện thành sự thiên thắng hay thiên
suy: Dương thắng gây chứng nhiệt: sốt, mạch nhanh, khát nước, táo, nước tiểu đỏ;
Âm thắng gây chứng hàn: người lạnh, chân tay lạnh, mạch trầm, tiêu chảy, nước tiểu
trong…Dương suy như trong các trường hợp lão suy hội chứng hưng phấn thần kinh
giảm; Âm hư gây mất nước, ức chế thần kinh giảm…
Sau khi đã tìm được nguyên nhân gây bệnh, người thầy thuốc sẽ căn cứ vào
các biểu hiện của bệnh nhân thông qua bốn phương pháp tiếp xúc với bệnh nhân (tứ
chẩn) là vọng (nhìn), văn (nghe), vấn (hỏi), thiết chẩn (xem mạch, sờ nắn) rồi kết
hợp triệt để với các tiêu chí ngũ sắc, ngũ chí, ngũ khiếu tìm ra bệnh thuộc tạng nào
rồi lựa chọn cách chữa bệnh hiệu quả nhất.
1B$8F3=8F:X48FN<9?:XTij86:\:
Bệnh phát sinh là do mất cân bằng âm dương cho nên nguyên tắc chữa bệnh cơ
bản nhất là lập lại sự mất cân bằng ấy thông qua các phương pháp khác nhau: Dùng
thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công…
Bệnh ở phần dương thì chữa vào âm, bệnh ở phần âm thì chữa vào dương.
Nguyên tắc Dương bệnh trị âm, âm bệnh trị dương được lập ra dựa trên sự cân bằng
âm dương trong cơ thể con người. Bởi vì phần dương thắng thì phần âm bị bệnh,
phần âm thắng thì phần dương bị bệnh.
là những thứ ngọt mà chúng ta lại nêm thêm muối, chấm muối? Là bởi vì dưa hấu
ngọt, chè ngọt là âm (ngọt trong ngũ vị thuộc hành thổ trung hoà, nhưng so với mặn
thì là âm), có thêm chút muối mặn (dương) sẽ làm cho cái ngọt trở nên đậm đà hơn.
Ngược lại, những món như cá kho, thịt kho mà khi nấu trót cho mặn quá thì cách
chữa tốt nhất chính là cho thêm chút đường cho âm dương tương hợp.
--l6;<6kA]D3HI8F5@A56@:6f
Để tạo nên sự h%i h&a âm dương trong cơ thê, ngoài việc ăn các món đã được
chế biến có tính đến sự quân bình âm dương, còn sử d/ng các thức ăn như nh0ng vị
thu+c đ1 đi&u ch2nh s3 mất quân b$nh âm dương trong cơ th1. Mọi bệnh tật đều xuất
phát từ nguyên nhân gốc là sự mất quân bình âm dương trong cơ thể; vì vậy, một
người bị ốm do thái âm cần được cho ăn đồ dương và ngược lại, ốm do thái dương
sẽ được cho ăn đồ âm để khôi phục lại sự cân bằng đã mất.
Ví dụ, đau b/ng nhit (dương) thì cần ăn những thức hàn (âm) như chè đậu
đen, nước sắc đậu đen (màu đen là âm), trứng gà, lá mơ Đau b/ng hn (âm) thì
dùng các thứ nhiệt (dương) như gừng, giềng Bệnh s+t c7m l8nh(âm) thì ăn cháo
gừng, tía tô (dương); còn s+t c7m n9ng (dương) thì ăn cháo hành (âm)
Truyền thống này không có trong văn hoá phương Tây. Phương Tây chủ yếu
chữa bệnh bằng thuốc, và phòng bệnh cũng bằng thuốc.
-Bl6;<6kA]D3HI8FF<nA56@:6fEo<m6d8FF<A8
Mỗi quốc gia, vùng có địa hình, khí hậu khác nhau sẽ tạo nên môi trường có
tính âm/dương khác nhau và do vậy đòi hỏi đồ ăn cũng phải mang tính âm/dương
phù hợp.
Đông Nam } là xứ nóng (dương), phù hợp cho việc phát triển mạnh các loài
thực vật và thủy sản (âm). Phương Tây là xứ lạnh (âm), phù hợp cho việc chăn nuôi
các loài động vật, tạo nguồn thức ăn thịt, mỡ, bơ sữa (dương). Điều đó cho thấy
chính tự thân thiên nhiên đã có sự cân bằng rồi. Và tuy rằng phương Tây không
nhận thức được quy luật âm dương, nhưng cách ăn truyền thống của họ đã tuân theo
luật âm dương một cách vô thức.
Ngay trong phạm vi một quốc gia thì các vùng khác nhau cũng có truyền thống
ẩm thực khác nhau - sự khác biệt này chủ yếu không phải do thói quen mà chính là
Đứng dưới góc độ Phong thuỷ, khi mà công trình kiến trúc tồn tại được trong
một thời gian dài thì các yếu tố về cân bằng Âm dương và ngũ hành phải đạt đến
mức độ chuẩn mực. Tức là nó phải bao hàm cả yếu tố thẩm mỹ và tính hài hoà cân
đối. Khi các yếu tố về Âm dương và ngũ hành cân bằng – tức là tính thẩm mỹ, tính
hài hoà và cân đối cao - thì tự bản thân công trình sẽ có tác động tích cực đến ý thức
con người, khiến ngưòi ta có những ý nghĩ trân trọng và có ý nghĩ bảo tồn nó.
Trong cân bằng có yếu tố cân bằng động và cân bằng tĩnh, nhưng chung qui
vẫn cần có sự cân bằng. Để có được sự cân bằng này thì việc điều chỉnh các mảng
đối lập nhau như mảng đặc đối với mảng rỗng, phần gồ ghề với phần phẳng nhẵn,
miếng có kính đối với phần thịt còn lại, phần diện tích sân vườn và phần diện tích
công trình phải tìm được sự hài hoà nghĩa là đạt được những tỉ lệ chuẩn mực. Những
yếu tố cần về sự hài hoà trong kiến trúc hiện đại trên đây cũng chính là quan niệm
của phong thuỷ với khái niệm hài hoà Âm Dương và tính tương sinh của Ngũ hành.
' X<L:675YDHI8FF<AE;86n8F:J5Nq8FNL8Ep86uAv:g88FHw8F5@A
8FHx<<j:
Trong điều kiện tự nhiên và lịch sử - xã hội đặc thù (nóng ẩm mưa nhiều, nông
nghiệp lúa nước, ngã tư đường của các luồng văn minh ) mà người Việt hình thành
và phát triển, triết lý âm dương được nhận thức, vận dụng thể hiện sự quân b$nh –
hi h'a âm dương nhưng thiên v& âm tính.
Ở thành tố văn hóa nhận thức, triết lý âm dương được vận dụng vào giải thích
bản chất của vũ trụ và con người – tiểu vũ trụ. Mọi vật, kể cả con người đều do sự
kết hợp và chuyển hóa của hai yếu tố âm - dương (mẹ - cha; đực – cái) mà thành.
Triết lý âm dương cũng là cơ sở để giải thích về cấu trúc không gian vũ trụ (tam tài,
ngũ hành) và thời gian vũ trụ (lịch âm dương - hệ đếm can chi).
Trong thành tố văn hóa tổ chức đời sống, triết lý âm dương thể hiện qua việc tổ
chức đời sống tập thể và tổ chức đời sống cá nhân của người Việt. Ở bộ phận tổ
chức đời sống tập thể, ba thiết chế xã hội được khảo sát là gia đình (nhà), làng,
nước. Trong tổ chức gia đình, sự quân b$nh âm dương thiên v& âm tính thể hiện ở
việc chú trọng sự hòa thuận, đề cao vai trò của người phụ nữ, cùng với quá trình vận
động trong sự đối lập các mặt: trọng nam, trọng trưởng / trọng nữ; tôn ty trật tự /
quân bình âm dương giữa các nguyên liệu chế biến thức ăn, giữa thức ăn với cơ thể
và giữa cơ thể với môi trường. Cũng do ở xứ nóng nên cơ cấu bữa ăn của người Việt
thiên về thực vật (nhiều rau, bột) - âm tính. Mặt ứng phó với môi trường tự nhiên thể
hiện trong việc mặc và ở. Mặc của người Việt cũng hướng tới sự quân bình bằng
cách làm giảm cái nóng (dương) của thời tiết qua cách mặc thoáng mát. Quân bình
âm dương trong ở của người Việt thể hiện qua việc chọn hướng nhà (hướng nam),
chọn đất theo thuật phong thủy (tránh luồng khí, dòng nước ngưng tụ hoặc quá
mạnh = quá âm hoặc quá dương), hướng tới sự hài hòa thiên – địa – nhân.
Ở khía cạnh tạo nên tính cách người Việt, triết lý âm dương là bộ phận quan
trọng của nhận thức với vai trò là thế giới quan, nhân sinh quan. Xuất phát từ nhận
thức âm dương l g+c của mọi vật nên người Việt luôn hướng tới sự quân b$nh âm
dương. Với người Việt, quân b$nh âm dương vừa biểu hiện cho sự hoàn thiện, viên
mãn, mà vuông tr&n là một biểu tượng, vừa được xem như là nguyên tắc ứng xử.
Cũng từ sự nhận thức về âm dương chuyển hóa mà người Việt có lối
sốngthanh thản, lạc quan (Không ai gi%u ba họ, không ai khó ba đời -tục ngữ),
ứng xử linh hoạt v khả năng thích nghi cao (Ăn theo thuở, ở theo thì -tục ngữ).
OB*Q
Tư tương Âm Dương gia xuất hiện như một học thuyết triết học bao trùm mọi
phương diện trong vũ trụ. Âm Dương – Ngũ Hành cùng song song tồn tại để bổ
khuyết, chế hóa, cùng thúc đẩy sự sinh trưởng, biến hóa vô cùng của vạn vật. Học
thuyết Âm dương nói rõ sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan với hai
mặt đối lập thống nhất đó là Âm dương. Âm dương là quy luật chung của vũ trụ, là
kỉ cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng, biến hóa nhưng nó sẽ gặp khó
khăn khi lý giải sự biến hóa, phức tạp của vật chất. Khi đó phải dùng thuyết ngũ
hành để giải thích. Vì vậy sự kết hợp thuyết âm dương với thuyết ngũ hành mới có
thể giải thích mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội một cách hợp lýThuyết Âm dương
ngũ hành trang bị cho con người tư tưởng duy vật khá sâu sắc và độc đáo nên đã trở
thành lý luận cho một số ngành khoa học cụ thể, trong đó có y học.
Việc tìm hiểu và nghiên cứu thuyết Âm dương ngũ hành thông qua tiểu luận
này đã giúp cho bản thân có cách nhìn sâu sắc hơn về sự tồn tại của thế giới, vạn
2. Triết học phần 1: Đại cương về lịch sử triết học, 2011.
3. Âm dương cuộc sống đời thường. Tác giả: GS –TS Nguyễn Tiến Đức. NXB
Thông tin và truyền thông, 2011.
4. Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam – Tác giả: GS – TS Trần Ngọc Thêm
– NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2006
5. Phong thủy Âm dương hội – NXB Thời đại 2012
6. Tạp chí triết học.
7. Trung tâm nghiên cứu Lý học đông phương:
8. Triết lý Âm dương trong văn hóa dân gian người Việt – Luận văn thạc sĩ Lưu
Hoàng Chương