TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA ÂM DƯƠNG GIA ĐẾN XÃ
HỘI PHƯƠNG ĐÔNG
TPHCM, ngày 15 tháng 12 năm 2012
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Học thuyết Âm dương ngũ hành và những ví dụ thực tiễn trong tự nhiên
và trong Đông y
1.1. Quy luật Âm dương
1
Người thực hiện: Đặng Như Ý
STT: 89
Nhóm: 9
Lớp: Ngày 4 Khóa 22
Giảng viên phụ trách: TS Bùi Văn Mưa
1.1.1. Các quy luật của học thuyết âm dương
1.1.2. Các cặp phạm trù trong học thuyết Âm dương
1.2. Học thuyết Ngũ hành
2. Ứng dụng của quy luật Âm dương Ngũ hành trong Đông y
2.1. Ứng dụng vào phân chia các tổ chức cơ thể trong Đông y
2.2. Ứng dụng vào phân tích nguyên nhân và chuẩn đoán bệnh tật trong
Đông y
2.3. Ứng dụng vào điều trị bệnh tật trong Đông y
2.4. Ứng dụng vào dược học Đông y
3. Ứng dụng học thuyết Âm dương ngũ hành và Đông y vào đời sống bản
thân
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
nhiên và trong Đông y
4.1. Quy luật Âm dương
4.1.1. Các quy luật của học thuyết âm dương
Hình 1: Thái cực
Quy luật âm dương đối lập: Âm và Dương không những phản ánh hai lực
lượng đối lập, hai khuynh hướng đối lập nhau mà hai khuynh hướng này còn
liên kết chặt chẽ, gắn bó với nhau. Đơn cử như một sự vật hiện tượng luôn có
hai mặt đối lập nhau, tuy nhiên hai mặt này luôn gắn bó chặt chẽ tạo thành bản
chất của một sự vật, trong mặt này có mặt kia và ngược lại.Đó là sự đối lập
không gian trước-sau; trong- ngoài; trên -dưới; cao -thấp. Đối lập thời gian
Đêm- ngày; lâu-mau; nhanh-chậm; cấp tính-mạn tính Đối lập tính chất như
nóng -lạnh; sáng -tối; ẩm- khô; hưng phấn-ức chế; buồn-vui; sinh trưởng-tiêu
vong; sự sống-cái chết; hoạt động- yên tĩnh; thông suốt-bế tắc sự đối lập là
tuyệt đối và vĩnh hằng. trong vạn vật trên hành tinh này, thì âm dương luôn đấu
tranh, luôn đối lập nhau nhưng luôn gắn bó, thống nhất với nhau, trong âm có
dương, trong dương có âm, trong động có tĩnh, trong tĩnh có động…Ví dụ như
trong một cơn bão, thời tiết luôn yên ả bình thường trước khi xảy ra cơn bão, đó
là âm, nhưng sự yên ắng này lại ẩn chứa sự tàn phá khủng khiếp và nhanh chóng
của cơn bão, đó là động. Nhưng khi cơn bão đến, sức gió mạnh nhanh chóng tạo
ra sự tàn phá những nơi nào mà nó đi qua, tuy nhiên, trong tâm cơn bão thì gió
rất lặng. Như vậy, ta thấy được trong âm có dương, trong tĩnh có động và ngược
4
lại trong dương có âm, trong động có tĩnh. Hai mặt đối lập đó luôn luôn vận
động trong sự thống nhất với nhau nhưng cũng mâu thuẫn và đối lập nhau. Phân
tích cụ thể trong hình 1, nếu xem như thái cực là một hình tròn là một biểu trưng
cho vạn vật thì trong hình tròn có hai thành phần, hai lực lượng, hai tính chất.
Hình tròn có đường cong chia diện tích làm hai phần bằng nhau: một phần là
âm, một phần là dương. Dương thể hiện qua phần màu trắng trong hình tròn và
âm thể hiện qua phần màu đen. Trong phần âm có nhân dương và trong phần
dương có nhân âm. Hai phần này là thiết yếu, là bản chất của hình tròn, tuy đối
của học thuyết âm dương khi thái âm có thiếu dương thì thiếu dương phát triển
đến cùng sẽ sinh ra thái dương và thiếu âm. Ví dụ cụ thể, khí hậu bốn mùa trong
năm luôn thay đổi từ lạnh sang nóng, từ nóng sang lạnh, từ lạnh sang nóng là
quá trình “âm tiêu dương trưởng” từ nóng sang lạnh là quá trình “dương tiêu âm
trưởng” do đó có khí hậu mát, lanh, ấm và nóng. Người ta còn xem mùa xuân là
thiếu dương, hết mùa xuân sẽ đến mùa hè là thái dương, sau đó chuyển sang
mùa thu là thiếu âm, cuối cùng sang mùa đông là thái âm. Dựa vào quy luật trên,
đông y giải thích rằng trong quá trình phát triển của bệnh tật, bệnh thuộc phần
dương (như sốt cao) có khi gây ảnh hưởng đến phần âm (như mất nước), hoặc
bệnh ở phần âm (mất nước, mất điện giải) tới mức độ nào đó sẽ ảnh hưởng đến
phần dương (như choáng, truỵ mạch gọi là thoát dương). Cụ thể như, nhiễm
lạnh sẽ dẫn tới sốt, sốt cao kéo dài sẽ bị chuyển hoá thành lạnh; Hưng phấn quá
rồi sẽ bị ức chế, ngược lại ức chế quá sẽ xuất hiện hưng phấn.
Âm dương bình hành: là sự thăng bằng giữa hai mặt đối lập. Mặc dù đối lập,
tiêu trưởng nhưng hai mặt âm dương luôn hỗ trợ nhau vận động không ngừng,
luôn lặp lại được thế thăng bằng, thế quân bình giữa hai mặt để chúng cân bằng
với nhau, sự cân bằng này mang tính phiếm định, có nghĩa là sự cân bằng trong
trạng thái luôn vận động biến đổi liên tục. Phân tích trong hình thì ta thấy hai
mặt âm dương tuy đối lập nhưng gắn bó mật thiết với nhau. Âm dương tiêu
trưởng theo quy luật dương cực sinh âm và âm cực sinh dương. Hai lực lượng
6
này chuyển hóa lẫn nhau, biến hóa theo quy luật động, biến, hóa, thông. Tuy
nhiên luôn giữ được sự cân bằng giữa âm và dương, thể hiện qua diện tích hai
phần luôn bằng nhau, trong âm có nhân dương và trong dương có nhân âm. Dựa
vào quy luật trên, đông y giải thích rằng thức dậy là phải hưng phấn, khi ngủ là
ức chế, tuy luân đổi nhau nhưng phải cân bằng nhau; Thân nhiệt luôn duy trì
37
o
C là quá trình cân bằng giữa sinh nhiệt và mất nhiệt; Ăn uống để tích luỹ
năng lượng là đồng hoá thuộc âm, hoạt động tiêu hao năng lượng là dị hoá thuộc
với tất cả sự vật hiện tượng, biểu hiện ra bên ngoài là kết quả của sự đấu tranh
của hai mặt đối lập, bên cạnh đó hai mặt này còn tương hổ, bổ trợ nhau. Vì vậy
khi nhìn biểu hiện ở bên ngoài ta khó có thể nhận biết được bản chất của sự vật
bên trong là thái dương, thái âm hay thiếu dương, thiếu âm. Phân tích trên hình
ta thấy được trong thái dương lại có thiếu âm, chính thiếu âm tạo nên thái
dương, như vậy khi biểu hiện ra ngoài của một sự vật, hiện tượng là thái dương.
Như vậy, phân tích sâu xa bên trong thì chính thiếu âm tạo nên biểu hiện thái
dương ở bên ngoài chứ không phải thái dương như ta vẫn nghĩ. Trong y học,
người ta áp dụng phạm trù này để giải thích bản chất sâu xa của nhiều hiện
tượng bệnh lý, giải thích những hiện tượng lâm sàn của bệnh nhân. Ví dụ, trong
bệnh thương hàn là nhiễm trùng đường tiêu hoá lẽ ra sốt cao thì mạch phải
nhanh, nhưng vì nhiễm độc nội độc tố nên mạch chậm, có xu hướng truỵ mạch
chân tay lạnh, người lạnh, biểu hiện hiện tượng giống triệu của hàn nhưng bản
chất là nhiệt. Người bệnh nhiễm lạnh sau đó phát sốt nóng, biểu hiện là nhiệt mà
bản chất là do hàn
1
.
4.2. Học thuyết Ngũ hành
1 Thu Nguyễn (1999)
8
Theo nhân sinh quan của người Trung Hoa cổ đại Học thuyết ngũ hành là học
thuyết âm dương được liên hệ một cách cụ thể hơn trong việc quan sát, quy
nạp sự liên quan của các sự vật. Vạn vật được tạo thành từ năm yếu tố năm loại
vật chất chính đó là: Kim (kim loại), Mộc (gỗ), Thuỷ (nước), Hoả (lửa), Thổ
(đất), gọi là ngũ hành. Vì vậy vạn vật đều thể hiện bản chất của ngũ hành cụ thể
trong bảng.
Bảng 1: Ngũ hành
NGŨ HÀNH
HIÊN TƯỢNG
MỘC HÕA THỔ KIM THUỶ
Kim khắc Mộc = Phế khắc Can
5. Ứng dụng của quy luật Âm dương Ngũ hành trong Đông y
5.1. Ứng dụng vào phân chia các tổ chức cơ thể trong Đông y
2
Kết cấu tổ chức của cơ thể tồn tại ở các mặt đối lập liên hệ phức tạp lẫn nhau,
những mặt đối lập ấy đều có thể dùng âm dương để khái quát và nói rõ mối
2 Dương Phạm (2007)
10
liên hệ lẫn nhau của nó. Thân thể con người được chia ra như sau: bên ngoài
(lưng) là dương, bên trong (bụng, ngực) là âm; lục phủ gồm tâm, can, tỳ, phế,
thận thuộc âm, còn ngũ tạng gồm tiểu trường, đởm, vị, đại trường, bàng quang,
tam tiêu thuộc dương … Còn dựa vào thuyết ngũ hành, các nhà y học đã đề ra
thuyết ngũ tạng để tạo thành một mô hình tự điều chỉnh gồm năm trung tâm
chức năng của cơ thể là: tâm, can, tỳ, phế, thận và mỗi tạng của cơ thể đều
được ứng với một hành. Ví dụ, như can ứng với hành mộc bởi vì tính của cây
gỗ thì cứng cỏi, giống chức năng của can là một vị tướng. Ngoài ra cách phân
chia dựa theo công năng cơ thể để tìm sự tương ứng với hành nào đó trong ngũ
hành cũng được chấp nhận. Theo những ý niệm cơ bản nhất về ngũ tạng,
chúng ta có thể hiểu cơ bản Tạng phủ của Đông y không phải là môn học giải
phẫu, hình thái học mà có thể tạm coi là môn Cơ thể Sinh Lý học. Mọi hoạt
động sinh lý của con người đều từ tạng phủ, mọi thứ biến hóa bện lý cũng đều
có liên quan đến tạng phủ. Dựa vào những hoạt động được thể hiện ra bên
ngoài, người xưa sắp xếp những nhóm chức năng vào thành Tạng Phủ. Chẳng
hạn như: Tạng Thận của Đông y không phải là 2 quả thận đơn thuần mà là
những chức năng một phần của thần kinh trung ương của sinh dục, tiết niệu, có
liên quan đến cả hô hấp (Thận nạp khí). Cụ thể như sau:
Tạng Tâm thuộc hành Hoả, là tạng đứng đầu các tạng phủ, Tâm làm chủ những
hoạt động tâm thần như nhận thức, tư duy, trí nhớ, thông minh, tương ứng
những chức năng của vỏ đại não. Ngoài ra, tạng Tâm phụ trách về tuần hoàn và
máu, huyết liên quan nhiều tạng khác như Can, Tỳ, Thận.
âm gây mất nước, ức chế thần kinh giảm.
12
Sau khi đã tìm ra được nguyên nhân gây bệnh, người thầy thuốc sẽ căn cứ vào
các biểu hiện của bệnh nhân thông qua bốn phương pháp tiếp xúc với bệnh
nhân (tứ chấn) là vọng (nhìn), văn (nghe), vấn (hỏi), thiết chấn (xem mạch, sờ
nắn) rồi kết hợp triệt để với các tiêu chí ngũ sắc, ngũ chí, ngũ khiếu tìm ra
bệnh thuộc tạng nào rồi tìm cách chữa bệnh hiệu quả.
5.3. Ứng dụng vào điều trị bệnh tật trong Đông y
Bệnh phát sinh là do sự mất cân bằng âm dương cho nên nguyên tắc chữa bệnh
cơ bản là lặp lại sự mất cân bằng ấy thông qua các phương pháp: dùng thuốc,
châm cứu, xoa bóp, khí công…
Khi chữa bệnh phải tìm tới nguồn gôc, nguyên nhân gây bệnh, dựa vào thiên
thịnh hay thiên suy của âm dương. Đây chính là nguyên tắc “trị bệnh phải tìm
tới gốc”. Chẳng hạn, xét thấy chân tay tê, thịt giật, hư phiền, đêm ngủ không
yên, mặt nóng đỏ, miệng khô, luõi đỏ, mạch huyền mà tế, đó là “can âm bất túc,
can dương thượng cang”, cần dùng phép ‘tư âm tiềm dương, dưỡng huyết”.
Nguyên tắc này đã được danh y Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác tiếp thu và
vận dụng triệt để trong thuyết Thủy-hỏa của mình.
Bệnh ở phần dương thì chữa vào âm, bệnh ở phần âm thì chữa vào dương.
Nguyên tắc dương bệnh trị âm, âm bệnh trị dương này được lập ra dựa trên sự
cân bằng âm dương trong cơ thể con người. Bởi vì thái dương thì thiếu âm mà
thái âm thì lại thiếu dương, vì vậy nguyên tắc là làm cho âm dương cân
bằng.Bệnh do thái dương thì phải làm suy giảm phần dương (tả dương), bệnh do
thái âm thì phải làm giảm phần âm (tả âm). Bệnh do dương hư hay thiếu dương
thì phải bổ dương, bệnh do âm hư hay thiếu âm thì phải bổ âm.
Ngoài ra cũng cần chú ý đến nguyên tắc “Hư thì bổ mẹ, thực thì tả con”. Nghĩa
là một tạng suy yếu, ngoài việc cân bằng âm dương cho chính tạng phủ đó,
13
người ta còn bổ dưỡng cho tạng phủ sinh ra tạng phủ bị bệnh (theo quy luật
tương sinh)
ấm, tăng tác dụng của thuốc và dẫn thuốc đi lên.
6. Ứng dụng học thuyết Âm dương ngũ hành và Đông y vào đời sống bản
thân
Nguyên lý Âm dương ngũ hành ứng dụng trong Đông y đã mang đến cho đời
sống thường thức của chúng ta một quan niệm toàn diện và thống nhất chỉnh
thể trong phương pháp phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh tật. Mỗi chúng
ta phải ý thức rằng con người ở thể thống nhất toàn vẹn giữa các chức phận,
giữa tinh thần và vật chất, giữa cá nhân và hoàn cảnh chung quanh. Cuối cùng,
mỗi người đi đấn ý thức về cân bằng cuộc sống của bản thân từ ăn uống, dinh
dưỡng đến làm việc, sinh hoạt, tập luyện nhằm giữ được sự cân bằng âm
dương trong bản thân và đảm bảo các tạng phủ làm việc tốt, giữ được sức khỏe
cho bản thân và mọi người.
Hơn thế nữa, sau khi có những hiểu biết chi tiết hơn về học thuyết Âm dương
ngũ hành và Đông y, bản thân em đúc kết được những kinh nghiệm thực tế
trong cuộc sống hàng ngày và kết nối chúng với cơ sở lý thuyết để có một hiểu
biết, kinh nghiệm có nền tảng khoa học hơn về các phương thuốc thường thức.
Cụ thể em có thể nêu ra một số kinh nghiệm thường thức mà em có trong mối
liên hệ với những kiến thức Đông y vừa có ở trên.
Khi đau bụng do trúng thực, không tiêu hay thương hàn do ăn phải đồ có tính
hàn mạnh hay cơ thể hiện đang thái âm thiếu dương nên uống trà gừng nóng,
rượu gừng nóng mang tính thái dương (như có giải thích ở mục 3.4) để giúp
cường dương cân bằng âm dương, giúp cơ thể tiêu hóa thức ăn.
Khi bị say nóng, say nắng, choáng váng khi làm việc trong môi trường nhiệt độ
cao hay đi về giữa trưa nắng, thì cần dùng thuốc mát để thanh nhiệt giải thử
như lá sen, đậu ván, quả dưa hấu.
15
Khi bị nhiệt độc: do nhiễm trùng bởi vi trùng, vi rút thì dùng thuốc thanh nhiệt
giải độc như hoa cúc, hoa kim ngân, bồ công anh, sài đất, rẻ quạt, hay lá dấp
cá.
Không nên nằm dưới đất hay sàn lạnh, đi chân trần trên nền đất, nhất là những
5. Phạm Thùy Dương (2007):“ Học thuyết Âm dương Ngũ hành với Y học cổ
truyền phương Đông”.
6. Trang web của Viện y học cổ truyền Quân đội :
http://yhoccotruyenqd.vn/index.php/kien-thuc-yhct/Ly-luan-YHCT/HOC-
THUYET-TANG-PHU-21
7. Trang web Y học dân tộc :
http://yhocdantoc.blogspot.com/2009/04/hoc-thuyet-tang-phu.html
18