Dàn ý:
A. Đặt vấn đề.
B. Quyền hiến xác , bộ phận cơ thể người của cá nhân sau
khi chết.
I. Giới thiệu về quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người của cá
nhân sau khi chết .
II. Quyền hiến xác,bộ phận cơ thể người của cá nhân sau khi
chết trong hệ thống các quyền nhân thân.
III. Sự cần thiết ghi nhận và bảo vệ quyền hiến xác, bộ phận cơ
thể người của cá nhân sau khi chết bằng pháp luật.
IV. Pháp luật một số nước trên thế giới về hiến xác, bộ phận
cơ thể người của cá nhân sau khi chết
V. Pháp luật Việt Nam về quyền hiến xác, bộ phận cơ thể
người của cá nhân sau khi chết.
VI. Nguyên tắc ghi nhận , thực hiện và bảo vệ quyền hiến xác,
bộ phận cơ thể người của cá nhân sau khi chết.
VII. Một số vấn đề thực tế khi thực hiện quyền hiến xác, bộ
phận cơ thể người của cá nhân sau khi chết.
C. Kết luận
Bài làm :
A. Đặt vấn đề.
Trong điều kiện thế giới hiện nay nói chung và điều kiện nước ta hiện nay nói
riêng, khi mà các giá trị về vật chất của con người ngày càng được thoả mãn
đầy đủ hơn thì chúng ta ngày có xu hướng quan tâm đến các giá trị của cá nhân,
một trong những giá trị mà con người hướng tới chính là “quyền hiến xác, bộ
phận cơ thể người của cá nhân sau khi chết”. Xung quanh đề tài này còn khá
nhiều vấn đề thú vị và quan trọng. Dưới đây là phần tìm hiểu một số vấn đề liên
quan đến quyền hiến xác và bộ phận cơ thể người của cá nhân sau khi chết.
B. Quyền hiến xác , bộ phận cơ thể người của cá nhân sau
khi chết.
I. Giới thiệu về quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người của cá nhân sau
Tuy nhiên, dù cho mỗi cá nhân có quyền tự quyết định, tự định đoạt đối với
thân thể của mình, nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật. Pháp luật đa số các
nước không cho phép mua bán bộ phận cơ thể người như là một loại tài sản,
bởi nếu cân nhắc giữa việc đảm bảo tự do ý chí của mỗi cá nhân với bảo vệ trật
tự công cộng và đạo đức xã hội thì rõ ràng phải ưu tiên cái thứ hai.
II. Quyền hiến xác,bộ phận cơ thể người của cá nhân sau khi chết
trong hệ thống các quyền nhân thân.
Với tư cách là một quyền nhân thân, quyền hiến bộ phận cơ thể mang những
đặc điểm chung của quyền nhân thân, đó là:
Thứ nhất, Quyền nhân thân luôn gắn với một cá nhân xác định, không được
phép chuyển giao cho người khác. Quyền nhân thân thuộc về cá nhân cụ thể từ
khi người đó được sinh ra hoặc theo những căn cứ khác do pháp luật quy định.
Những quyền nhân thân này ứng với mỗi cá nhân, sẽ cho phép cá nhân khẳng
định họ, là chính họ mà không phải ai khác, họ là một chủ thể độc lập trước
cộng đồng. Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người của cá nhân sau khi chết là
một quyên luôn gắn với cá nhân xác định, không được phép chuyển giao cho
3
người khác. Chỉ có cá nhân đó mới có quyền hiến xác và bộ phận cơ thể của
chính mình sau khi chết mà không phải người, tổ chức đoàn thể nào khác.
Thứ hai, Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền. Giá trị nhân thân và
tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang
giá. Về cơ bản, chủ thể của quyền nhân thân chỉ được hưởng lợi ích tinh thần
mà không được hưởng lợi ích vật chất. Bên cạnh đó, có những trường hợp đặc
biệt, quyền nhân thân mang lại lợi ích vật chất cho chủ thể quyền. Như vậy,
một trong những tiêu chí phân loại quyền nhân thân là dựa vào yếu tố tài sản,
theo đó, có thể chia quyền nhân thân làm 2 loại: quyền nhân thân gắn với tài
sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản. Theo cách phân loại này, quyền
hiến bộ phận cơ thể thuộc nhóm quyền nhân thân không gắn với tài sản.
Thứ ba, quyền nhân thân được xác lập không phải dựa trên các sự kiện pháp lý
mà chúng được xác lập trực tiếp trên cơ sở những quy định của pháp luật
được khi người hiến còn sống.
III. Sự cần thiết ghi nhận và bảo vệ quyền hiến xác, bộ phận cơ thể
người của cá nhân sau khi chết bằng pháp luật.
Cách đây vài chục năm, việc hiến xác, bộ phận cơ thể người đã trở nên phổ
biến trên thế giới. Để tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động lấy, ghép mô, bộ
phận cơ thể người, sử dụng xác, bộ phận cá nhân người sau khi chết vì mục
đích nhân đạo cứu người, chữa bệnh cho nhân dân, giảng dạy và nghiên cứu
khoa học, đa số các nước trên thế giới đều có đạo luật riêng về hiến xác, bộ
phận cơ thể người như Pháp, Mỹ, Canađa, Úc, Bỉ, Trung Quốc, Nhật Bản,
Singapore, Thái Lan …
Ở Pháp việc ghép thận lấy từ thận tử thi được thực hiện từ năm 1952, việc ghép
tim và ghép gan lấy từ tử thi cũng đã triển khai từ năm 1967, 1968.
Hiện nay, các quy định pháp luật về hiến xác, bộ phận cơ thể người sau khi chết
đã được triển khai ở nhiều nước. . Số bệnh nhân được ghép mô, bộ phận cơ thể
người ngày một nhiều và số các bệnh viện được tổ chức tiến hành ghép ở các
nước này đã tăng lên nhanh chóng.
Một trong những nguyên nguyên nhân giúp cho việc tiến hành ghép mô, bộ
phận cơ thể người thành công ở một số nước trên thế giới là phải có các quy
5
định pháp luật cho phép tiến hành lấy mô, bộ phận cơ thể ở người chết não
nhằm góp phần thúc đẩy việc phát triển chương trình quốc gia về ghép mô, bộ
phận cơ thể người.
Ở Việt nam, theo số liệu thống kê, nhu cầu được hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ
thể người ở nước ta là rất lớn và ngày càng gia tăng. Cụ thể là,cả nước có
khoảng 5.000 – 6.000 người suy thận mãn cần được ghép thận. Tại 5 bệnh viện
lớn ở Hà Nội đã có gần 1.500 người được chỉ định ghép gan nhưng không có
nguồn cho nên số bệnh nhân này đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính
mạng. Ước tính, do không có nguồn của người cho thận, cho gan, ở Việt Nam
đã có hơn 200 người phải sang Trung Quốc và một số nước khác để ghép thận,
ghép gan.
mang tính chất tự nguyện, nếu chỉ chờ vào nguồn hiến bộ phận cơ thể người
của người thân là không thể đủ. Do đó, việc lấy mô, bộ phận cơ thể ở người
hiến tự nguyện ngoài huyết thống và đặc biệt là ở người hiến sau khi chết là vô
cùng cấp thiết.
Về mặt pháp lý, mặc dù việc hiến xác và bộ phận cơ thể người của cá nhân sau
khi chết đã được một số quy định trong một số văn bản pháp luật. Tuy nhiên,
các quy định này chỉ mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, chưa đầy đủ nên khó
thực hiện trong thực tiễn. Để tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động lấy, ghép mô,
bộ phận cơ thể người, đa số các nước trên thế giới đều có đạo luật riêng về
hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người như Canađa, Úc, Bỉ, Trung Quốc,
Nhật Bản, Singapore, Thái Lan …Đạo luật riêng về hiến xác, bộ phận cơ thể
người sau khi chết có thể giải quyết những khó khăn, vướng mắc gặp phải
trong việc cho – nhận bộ phận cơ thể người, hỗ trợ, định hướng cho phép ngành
y tế phát huy tối đa các thành tựu của mình chữa bệnh phục vụ nhân dân; đảm
bảo an toàn nghề nghiệp cho đội ngũ bác sĩ thực hiện phẫu thuật lấy, ghép bộ
phận cơ thể; bảo vệ người bệnh và đảm bảo quyền lợi của người hiến tặng vì sự
phát triển của khoa học và sự tiến bộ chung của loài người.
IV. Pháp luật một số nước trên thế giới về hiến xác, bộ phận cơ thể
người của cá nhân sau khi chết
7
Để tạo hành lang pháp lý cho giải phẫu học thế giới phát triển, để cứu chữa
người bệnh vượt qua hiểm nghèo, tái sinh sự sống của mình qua việc được cấy,
ghép một mô, bộ phận cơ thể của người nào đó đã bị chết hiến tặng thì không
chỉ pháp luật các quốc gia mà pháp luật quốc tế cũng ghi nhận về vấn đề này từ
rất sớm. Trong khuôn khổ pháp luật quốc tế đầu tiên có thể kể đến Công ước
quốc tế về các Quyền kinh tế, văn hoá và xã hội, viết tắt tiếng Anh là
CESCR, và Công ước quốc tế về các Quyền dân sự, chính trị, viết tắt tiếng
Anh là CCPR, được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua 16/12/1966 và có
hiệu lực từ ngày 23/3/1976. Việt Nam gia nhập 2 Công ước này ngày
24/9/1982. Còn trong khuôn khổ Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thông qua