TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HOC
Bài tiểu luận môn triết học:
TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG GIA VÀ SỰ
ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VĂN HÓA
ẨM THỰC VIỆT NAM
Giảng viên phụ trách: TS. Bùi Văn Mưa
Học viên thực hiện: Nguyễn Lê Duyên
STT: 25
Lớp: cao học khóa 23 – Đêm 1
Nhóm: 3
TP.HCM, tháng 12/2014
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG GIA
2
1. Tư tưởng âm dương 2
1.1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng âm dương 2
1.2. Nội dung tư tưởng âm dương 3
2. Tư tưởng về Ngũ Hành 4
2.1 Nguồn gốc hình thành tư tưởng Ngũ hành 4
2.2 Nội dung chính của thuyết ngũ hành 5
2.2.1 Sơ lược về Ngũ hành 5
2.2.2 Nội dung thuyết Ngũ hành 6
3. Mối quan hệ giữa hai học thuyết Âm Dương và Ngũ hành 6
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG GIA ĐẾN
VĂN HÓA ẨM THỰC VIỆT NAM 7
1. Sự hòa hợp âm dương của thức ăn 7
2.Sự hòa hợp âm dương của thức uống – nhai – hút 9
những hạn chế và thiếu sót. Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy để
bài tiểu luận của em hoàn thiện hơn.
Triết học âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực Việt Nam Trang 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG
GIA
Triết học âm dương gia không những được nhiều trường phái triết học tìm
hiểu lý giải, khai thác mà còn được nhiều ngành khoa học khác quan tâm vận
dụng. Có thể nói, ít có học thuyết triết học nào lại thâm nhập vào nhiều lĩnh vực
của tri thức và được vận dụng để lý giải nhiều vấn đề của tự nhiên, xã hội
như học thuyết này. Triết học âm dương gia bao gồm hai hệ tư tưởng lớn là: âm
dương và ngũ hành.
1. Tư tưởng âm dương
1.1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng âm dương
Theo nghiên cứu, học thuyết âm dương xuất hiện đầu tiên trong "Kinh Dịch".
Tương truyền, Phục Hy (2852 trước CN) nhìn thấy bức đồ bình trên lưng con
long mã trên sông Hoàng Hà mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó
vạch thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền (-) tức "vạch lề" để làm phù hiệu cho
khí dương và một nét đứt ( ) là vạch chẵn để làm phù hiệu cho khí âm.
Lý luận về âm dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách
"Quốc ngữ". Tài liệu này mô tả âm dương đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại
phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi
và một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược
Sau này, các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung
Quốc đã kết luận rằng "khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam"
("Phương Nam" ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa, từ sông Dương
Tử trở xuống và vùng Việt Nam). Trong quá trình nam tiến, người Hán đã tiếp
thu triết lý âm dương của các cư dân phương nam, rồi phát triển, hệ thống hóa
triết lý đó bằng khả năng phân tích của người du mục làm cho triết lý âm dương
đạt đến hoàn thiện và mang ảnh hưởng của nó tác động trở lại cư dân phương
nam.
ngừng. Sự thắng phục, tiêu trưởng của âm dương theo quy luật "vật cùng tắc
biến, vật cực tắc phản". Sự vận động của hai mặt âm dương đến mức độ nào đó
sẽ chuyển hóa sang nhau gọi là "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương".
Sự tác động lẫn nhau giữa âm đương luôn nảy sinh hiện tượng bên này kém, bên
kia hơn, bên này tiến, bên kia lùi. Đó chính là quá trình vận động, biến hóa
và phát triển của sự vật, đồng thời cũng là quá trình đấu tranh tiêu trưởng của âm
dương.
Những quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vận
động và phát triển của một dạng vật chất, âm dương tương tác với nhau gây nên
mọi sự biến hóa của vũ trụ. Cốt lõi của sự tương tác đó là sự giao cảm âm dương.
Điều kiện của sự giao cảm đó là sự vật phải trung và "hòa" với nhau. Âm dương
giao hòa cảm ứng là vĩnh viễn, âm dương là hai mặt đối lập trong mọi sự vật,
hiện tượng. Vì vậy, quy luật âm dương cũng là quy luật phổ biến của
sự vận động và phát triển không ngừng của mọi sự vật khách quan.
2. Tư tưởng về Ngũ Hành
Nếu như sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con người tới những
nhận thức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ trụ và hình
thành thuyết âm dương, thì ý tưởng tìm hiểu bản thể thế giới, bản thể các hiện
tượng trong vũ trụ đã giúp cho họ hình thành thuyết ngũ hành. Thuyết ngũ hành
có thể hiểu đó là thuyết biểu thị quy luật vận động của thế giới của vũ trụ, nó cụ
thể hóa và bổ sung cho thuyết âm dương thêm hoàn bị.
2.1 Nguồn gốc hình thành tư tưởng Ngũ hành:
Cũng như Âm dương, chưa có một tài liệu nào ghi chép rõ nguồn gốc hình
thành ra đời của “Ngũ hành”. Qua nghiên cứu, con người chỉ ghi nhận lại thuyết
“Ngũ hành” được nhắc đến ở đâu và nội dung như thế nào.
Đầu tiên, học thuyết này được đề cập đầu tiên trong tác phẩm “Kinh thư” ở
chương “Hồng phạm”. Trong tác phẩm đề cập, ngũ hành về mặt tự nhiên gồm
Triết học âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực Việt Nam Trang 4
năm loại vật chất cụ thể (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), về mặt thiên thời có ngữ “
kỷ” (một là năm, hai là tháng, ba là ngày, bốn là các vì sao, năm là lịch số).
sinh và phát triển. Đó gọi là ngũ hành tương sinh. Người ta quy ước thứ tự của
Ngũ hành tương sinh như sau: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim
sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Sự tương sinh này cứ lặp đi lặp lại không ngừng.
Trong quan hệ tương sinh, mỗi Hành đều có mối quan hệ với hai Hành khác (hai
vị trí khác: Cái-Sinh-Nó và Cái-Nó-Sinh).
Quy luật tương khắc: Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau, làm thiệt
hại nhau, nhưng phải biểu hiện cái ý quân bình và giữ gìn lẫn nhau giữa các
Hành. Quan hệ Tương khắc được thể hiện như sau: thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa,
hỏa khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ.
Tương sinh và tương khắc không tách rời nhau, nhờ đó vạn vật mới giữ được
thăng bằng trong mối quan hệ với nhau. Quy luật tương sinh tương khắc là chỉ
vào quan hệ của ngũ hành dưới trạng thái bình thường. Còn nếu giữa ngũ hành
với nhau mà sinh ra thiên thịnh hoặc thiên suy, không thể giữ gìn được thăng
bằng, cân đối mà xảy ra trạng thái trái thường thì gọi là "tương thừa", "tương vũ".
3. Mối quan hệ giữa hai học thuyết Âm Dương và Ngũ hành
Hai học thuyết này luôn luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, không thể
tách rời. Âm dương là quy luật chung của vũ trụ, là kỉ cương của vạn vật, là khởi
đầu của sự sinh trưởng, biến hóa. Nhưng nó sẽ gặp khó khăn khi lý giải sự biến
hóa, phức tạp của vật chất. Khi đó nó phải dùng thuyết ngũ hành để giải thích. Vì
vậy có kết hợp học thuyết âm dương với học thuyết ngũ hành mới có thể giải
thích mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội một cách hợp lý.
Triết học âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực Việt Nam Trang 6
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG
GIA ĐẾN VĂN HÓA ẨM THỰC VIỆT NAM
Trong bữa ăn truyền thống và hiện đại, người Việt không chỉ chú ý tới yếu tố
đảm bảo dinh dưỡng mà còn đảm bảo hài hòa âm dương theo các yếu tố sau đây:
1. Sự hòa hợp âm dương của thức ăn
Để tạo nên những món ăn có sự hài hòa âm dương, người Việt Nam phân
biệt thức ăn theo năm mức âm dương, ứng với ngũ hành: hàn (lạnh, âm nhiều =
Thủy); nhiệt (nóng, dương nhiều = Hỏa); ôn (ấm, dương ít = Mộc); lương (mát,
Song hành cùng với ngũ vị là ngũ sắc: màu trắng (Kim), màu đen (Thủy),
màu xanh (Mộc), màu đỏ (Hỏa), màu vàng (Thổ) và ngũ chất: chất bột (Mộc),
chất béo (Hỏa), chất đạm (Thổ), muối khoáng (Kim), nước (Thủy). Sự kết hợp
hài hòa giữa ngũ vị, ngũ sắc và ngũ chất nhằm thỏa mãn 5 giác quan của con
người khi ăn đó là mũi ngửi mùi thơm, mắt thấy được màu sắc, tai thấy được
tiếng nhai, lưỡi nếm được mùi vị, và tay cầm và cảm nhận. Nó liên quan tới hoạt
động của ngũ tạng (tâm, can, tỳ, phế, thận), điều hòa lục phủ ngũ tạng. Điều này
thể hiện rõ ở sản phẩm lâu đời của nền văn minh nông nghiệp lúa nước đó là
bánh chưng. Bánh chưng vừa bình dị, thân thiết với người Việt Nam, vừa thể
hiện tính tư duy sâu sắc của người xưa và thấm đượm triết lý âm dương, ngũ
hành. Bánh chưng trong ngày tết tuy đơn giản như thế nhưng thể hiện tính tư duy
sâu sắc của người xưa: màu vàng ngà của nhân đậu bùi thoảng hương thơm, màu
đỏ hồng của thịt heo chín, màu trắng ngần của nếp dẻo thơm, màu xanh biếc của
lá dong hay lá chuối và chấm đen của thảo quả, hạt tiêu. Bánh chưng còn thể hiện
triết lý âm dương trong cách bố trí hình thể và nhân chiếc bánh. Bánh chưng hình
vuông (âm), bên trong nhân bánh hình tròn (dương). Cùng bao bọc của nhân đậu,
thịt heo (âm – dương) là màu trắng của nếp. Nếp – đậu – thịt heo (âm – dương –
âm, thực vật – động vật – thực vật) tạo thành tam tài. Tam tài với 3 cặp phạm trù
âm – dương: nếp – thịt heo (âm – dương), đậu – thịt heo (âm – dương), nếp – đậu
(âm – dương), nếp được trồng dưới nước là âm, đậu trồng trên cạn là dương.
Triết học âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực Việt Nam Trang 8
Sự hài hòa âm dương còn được thể hiện ở việc người Việt rất thích ăn các
dạng bao tử trong quá trình âm dương chuyển hóa nên chúng là những thức ăn
giàu chất dinh dưỡng. Động vật thì có trứng lộn, nhộng, lợn sữa, chim ra ràng,
ong non, ve non, dế non, đuông ( ấu trùng kiến sống trong ngọn cây dừa, cau, chà
là) Thực vật thì có giá, cốm, măng Chính vì vậy mà ông bà ta thường có câu
“cốm hoa vàng, chim ra ràng, gái mãn tang, cà cuống trứng”.
Âm dương mới nhìn tưởng như tương khắc, nhưng biết dùng lại trở nên
tương hợp với nhau. Người phương Tây sẽ không hiểu nổi tại sao khi ăn chè, ăn
dưa hấu là những thứ ngọt mà người Việt Nam lại nêm thêm muối, chấm muối?
những người xung quanh và bị pháp luật xử phạt nếu hút thuốc không đúng nơi
quy định nên việc hút thuốc lào không còn phổ biến như trước đây.
Bên cạnh, việc nhai trầu và hút thuốc thì người Việt Nam còn có một thú vui
đó là uống rượu, trong các bữa tiệc người ta vừa bàn chuyện văn thơ, thế sự vừa
uống rượu đó là thú vui tao nhã nếu uống lượng vừa đủ. Trong cách pha chế rượu
cũng ẩn trong nó thuyết âm dương ngũ hành, chẳng hạn, hoàng hoa tửu ( rượu
ngâm hoa cúc vàng) một loại rượu ngon nổi tiếng bậc nhất. Nếu chọn hoa cúc
mùa thu (âm) thì chưng cất bằng nước mùa hạ (dương) năm trước để mẻ rượu ra
lò có âm – dương hài hòa. Nếu là cúc mùa xuân (dương) thì nhất định phải dùng
nước mưa trữ từ mùa thu (âm) năm trước. Điều này thể hiện sự công phu trong
chế biến nhằm cân bằng âm – dương giúp rượu ngon hơn.
3. Sự hòa hợp âm dương của con người
Các nhà y học cổ truyền với thuyết âm - dương cho rằng, khi ăn vào, thức ăn
sẽ tạo ra những biến đổi trong cơ thể, như làm cho cơ thể nóng/ấm lên tạo cảm
giác hưng phấn, hay làm cho cơ thể mát mẻ, dễ chịu. Ngược lại, thức ăn có thể
làm cho người ta cảm thấy bức rứt khó chịu, hay cảm giác bị ức chế, nặng nề.
Triết học âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực Việt Nam Trang 10
Mọi bệnh tật đều xuất phát từ nguyên nhân gốc là sự mất quân bình âm dương
trong cơ thể; vì vậy, một người bị ốm do quá âm cần được cho ăn đồ dương và
ngược lại, ốm do quá dương sẽ được cho ăn đồ âm để khôi phục lại sự cân bằng
đã mất. Chính vì vậy mà người Việt Nam đã sử dụng thức ăn như những vị thuốc
để đều chỉnh sự mất quân bình âm dương trong cơ thể. Chẳng hạn, đau bụng
nhiệt (dương) thì cần ăn những thức hàn (âm) như chè đậu đen, nước sắc đậu đen
(màu đen là âm), trứng gà, lá mơ Đau bụng hàn (âm) thì dùng các thứ nhiệt
(dương) như gừng, giềng Bệnh sốt cảm lạnh (âm) thì ăn cháo gừng, tía tô
(dương); còn sốt cảm nắng (dương) thì ăn cháo hành (âm)
Trong công trình nghiên cứu về thuốc sớm nhất, có niên đại hơn 2.000 năm
trước còn giữ lại được, đã khuyến cáo có những loại thức ăn đồng thời cũng là
những vị thuốc có giá trị chữa bệnh rất cao, như gia vị gừng, tỏi, và các loại khác
như muối, vừng, hạt sen, ngó sen, long nhãn, táo, nho, Trong cuốn “Vệ sinh
nghiệt nên các món ăn có nhiều vị cay, mặn vì thức ăn phổ biến ở vùng này đa số
là đồ hải sản ( mang tính hàn = âm). Miền Nam nóng hơn nên thích ăn ngọt (vị
ngọt hợp với hành thổ - trung hoà) và phải dùng tới thứ cực âm là đồ đắng (canh
khổ qua) mới đủ chống nóng. Thêm vào đó, những món ăn ngày Tết của miền
Nam nhiều cá, thịt, cây trái. Khi chế biến, món gì cũng được cắt to, thái dày.
Chẳng hạn, món thịt kho ngày tết bao giờ cũng thái vuông lớn thay vì thái lát
mỏng như ngày thường. Mâm ngũ quả của miền Bắc thường là chuối, bưởi, đào,
hồng, quýt khi vào đến miền Nam nơi có nhiều hoa tươi, trái ngọt. Người miền
Nam đã sắp trái cây theo lối chơi chữ “ cầu sung ( túc) vừa đủ xài” với cầu
( mãng cầu xiêm), sung ( trái sung), vừa ( quả dừa), đủ ( trái đu đủ), xài ( trái
xoài).
Thêm vào đó, tôn giáo phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng (đạo
Phật, đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo) đều khuyến khích việc ăn chay. Ngoài ý nghĩa
giáo dục (giới luật cấm sát sinh), việc ăn chay (ăn thức ăn thực vật) chính là một
Triết học âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực Việt Nam Trang 12
cách để thông qua chế độ dinh dưỡng tạo nên những con người âm tính, hiền hòa.
Hiện nay, trên cơ sở những nghiên cứu khoa học, các tổ chức y tế ở nhiều nước
phương Tây cũng đang tuyên truyền cho tháp dinh dưỡng thiên về thực vật để
đảm bảo sức khỏe của mỗi người hạn chế các bệnh như tim mạch, béo phì, vô
sinh…
5. Sự hài hòa âm dương giữa con người với mùa
Người Việt Nam có nhiều câu tục ngữ, cao dao thể hiện cách ăn theo mùa:
“Mùa hè cá sông, mùa đông cá bể; Chim ngói mùa thu, chim cu mùa hè; Ếch
tháng ba, gà tháng bảy; Ếch tháng mười, người tháng giêng” hay “ tháng chín
ăn rươi, tháng mười ăn ruốc; rau muống tháng chín, nàng dâu nhịn cho mẹ
chồng ăn”… Ăn uống theo mùa cũng là lúc sản vật ngon nhất, nhiều nhất, rẻ nhất
và tươi sống nhất, tốt nhất cho sức khoẻ. Để bảo đảm sự hài hòa âm dương giữa
con người với thời gian, người Việt có tập quán ăn uống theo mùa. Điều này thể
hiện rõ nhất ở các tỉnh phía Bắc là nơi có khí hậu 4 mùa.
Mùa xuân vạn vật phục hồi, khí dương trong vạn vật cũng như trong cơ thể
thường phải ngâm mình trong nước (âm), thức ăn phổ biến của dải đất ven biển
này là các thứ hải sản mang tính hàn (âm) nên bù lại phải ăn cay và mặn (dương)
rất nhiều (trước khi lặn xuống biển phải uống nguyên cả chai nước mắm cốt).
Triết học âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực Việt Nam Trang 14
KẾT LUẬN
Bữa ăn truyền thống của người Việt Nam là sản phẩm của truyền thống
nông nghiệp lúa nước, nó chứa đựng những tư duy, triết lý sâu sắc trong việc
nhận thức về vũ trụ. Người Việt Nam đã biết vận dụng những nguyên lý ấy để
làm cho bữa ăn của mình đa dạng, giàu dinh dưỡng, có ích đối với sức khỏe. Tùy
vào con người (chủ thể), không gian và cả thời gian mà họ có cách chế biến khác
nhau phù hợp, trong đó yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành được đảm bảo. Ngày nay,
khi khoa học công nghệ hiện đại phát triển, song bữa ăn của người Việt vẫn lưu
giữ được những nét truyền thống và được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Việc vận
dụng những nguyên lý của Âm Dương, Ngũ Hành trong việc chế biến thức ăn là
điều cần thiết, để đảm bảo cho sức khỏe.
Triết học âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực Việt Nam Trang 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học, Nhà xuất bản Lý luận chính trị,
Hà Nội, 2006
2. Dinh dưỡng (2010), Triết lý ngũ vị, tại
truy cập ngày 30/11/2012
3. Nguyễn Văn Luật ( 2006), Hài hòa âm dương trong ẩm thực Việt,
/>thuc-Viet.html truy cập ngày 29/11/2012
4. Tiểu ban Triết học, Triết học - Phần I, II,& III, LHNB Trường ĐH Kinh tế
TP.HCM, 2010.
5. Trần Ngọc Thêm (2007), Ẩm thực và ẩm thực Việt Nam từ góc nhìn triết lý âm
dương, Hội thảo khoa học "Kế thừa và nâng cao tính hợp lý của cách ăn truyền
thống Việt Nam" do Hội Dinh dưỡng Việt Nam tổ chức, Hà Nội, 17/8/2007
6. Trần Ngọc Thêm 1999: Cơ sở văn hoá Việt Nam. - Trường Đại học Tổng hợp
Tp. HCM / NXB Tp. Hồ Chí Minh