Quản lý nguy cơ sức khỏe môi trường trong thảm họa
PGS.TS. Ngô Văn Toàn, ThS. Trần Quỳnh Anh
Bộ môn Sức khỏe Môi trường - Đại học Y Hà Nội
MỤC TIÊU:
1. Trình bày được những biện pháp quản lý nước ăn uống, vệ sinh môi trường
trong thảm họa.
2. Trình bày được các nguyên tắc đảm bảo vệ sinh an tòan thực phẩm trong
thảm họa
NỘI DUNG:
1. Biện pháp quản lý nước ăn uống, vệ sinh môi trường trong thảm họa.
Các biện pháp đảm bảo nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt trong thảm họa.
Bình thường, nhu cầu về nước cho ăn uống, sinh hoạt ở nông thôn tối thiểu
là 30 lít/người/ngày và ở thành thị là 100 – 150 lít/người/ngày. Theo Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, mục tiêu đề ra trong Chiến lược Quốc gia
NS&VSMT nông thôn đến năm 2020 là đảm bảo 100% dân số nông thôn được sử
dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế với số lượng tối thiểu là 60
lít/người/ngày. Tuy nhiên, trong điều kiện thảm họa thì lượng nước sạch tối thiểu
cần thiết để đảm bảo nhu cầu ăn uống, sinh hoạt có thể thấp hơn, nhưng thông
thường cũng phải đạt 15 lít/người/ngày. Do đó, giả sử một gia đình có 4 người thì
cần tối thiểu khoảng 60 lít nước sạch mỗi ngày cho ăn uống, sinh hoạt.
Trong thảm họa, dịch vụ cấp nước máy có thể bị gián đoạn. Tại Việt Nam,
tỉ lệ người dân sử dụng nước giếng khoan, giếng đào hay nước mặt cho mục đích
ăn uống, sinh hoạt vẫn còn cao nên người dân cần được hướng dẫn từ trước để biết
cách áp dụng các biện pháp xử lý nước đơn giản khi thiên tai thảm họa xẩy ra. Nếu
không có nước máy hay nước mưa, người dân có thể sử dụng nước giếng, nước
mặt (ao, hồ, sông, suối …) hay thậm chí sử dụng nước ngập lụt và xử lý theo quy
trình sau đây (Hình 1) để có nước sạch cho mục đích ăn uống, sinh hoạt.
Hình 1. Quy trình xử lý nước ăn uống, sinh hoạt trong thảm họa
Bước 1. Làm trong nước bằng phèn chua hoặc lọc qua vải, màn. Trong
thảm họa (ví dụ bão, lụt), nước thường bị đục và không thể để lắng cặn trong một
thông dụng nhất vì đơn giản, không tốn kém và thường có hiệu quả cao. Trong
thảm họa, người dân có thể sử dụng các viên Cloramin T hoặc B (được đóng gói
với hàm lượng 0,25g) để khử trùng nước sau khi đã đánh phèn làm trong. Không
khử trùng đồng thời với đánh phèn vì phèn và các chất hữu cơ trong nước sẽ hấp
thụ hết Clo hoạt tính nên làm mất tác dụng khử trùng của Clo. Một viên Cloramin
T hoặc B có thể dùng để khử trùng 25 lít nước. Ngoài ra các trung tâm y tế dự
phòng hay trạm y tế xã cũng có thể sử dụng Cloramin B dạng bột và Clorua vôi để
khử trùng các nguồn nước cấp cho tập thể, các giếng nước công cộng tại các nơi
sơ tán với hàm lượng 10mg hóa chất/1 lít nước. Sau khi khử trùng nước vẫn phải
ngửi thấy mùi Clo thì mới đảm bảo và nước sau khi khử trùng vẫn cần đun sôi
trước khi uống. Còn đối với nước máy, trong tình huống thảm họa, cần phải
thường xuyên kiểm tra nồng độ Clo dư trong nước để đảm bảo nồng độ Clo dư
luôn đạt tối thiểu là 0,7mg/l thì mới đảm bảo an toàn cho người sử dụng.
Các biện pháp quản lý chất thải trong thảm họa.
2.2.1 Xử lý phân trong thảm họa
Khi thảm họa xẩy ra, người dân có thể hạn chế tối đa nhu cầu về nước sạch
(đặc biệt là cho mục đích sinh hoạt). Song nhu cầu đi vệ sinh thì không thể hạn
chế được dù chỉ trong thời gian ngắn. Trong thảm họa, các hệ thống cống thoát
nước thải và nhà vệ sinh có thể bị phá hỏng, chuồng gia súc có thể bị ngập (ví dụ
trong lũ lụt) và một số lượng lớn người dân có thể mất nhà cửa và phải tập trung
tại nơi sơ tán và những nơi này thường cơ sở hạ tầng về vệ sinh là rất hạn chế. Do
đó, các cán bộ y tế dự phòng cần phải thực hiện đánh giá nhanh tác động ban đầu
của thảm họa lên nhà vệ sinh công cộng và nhà vệ sinh hộ gia đình cũng như
chuồng trại gia súc gia cầm và nhu cầu của cộng đồng để từ đó đưa ra các hoạt
động ứng phó phù hợp, tránh tối đa hiện tượng đi vệ sinh bừa bãi ra môi trường.
Trong trường hợp lũ lụt, các nhà vệ sinh hộ gia đình bị ngập thì người dân có thể
sử dụng các nhà vệ sinh công cộng gần đó (ví dụ nhà vệ sinh của trường học, siêu
thị, nhà văn hóa xã phường v.v.) hoặc tận dụng những nơi đất cao, cách xa nhà, xa
nguồn nước và chưa bị ngập để làm hố tiêu tạm thời (kích thước có thể là 0,5m
mỗi chiều).
hiện tượng đi vệ sinh bừa bãi ra hai bên đường. Nếu dọc đường đi không có nhà vệ
sinh công cộng và người dân buộc phải đi vệ sinh thì cần bố trí một vài nơi cố
định và có người thu gom hàng ngày để xử lý (ví dụ chôn ở nơi gần đó).
2.2.2 Thu gom xử lý chất thải rắn trong thảm họa
Ở Việt Nam, chất thải rắn có từ nhiều nguồn khác nhau (chất thải sinh hoạt,
chất thải y tế, chất thải công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ v.v.). Hầu hết các chất
thải này hiện nay chưa được thu gom xử lý tốt. Ở các vùng nông thôn, phần lớn
chất thải rắn chưa được thu gom xử lý, hoặc ở một số nơi mặc dù có bố trí đội thu
gom rác nhưng cũng chỉ mới thu gom rác từ các hộ gia đình và tập trung đổ tại các
bãi rác của thôn, xã. Các bãi rác này không được thiết kế và xây dựng đảm bảo vệ
sinh, là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Khi thảm họa xẩy ra, sẽ có nguy cơ gia
tăng số lượng và chủng loại chất thải rắn (ví dụ cây đổ, nhà sập…), cộng với hệ
thống giao thông bị gián đoạn nên sẽ ảnh hưởng tới hoạt động thu gom xử lý rác
thải vốn đã rất hạn chế. Ngoài ra, ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, công tác
phân loại chất thải rắn trong điều kiện bình thường đã gặp nhiều khó khăn nên
trong thảm họa, hoạt động này càng trở nên khó khăn hơn và do đó nguy cơ rác
thải không nguy hại và rác thải nguy hại trộn lẫn với nhau gây ảnh hưởng sức khỏe
cộng đồng và tốn kém cho quá trình xử lý. Do đó, trong thảm họa, công tác thu
gom và xử lý chất thải rắn cũng là một hoạt động cần được ưu tiên thực hiện.
Việc đầu tiên là đánh giá phạm vi và mức độ của vấn đề để đưa ra kế hoạch
ứng phó phù hợp với thực tế. Hoạt động này cần xác định được số lượng, thành
phần chất thải mà cộng đồng bị ảnh hưởng thải ra, dự kiến lượng chất thải sẽ thay
đổi như thế nào theo thời gian, hệ thống thu gom xử lý rác thải sẵn có trước khi
thảm họa xẩy ra, những khó khăn trở ngại của công tác thu gom, vận chuyển và xử
lý rác thải trong thảm họa ví dụ thiếu nhân sự, thiếu phương tiện vận chuyển, giao
thông bị gián đoạn v.v. Trên thực tế, công tác này cần được chuẩn bị ngay từ giai
đoạn trước thảm họa.
Khi thảm họa xảy ra, công tác thu gom và vận chuyển rác thải cần được
thực hiện càng sớm càng tốt và phải được thống nhất với người dân. Tốt nhất là tại
những nơi bị tác động, cung cấp các thùng đựng rác thải cho người dân và hàng
ảnh hưởng đến sức khỏe. Khi thảm họa xảy ra, các điều kiện sống bị thay đổi
không còn những phương tiện thiết yếu để duy trì cuộc sống như bình thường,
nguy cơ thiếu thực phẩm, thực phẩm bị ô nhiễm đe dọa cuộc sống của mọi gia
định. Chính vì vậy, các cấp chính quyền cũng như người dân càng phải tuân thủ
triệt để các nguyên tắc VS ATTP để hạn chế tối đa những hậu quả cho sức khỏe từ
thực phẩm.
Nguyên tắc 1: Đảm bảo vệ sinh
Nguyên tắc này nhằm phòng chống sự phát triển và lan tràn của các vi sinh
vật gây bệnh nguy hiểm. Vi sinh vật gây bệnh nguy hiểm có rất nhiều trong ruột
của động vật và người, cũng như trong nước và đất ở những vùng vệ sinh kém, và
những vùng ngập lụt. Những vi sinh vật này có thể truyền qua thực phẩm và có thể
gây bệnh do ô nhiễm thực phẩm ngay cả với số lượng rất nhỏ. Trong hoàn cảnh
xảy ra thảm họa thì việc duy trì đảm bảo vệ sinh trong các khâu chuẩn bị, chế biến
và tiêu thụ thực phẩm là rất cần thiết đối với mọi người dân, nhất là người già và
trẻ nhỏ.
Việc đầu tiên là phải khuyến khích người dân rửa tay sạch bằng xà phòng
và nước (hoặc chất tẩy pha loãng) sau khi đi vệ sinh, trước và sau khi tiếp xúc với
thực phẩm sống và trước khi ăn. Trong thảm họa lũ lụt, tránh chuẩn bị thực phẩm
trực tiếp trong môi trường nước bị ngập. Khi chế biến thực phẩm, phải đảm bảo
rửa sạch tay và làm vệ sinh tất cả bề mặt, dụng cụ sử dụng trong quá trình chuẩn bị
thực phẩm.
Tại các nơi sơ tán, cần có khu vực bếp để phục vụ một số lượng lớn dân cư
tập trung đông đúc ở đây. Khu vực bếp này cần được bảo vệ để đảm bảo thực
phẩm tránh khỏi các loại côn trùng, sâu bọ, và các động vật khác. Bên cạnh đó,
những người bị tiêu chảy hoặc có các biểu hiện bệnh khác phải tránh xa khu vực
chế biến thực phẩm. Khu vực bếp cũng phải cách xa khu vực chuẩn bị thực phẩm
(bếp và nhà vệ sinh phải riêng biệt). Trong thảm họa lũ lụt, tuyệt đối không ăn
lương thực thực phẩm sống.
Nguyên tắc 2: Để riêng thực phẩm sống và thực phẩm chín
Các thực phẩm sống như thịt gia súc, gia cầm, hải sản và các chất lỏng khác
• Nấu súp và thịt sôi và phải tiếp tục nấu sôi ít nhất 15 phút để đảm bảo tất cả
các phần của thực phẩm đạt ít nhất đến 70
o
C.
Thức ăn cần được ăn ngay sau khi đã nấu chín, đun kỹ lại thức ăn cho đến
khi bốc hơi nóng nếu cần.
Nguyên tắc 4: Giữ thực phẩm ở nhiệt độ an toàn
Vi sinh vật sinh sôi rất nhanh nếu thực phẩm để trong nhiệt độ bình thường,
tốc độ sinh sản nhanh hơn ở nhiệt độ cao hơn và nhanh nhất ở nhiệt độ 30-40
o
C.
Lượng vi sinh vật trong thực phẩm càng cao thì nguy cơ gây bệnh do thực phẩm
càng lớn.
Để đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm, thức ăn cần được ăn ngay sau
khi đã nấu chín. Nhìn chung, nên vứt bỏ các thức ăn không được ăn trong vòng 2
tiếng sau khi nấu, thực phẩm cần được bảo quản ở nơi lạnh dưới 5
o
C. Trước khi ăn
cần phải đun nóng lại thức ăn (ở nhiệt độ trên 60
o
C) và phải vứt bỏ các thức ăn đã
nấu chín không để trong tủ lạnh hoặc bị hỏng.
Nguyên tắc 5: Sử dụng nước sạch và dụng cụ sạch
Các nguyên vật liệu sống, kể cả nước có thể bị nhiễm các vi sinh vật và hóa
chất nguy hiểm, đặc biệt ở những vùng bị ngập lụt. Do vậy, nguy cơ rau và hoa
quả bị ô nhiễm bởi nước chứa các chất thải tăng cao trong thảm họa ngập lụt.
Nước sạch có thể bị ô nhiễm các vi sinh vật nguy hiểm một cách nghiêm trọng
thông qua tiếp xúc trực tiếp bằng tay hoặc bề mặt bẩn. Nuôi con bằng sữa mẹ bảo
vệ trẻ khỏi mắc tiêu chảy do đặc tính chống lại nhiễm trùng và hạn chế tiếp xúc
với các vi sinh vật nguy hiểm do ăn uống gây ra.