CHƯƠNG II
QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
A. KHÁI NIỆM QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
I. QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA QUAN HỆ PHÁP
LUẬT DÂN SỰ
1. Quan hệ pháp luật dân sự
Quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh.
Trong hệ thống pháp luật, mỗi ngành luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội khác
nhau. Quan hệ pháp luật dân sự là một dạng quan hệ pháp luật, vì vậy, nó mang đầy đủ
đặc tính của quan hệ pháp luật về bản chất xã hội, bản chất pháp lí, tính cưỡng chế nhà
nước
Do tác động của các quy phạm pháp luật lên các quan hệ xã hội nên các bên tham gia
vào các quan hệ đó có các quyền và nghĩa vụ pháp lí tương ứng. Các quyền, nghĩa vụ
pháp lí này được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Sự tác động của các quy phạm pháp luật
vào các quan hệ xã hội không làm mất đi tính xã hội của các quan hệ đó mà làm cho các
quan hệ này mang một hình thức mới "quan hệ pháp luật". Hậu quả của nó là các quyền
và nghĩa vụ của các bên được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp cưỡng
chế của Nhà nước.
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội mang tính chất ý chí - ý chí của Nhà nước thông
qua các quy phạm pháp luật mà nội dung của chúng được xác định bằng các điều kiện
kinh tế, chính trị, xã hội tồn tại trong xã hội đó vào thời điểm lịch sử nhất định. Ngoài ra,
các quan hệ pháp luật còn mang ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó. Ý chí của
các chủ thể phải phù hợp với ý chí của Nhà nước và được thể hiện khác nhau trong từng
quan hệ cụ thể, từng giai đoạn của nó (phát sinh, thực hiện hoặc chấm dứt). Có thể chỉ thể
hiện khi phát sinh, lúc thực hiện hay chấm dứt một quan hệ cụ thể, song ý chí của các chủ
thể tham gia vào các quan hệ này phải phù hợp với ý chí của Nhà nước thể hiện qua các
quy phạm pháp luật dân sự và các nguyên tắc chung của luật dân sự được quy định trong
BLDS.
2. Đặc điểm các quan hệ pháp luật dân sự
Ngoài các đặc điểm chung của quan hệ pháp luật, quan hệ pháp luật dân sự còn mang
những đặc điểm riêng. Những đặc điểm riêng này xuất phát từ bản chất của các quan hệ
đảm bằng tài sản là đặc trưng để buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của họ và bên
có quyền có thể thông qua các biện pháp bảo đảm này để thoả mãn các quyền tài sản của
mình.
- Các biện pháp cưỡng chế đa dạng không chỉ do pháp luật quy định mà có thể tự các
bên quy định về các biện pháp cưỡng chế cụ thể về hình thức áp dụng các biện pháp
cưỡng chế đó. Nhưng đặc tính tài sản là đặc trưng cho các biện pháp cưỡng chế trong luật
dân sự.
II. THÀNH PHẦN CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
Thành phần của quan hệ pháp luật dân sự là các yếu tố cấu thành nên quan hệ đó.
Quan hệ pháp luật dân sự được cấu thành bởi các thành tố sau: Chủ thể, khách thể, nội
dung.
1. Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là những "người" tham gia vào các quan hệ đó.
Phạm vi "người" tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự bao gồm: Cá nhân, (công dân
Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch), pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
và trong nhiều trường hợp, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia với
tư cách là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự.
Để tham gia vào một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể, các chủ thể phải có đủ tư cách
chủ thể. Cho nên, có loại quan hệ chủ thể là công dân, như công dân có quyền để lại di
sản thừa kế còn các tổ chức chỉ được hưởng thừa kế theo di chúc; có loại chủ thể chỉ
được tham gia vào loại quan hệ nhất định, như hộ gia đình được tham gia trong các quan
hệ sử dụng đất, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hay Nhà nước là chủ sở hữu (thực hiện
2
quyền của chủ sở hữu) đối với các tài nguyên thiên nhiên và đất đai Trong phần lớn các
quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể tham gia là công dân, pháp nhân, Nhà nước, hộ gia
đình, tổ hợp tác như các quan hệ về quyền sở hữu, nghĩa vụ hợp đồng, bồi thường thiệt
hại
Trong quan hệ pháp luật dân sự, chủ thể quyền luôn luôn được xác định, chủ thể
nghĩa vụ có thể là một "người" cụ thể, cũng có thể là tất cả những người còn lại.
dụng. Giá trị của hàng hóa được xác định bằng lao động xã hội đã bỏ ra để sản xuất hàng
hóa đó. Đất đai, tài nguyên thiên nhiên được coi là vật nhưng không phải là hàng hóa.
Mọi hàng hóa đều là vật nhưng không phải mọi vật là hàng hóa.
Vật và tài sản cũng không đồng nghĩa với nhau. Tài sản có thể là một vật, có thể là tập
hợp các vật - khối tài sản. Tài sản còn gồm cả các quyền và nghĩa vụ tài sản như quyền
đòi nợ, nghĩa vụ trả nợ
3
b. Hành vi và các dịch vụ
Nếu coi khách thể của quan hệ pháp luật dân sự là cái mà xử sự của các chủ thể
hướng tới, tác động vào thì hành vi của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ là khách thể
của quan hệ nghĩa vụ. Đó là cái mà quyền cũng như nghĩa vụ của các chủ thể hướng tới
đầu tiên, trực tiếp, đó là xử sự của các chủ thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc
không hành động tùy theo các quan hệ pháp luật cụ thể.
Có những hành vi mà kết quả của nó được thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể. Trong
trường hợp này, muốn xem xét hành vi có thực hiện đúng hay không phải căn cứ vào kết
quả của việc thực hiện hành vi đó và như vậy hành vi này được vật chất hóa. Vì vậy, có
quan điểm cho rằng kết quả của hành vi là khách thể của quan hệ pháp luật dân sự. Điều
này không thể giải thích được trong các quan hệ dân sự mà hành vi không được vật chất
hóa như tư vấn pháp luật với hành vi tư vấn Trong các trường hợp như vậy, căn cứ đánh
giá chỉ có thể là hành vi của người phải thực hiện hành vi mà thôi. Trong trường hợp
hành vi được thể hiện bằng không hành động thì bản thân "sự không hành động" đó cũng
đủ cấu thành khách thể của quan hệ pháp luật dân sự.
Hiện nay, trong khoa học pháp lí chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm dịch vụ
nhưng thuật ngữ "dịch vụ" đã được sử dụng thực tế trong khoa học pháp lí và khoa học
kinh tế. Có thể nói rằng dịch vụ là một hoặc nhiều công việc mà kết quả của nó có thể vật
chất hoá nhưng nó không tạo ra vật mới mà nó được thể hiện bằng công việc đã thực hiện
xong như sửa chữa tài sản… hoặc không được vật chất hóa, như dịch vụ tư vấn pháp lí, gửi
giữ, vận tải Dịch vụ không trực tiếp tạo ra vật chất nhưng tạo tiền đề cho quá trình sản
xuất ra của cải vật chất, tinh thần cho các chủ thể và xã hội. Tỉ lệ giá trị dịch vụ trong thu
dân sự và có thể được chuyển giao trong lưu thông dân sự, kinh tế. Pháp luật đất đai quy
định người sử dụng đất có quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, cho
thuê lại, góp vốn, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất. Vì vậy, quyền sử dụng đất là đối
tượng trong các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và là di sản trong việc thừa kế quyền
sử dụng đất.
3. Nội dung của quan hệ pháp luật dân sự
Mọi quan hệ pháp luật đều là mối liên hệ pháp lí giữa các chủ thể tham gia vào các
quan hệ đó được thể hiện dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Vì vậy, nội
dung của quan hệ pháp luật dân sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên tham
gia vào các quan hệ đó. Quyền của một bên tương ứng với nghĩa vụ của bên kia tạo thành
mối liên hệ biện chứng, mâu thuẫn và thống nhất trong một quan hệ pháp luật dân sự cụ
thể. Không có quyền của một bên thì cũng không có nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.
Trong những quan hệ đơn giản, có thể dễ dàng xác định trong đó một bên chỉ có quyền và
một bên chỉ có nghĩa vụ (người cho vay và người vay tài sản…). Nhưng thông thường,
các quan hệ pháp luật dân sự là những quan hệ phức tạp, trong đó các bên có quyền đồng
thời có nghĩa vụ với nhau (trong quan hệ mua bán, cho thuê tài sản…).
a. Quyền dân sự
Theo quy định của pháp luật, quyền dân sự là cách xử sự được phép của người có
quyền năng.
Quyền dân sự của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự cụ thể khác nhau
thì có nội dung khác nhau (những xử sự khác nhau phù hợp với nội dung của quan hệ đó).
Chủ thể quyền trong các quan hệ dân sự có thể thực hiện những hành vi khác nhau phù
hợp với nội dung, mục đích của quyền năng đó như chủ sở hữu có các quyền chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình trong khuôn khổ pháp luật
quy định Thông qua hành vi của mình thoả mãn quyền của mình hoặc quyền yêu cầu
người khác (người có nghĩa vụ) thực hiện các hành vi nhất định (trả tiền, chuyển giao tài
sản, làm hoặc không làm một việc ). Chủ sở hữu có thể thực hiện quyền của mình thông
qua hành vi của người khác (uỷ quyền).
Khi quyền dân sự bị vi phạm, chủ thể quyền có thể sử dụng các biện pháp bảo vệ mà
pháp luật cho phép (tự bảo vệ, các biện pháp tác động ) hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước
Các quan hệ pháp luật dân sự rất phong phú, đa dạng về chủ thể, khách thể, nội dung,
cách thức phát sinh Việc phân loại các quan hệ pháp luật dân sự không chỉ có ý nghĩa
về mặt lí luận mà còn có ý nghĩa cả về mặt thực tế để hiểu đúng quan hệ giữa các bên và
áp dụng đúng pháp luật nhằm giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra. Có nhiều cách phân
loại khác nhau, mỗi cách phân loại đều được dựa vào những căn cứ cụ thể và có ý nghĩa
thực tiễn nhất định.
- Quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân
Căn cứ vào nhóm quan hệ mà pháp luật dân sự điều chỉnh, quan hệ pháp luật dân sự
được phân thành quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân.
+ Quan hệ tài sản luôn gắn với một tài sản nhất định hoặc chuyển dịch tài sản từ chủ
thể này sang chủ thể khác (quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng hay thừa kế tài sản ).
+ Quan hệ nhân thân liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể và về nguyên tắc
không thể dịch chuyển cho chủ thể khác (quyền đứng tên tác giả các tác phẩm văn học,
khoa học, tác phẩm nghệ thuật, quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín ).
Việc phân định các quan hệ pháp luật dân sự theo nhóm quan hệ mà luật dân sự điều
chỉnh có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Ví dụ: Nếu vi phạm các nghĩa vụ về tài sản sẽ áp dụng
các chế tài mang tính chất tài sản, ngược lại, nếu vi phạm các quan hệ về nhân thân sẽ áp
6
dụng các biện pháp khác nhằm hồi phục lại tình trạng ban đầu (công nhận quyền tác giả,
công khai xin lỗi, cải chính ).
- Quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối, tương đối
Căn cứ vào tính xác định của chủ thể quyền và chủ thể nghĩa vụ, quan hệ pháp luật
dân sự được phân chia thành quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối và quan hệ pháp luật dân
sự tương đối.
+ Quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối nếu trong quan hệ đó, chủ thể quyền được xác
định, tất cả các chủ thể khác là chủ thể mang nghĩa vụ. Nghĩa vụ của họ được thể hiện
dưới dạng không hành động (không thực hiện bất cứ hành vi nào xâm phạm đến quyền
lợi của chủ thể có quyền). Quan hệ tuyệt đối có thể là quyền sở hữu, quyền tác giả đối với
tài sản trí tuệ Trong những quan hệ này, chủ sở hữu, tác giả là người có quyền, những
7
sự). Một sự kiện xảy ra trong thực tế có thể làm phát sinh nhiều hậu quả pháp lí, ví dụ:
Một người chết làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ đồng thời làm phát sinh quan hệ
thừa kế. Có thể nhiều sự kiện pháp lí làm phát sinh một hậu quả pháp lí, như một người
chết có di sản thừa kế, có di chúc hợp pháp để lại làm phát sinh thừa kế theo di chúc. Nếu
cái chết đó do một hành vi phạm tội sẽ làm phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại. Có
nhiều trường hợp phải có nhiều sự kiện pháp lí mới làm phát sinh quan hệ pháp luật dân
sự. Đa số quan hệ pháp luật dân sự được phát sinh từ nhiều sự kiện pháp lí. Tập hợp các
sự kiện pháp lí làm phát sinh hậu quả pháp lí được gọi là thành phần các sự kiện pháp lí.
2. Phân loại sự kiện pháp lí
Có nhiều cách phân chia sự kiện pháp lí, dựa vào hậu quả pháp lí và các giai đoạn
biến động của quan hệ pháp luật dân sự có thể phân chia sự kiện pháp lí thành các sự kiện
làm phát sinh, các sự kiện làm thay đổi, các sự kiện làm chấm dứt quan hệ pháp luật dân
sự. Nhưng thông thường các sự kiện pháp lí được phận loại theo nguồn gốc phát sinh.
a. Hành vi pháp lí
Là hành vi có mục đích của các chủ thể nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lí (phát
sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự). Hành vi pháp lí được coi là căn cứ
phổ biến nhất được luật dân sự quy định làm phát sinh hậu quả pháp lí. Đó là phương tiện
để thực hiện ý chí của các chủ thể tạo ra các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp
luật dân sự nói riêng. Các hành vi pháp lí được phân chia thành hành vi hợp pháp và hành
vi bất hợp pháp.
- Hành vi hợp pháp là những hành vi có chủ định của các chủ thể được tiến hành phù
hợp với các quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nhằm làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự (như sự giao kết hợp đồng mua bán tài sản
làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên mua bán).
- Hành vi bất hợp pháp là những hành vi được thực hiện trái với quy định của pháp luật,
các nguyên tắc chung của pháp luật và đạo đức xã hội. Khi có hành vi bất hợp pháp sẽ bị
áp dụng các chế tài của pháp luật làm phát sinh hậu quả pháp lí (không thực hiện hợp
đồng, gây thiệt hại cho người khác).
- Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm phát sinh hậu quả pháp lí cũng
có nghĩa vụ dân sự" (khoản 1 Điều 14 BLDS năm 2005). Năng lực pháp luật dân sự của
cá nhân là khả năng, là tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền, có nghĩa vụ; là
thành phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật
dân sự, là một mặt của năng lực chủ thể.
2. Đặc điểm của năng lực pháp luật của cá nhân
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được Nhà nước ghi nhận trong các văn bản
pháp luật mà nội dung của nó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội; vào
hình thái kinh tế - xã hội tại thời điểm lịch sử nhất định.
Mặc dù được ghi nhận như là một bộ phận không thể thiếu được của cá nhân, như là
một thực thể trong các quan hệ xã hội, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không phải
do tạo hóa ban cho như những nhà chính trị, triết học tư sản thường suy diễn và kết luận,
mà do nhà nước ghi nhận và quy định cho công dân của nhà nước đó. Bởi vậy, năng lực
pháp luật dân sự của công dân mang bản chất giai cấp. Đã có thời kì một nhóm người
sinh ra không phải là chủ thể của các quan hệ xã hội mà là khách thể của các quan hệ đó,
là công cụ biết nói (một bộ phận trong xã hội chiếm hữu nô lệ - nô lệ). Vì vậy, ở những
hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, năng lực pháp luật dân sự cũng được quy định khác
nhau.
Trong cùng một hình thái kinh tế - xã hội nhưng ở những nước khác nhau thì năng lực
pháp luật dân sự của công dân cũng khác nhau, thậm chí khái niệm về quyền dân sự cũng
khác nhau (năng lực pháp luật dân sự của công dân Cộng hòa Pháp khác với năng lực
pháp luật dân sự của công dân vương quốc Anh ).
Trong cùng một nước, cùng một hình thái kinh tế - xã hội, vào những thời điểm lịch
sử khác nhau thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân cũng được quy định khác nhau.
Điều này phụ thuộc vào đường lối, chính sách của giai cấp thống trị trong xã hội đó mà
nội dung phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị tồn tại trong xã hội vào thời điểm lịch
9
sử đó. Ví dụ: Trước năm 1980, cá nhân có quyền sở hữu đất đai; từ năm 1980 đến 1992,
cá nhân không có quyền sở hữu đối với đất đai; từ năm 1992, cá nhân có quyền chuyển
dịch quyền sử dụng đất và các quyền năng đó được mở rộng sau khi có Luật đất đai năm
125 Luật nhà ở.
+ Quyết định đơn hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ: Toà án ra quyết
định cấm cư trú đối với một người nào đó đã hạn chế năng lực pháp luật cụ thể của người
đó trong khoảng thời gian xác định.
Tuy vậy, về bản chất, đây không phải là tước bỏ năng lực pháp luật dân sự mà chỉ là
tạm đình chỉ khả năng này - khả năng biến quyền khách quan thành quyền chủ quan của
chủ thể riêng biệt. Việc hạn chế này chỉ đối với một số quyền cụ thể mà không phải là
năng lực pháp luật dân sự nói chung. Việc hạn chế năng lực pháp luật dân sự không đồng
nghĩa với việc tước bỏ một quyền dân sự cụ thể (kê biên tài sản, tịch thu tài sản ).
10
- Tính bảo đảm của năng lực pháp luật dân sự
Khả năng có quyền và nghĩa vụ vẫn chỉ tồn tại là những quyền khách quan mà pháp
luật quy định cho các chủ thể. Để biến những "khả năng" này thành các quyền dân sự cụ
thể cần phải có những điều kiện khách quan cũng như chủ quan. Những điều kiện khách
quan là những điều kiện kinh tế, xã hội, những chính sách của Đảng và Nhà nước thực
hiện trong từng giai đoạn cụ thể. Thiếu những điều kiện kinh tế, pháp lí này, các quyền
đó vẫn chỉ tồn tại dưới dạng "khả năng" mà không thể thành những quyền dân sự cụ thể
được. Nhà nước ta đang thực hiện đường lối xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, định hướng xã hội chủ nghĩa tạo những điều kiện thuận lợi để phát huy mọi tiềm
năng của các thành phần kinh tế nhằm đáp ứng ngày càng cao những nhu cầu của nhân
dân. Đây là những cơ sở chính trị, kinh tế, pháp lí quan trọng nhằm phát huy hiệu quả của
nền kinh tế thị trường đồng thời hạn chế những mặt trái của nó. Nhà nước tạo mọi điều
kiện để bảo đảm năng lực pháp luật dân sự của công dân được thực hiện, biến những "khả
năng" đó trở thành thực tế. Tạo ra hành lang pháp lí thông thoáng, mềm dẻo là tạo điều
kiện cho khả năng biến năng lực pháp luật của cá nhân thành các quyền năng dân sự cụ
thể.
3. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Pháp luật ghi nhận khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự. Tổng hợp các
quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho cá nhân gọi là nội dung năng lực pháp luật
- Quyền tham gia vào quan hệ dân sự và có các quyền nghĩa vụ phát sinh từ các quan
hệ đó.
Tham gia vào các quan hệ dân sự thông qua các giao dịch dân sự (hành vi pháp lí đơn
phương hoặc hợp đồng) là biện pháp quan trọng và thông dụng nhất làm phát sinh các
quyền và nghĩa vụ dân sự. Các quyền này được thể hiện trong các nguyên tắc của luật dân
sự "tự do, tự nguyện cam kết" (Điều 4 BLDS) và được thể hiện cụ thể, chi tiết trong Phần
thứ ba của BLDS. Ngoài ra, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể còn phát sinh từ các căn cứ
khác (bồi thường thiệt hại, thực hiện công việc không có ủy quyền ).
4. Bắt đầu và chấm dứt năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
"Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi
người đó chết" (khoản 3 - Điều 14 BLDS). Với quy định này, pháp luật thừa nhận năng
lực pháp luật dân sự của cá nhân là thuộc tính gắn liền với cá nhân suốt đời và không bị
ảnh hưởng bởi trạng thái tinh thần, tuổi tác, hoàn cảnh, tài sản
Một trường hợp ngoại lệ được pháp luật quy định là: "Người sinh ra và còn sống sau thời
điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản thừa kế chết" vẫn được
hưởng di sản thừa kế của người chết để lại. Như vậy, thai nhi đã được bảo lưu quyền thừa
kế nếu còn sống sau khi sinh ra.
5. Tuyên bố mất tích, tuyên bố là đã chết
Đây là một chế định đặc biệt của luật dân sự nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân cũng
như những chủ thể có liên quan khác. "Năng lực pháp luật dân sự của công dân chấm
dứt khi người đó chết", cái chết của cá nhân là sự kiện pháp lí làm chấm dứt tư cách chủ
thể của cá nhân nhưng cái chết đó phải được xác định một cách đích xác và theo quy định
của pháp luật thì phải "khai tử" (Điều 30 BLDS).
Trong thực tế có những trường hợp, vì các lí do khác nhau (những rủi ro, chiến tranh,
tai nạn và kể cả nguyên nhân do chính cá nhân đó tạo ra) đã không thể xác định được cá
nhân đó còn sống hay đã chết. Trong những trường hợp như vậy, để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của họ, của những người có quyền, lợi ích liên quan, pháp luật quy định
những điều kiện, trình tự để tạm dừng hoặc chấm dứt tư cách chủ thể của cá nhân dưới
hai hình thức: Tuyên bố mất tích, tuyên bố là đã chết.
a. Tuyên bố mất tích
luật tố tụng dân sự, toà án chỉ xem xét và giải quyết khi đương sự có yêu cầu và trong
phạm vi yêu cầu đó. Bởi vậy, khi xem xét yêu cầu của đương sự, toà án phải kiểm tra các
điều kiện cần thiết và nếu thấy đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quy định, toà án
ra quyết định tuyên bố người biệt tích đó là mất tích.
*
Hậu quả của việc tuyên bố mất tích: Việc tuyên bố một người mất tích kéo theo
những hậu quả pháp lí nhất định: Tạm thời đình chỉ tư cách chủ thể của người bị tuyến bố
là mất tích, tuy nhiên quyết định này không làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ. Tài sản
của người bị tuyên bố mất tích được quản lí theo quyết định của toà án được quy định tại
các điều 75, 76, 77, 79 BLDS về quản lí tài sản của người vắng mặt, của người bị tuyên
bố là mất tích; quyền và nghĩa vụ của người quản lí tài sản của người vắng mặt, người bị
tuyên bố là mất tích.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là mất tích xin li hôn thì toà
án giải quyết cho li hôn.
* Hủy bỏ việc quyết định tuyên bố mất tích: Việc tuyên bố một người là mất tích chỉ
tạm dừng năng lực chủ thể của người đó. Việc tạm dừng này có thể thay đổi theo một
trong hai hướng: Phục hồi năng lực chủ thể hoặc chấm dứt tư cách chủ thể. Việc chấm
dứt tư cách chủ thể được diễn ra khi có tin tức rằng họ đã chết hoặc bị tuyên bố là đã
chết. Phục hồi tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là mất tích xảy ra trong hai trường
hợp: Người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức chứng tỏ người đó còn sống. Khi có
một trong hai trường hợp đó thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi
ích liên quan, toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó mất tích. Người bị
tuyên bố mất tích trở về có quyền yêu cầu người quản lí tài sản trả lại tài sản cho mình. Tuy
nhiên, quyết định li hôn của vợ hoặc chồng người bị tuyên bố là mất tích vẫn có hiệu lực
13
pháp luật.
b. Tuyên bố là đã chết
* Theo quy định tại Điều 81 BLDS, trong bốn trường hợp sau, toà án có thể tuyên bố
Thông thường, đối với người biệt tích trong các tai nạn, thảm họa, thiên tai thì ngày chết
là ngày xảy ra thảm họa, thiên tai đó.
II. NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN
1. Khái niệm năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Tư cách chủ thể của cá nhân chỉ đầy đủ, hoàn thiện, độc lập khi họ có đầy đủ năng lực
hành vi dân sự, ngoài năng lực pháp luật dân sự vốn là thuộc tính được pháp luật ghi nhận
cho mọi cá nhân.
"Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của
14
mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự" - Điều 17 BLDS. Nếu năng lực pháp luật
dân sự là tiền đề, là quyền dân sự khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả
năng hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của
họ. Ngoài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực tự chịu trách nhiệm dân
sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự.
Cùng với năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự là thuộc tính của cá nhân, tạo
thành tư cách chủ thể độc lập của cá nhân trong các quan hệ dân sự.
2. Mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Nếu pháp luật quy định năng lực pháp luật của mọi cá nhân là như nhau thì lại xác định
năng lực hành vi của cá nhân không giống nhau. Những cá nhân khác nhau có nhận thức
khác nhau về hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện. Việc nhận thức và làm chủ
hành vi của cá nhân phụ thuộc vào ý chí và lí trí của cá nhân đó, phụ thuộc vào khả năng
nhận thức và điều khiển được hành vi của chính họ. Căn cứ vào khả năng của cá nhân về
nhận thức và điều khiển được hành vi và hậu quả của hành vi, pháp luật phân biệt mức độ
năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Tuy nhiên khó có tiêu chí để xác định khả năng
nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân, do đó độ tuổi của cá nhân được xem là tiêu
chí chung nhất để phân biệt mức độ năng lực hành vi của cá nhân.
a. Năng lực hành vi đầy đủ
Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ
trường hợp bị tuyên bố mất năng lực hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Pháp
hiện mà không có sự đồng ý của họ là vô hiệu và toà án xem xét trong những trường hợp
cụ thể để chấp nhận yêu cầu đó theo quy định tại Điều 130 BLDS. Nếu những người đại
diện không yêu cầu toà án xem xét tính hiệu lực của những giao dịch này thì những giao
dịch đó mặc nhiên được coi là có hiệu lực.
Những người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao
dịch trong phạm vi tài sản riêng mà họ có và không cần sự đồng ý của người đại diện.
Trong trường hợp pháp luật có quy định về sự đồng ý của người đại diện thì áp dụng
tương tự như trường hợp vị thành niên nói chung (như di chúc của người từ đủ 15 tuổi
đến dưới 18 tuổi, việc định đoạt tài sản là nhà ở và đất đai ).
c. Không có năng lực hành vi
Người chưa đủ 6 tuổi không có năng lực hành vi dân sự. Mọi giao dịch của những
người này đều do người đại diện xác lập và thực hiện. Họ chưa bao giờ có năng lực hành
vi bởi chưa đủ ý chí cũng như lí trí để hiểu được hành vi và hậu quả của những hành vi
đó.
d. Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự
Khái niệm "mất" thông thường được hiểu là đang tồn tại, đang có một hiện tượng,
một sự vật nhưng sau đó không còn hiện tượng, sự vật đó nữa. Năng lực hành vi dân sự
của cá nhân cũng là thuộc tính nhân thân của cá nhân và đầy đủ khi cá nhân đến tuổi
thành niên. Thông thường, năng lực hành vi của cá nhân chấm dứt cùng với sự chấm dứt
của năng lực pháp luật của cá nhân đó (chết hoặc toà án tuyên bố là đã chết). Tuy nhiên,
người thành niên có thể bị tuyên bố mất năng lực hành vi khi có những điều kiện, với
những trình tự, thủ tục nhất định. Nếu cá nhân bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà
không thể nhận thức và làm chủ được các hành vi của mình thì bị coi là mất năng lực
hành vi dân sự (Điều 22 BLDS). Trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm
quyền, toà án có thể tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi theo yêu cầu của người
có quyền, lợi ích liên quan. Mọi giao dịch dân sự của những người này do người đại diện
của họ xác lập, thực hiện. Trong trường hợp vì những nguyên nhân mà do đó, họ bị tuyên
bố là mất năng lực hành vi nhưng nay không còn tồn tại nữa thì họ hoặc những người có
quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu toà án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực
hành vi. Tuy nhiên, giải quyết việc này theo chính yêu cầu của người đó sẽ bị vướng mắc
sự dẫn đến những hậu quả pháp lí nhất định, tư cách chủ thể của những người này như
những người có năng lực hành vi dân sự một phần.
III. GIÁM HỘ
1. Khái niệm
Giám hộ là chế định mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật. Các quy định của giám
hộ trước tiên được quy định như là một chế định của Luật hôn nhân và gia đình (Giám hộ
giữa các thành viên trong gia đình - Chương IX Luật hôn nhân và gia đình 2000) liên
quan đến việc "chăm sóc, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên" (Điều
47 Luật hôn nhân và gia đình) mà vì nhiều nguyên nhân khách quan không có sự chăm
sóc của cha, mẹ. Điều này được xác định lại ở điểm a khoản 2 Điều 59 BLDS. Người
chưa thành niên không còn cha, mẹ; cha, mẹ mất năng lực hành vi hay bị hạn chế năng
lực hành vi, bị hạn chế quyền của cha, mẹ; cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc. Ngoài
ra, chế định giám hộ điều chỉnh các quan hệ với mục đích nhằm khắc phục tình trạng
không tương đồng giữa sự bình đẳng về năng lực pháp luật với không bình đẳng về năng
lực hành vi dân sự của những người có năng lực hành vi một phần, những người không
có năng lực hành vi, bị mất năng lực hành vi. Những quy định của chế định này xác định
việc quản lí tài sản, thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của người được giám hộ.
Ngoài ra, chế định giám hộ còn có những quy định mang tính hành chính như các quan
hệ về cử người giám hộ, giám sát việc giám hộ
Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước được pháp luật quy định hoặc
được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được
giám hộ (Điều 59 BLDS). Như vậy, giám hộ là chế định nhằm khắc phục tình trạng của
17
người có năng lực pháp luật dân sự nhưng không thể bằng hành vi của mình xác lập, thực
hiện được quyền, nghĩa vụ của họ vì họ là những người không có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ hoặc bị hạn chế năng lực hành vi.
2. Người được giám hộ
Theo quy định tại Điều 59 BLDS năm 2005 thì người được giám hộ bao gồm:
- Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ
người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp người giám hộ là cha, mẹ hoặc
ông, bà theo quy định tại khoản 2 Điều 62 hoặc khoản 3 Điều 63 BLDS.
Người giám hộ có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật quy định hoặc được
cử làm người giám hộ. Pháp luật không quy định điều kiện của cơ quan, tổ chức khi làm
giám hộ phải là cơ quan tổ chức nào nhưng có thể suy đoán bất cứ cơ quan, tổ chức hợp
pháp nào cũng đều có thể là người giám hộ.
18
Cá nhân là người giám hộ phải có các điều kiện được quy định ở Điều 61 BLDS. Các
điều kiện đó là: người có năng lực hành vi đầy đủ; có tư cách đạo đức tốt; không phải là
người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án
tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài
sản của người khác; có điều kiện cần thiết bảo đảm việc giám hộ.
Tuy điều luật này không quy định rõ điều kiện cần thiết này là gì nhưng có thể hiểu
đó là điều kiện kinh tế và điều kiện thực tế khác (sinh sống cùng nơi cư trú hoặc cho
người được giám hộ cùng cư trú, sinh sống với mình hoặc có thể thường xuyên giám sát,
quản lí được người được giám hộ).
4. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ
Giám hộ là chế định nhằm bảo vệ quyền lợi của người không có năng lực hành vi,
chưa đầy đủ năng lực hành vi. Bởi vậy, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được quy
định cũng nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của họ. Nghĩa vụ của người giám hộ được quy
định tại các Điều 65, 66, 67 BLDS, theo quy định tại những điều luật này, người giám hộ
có các quyền và nghĩa vụ sau:
* Nghĩa vụ của người giám hộ:
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được
giám hộ. Việc bảo vệ này được tiến hành thay cho người được giám hộ trong việc quản lí
tài sản, tự mình hoặc giám sát người được giám hộ trong việc sử dụng và định đoạt tài
sản vì lợi ích người được giám hộ sao cho hiệu quả nhất. Thực hiện các hành vi trên thực
tế cũng như pháp lí nhằm bảo vệ các quyền nhân thân, quyền tài sản của người được
theo quy định tại Điều 130, 133 BLDS. Người giám hộ không được đem tài sản của
người được giám hộ tặng cho người khác.
- Đối với người chưa có năng lực hành vi, mất năng lực hành vi thì với tư cách là người
đại diện, người giám hộ tự mình thực hiện các giao dịch vì lợi ích của người được giám
hộ.
Người giám hộ cho người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi có nghĩa vụ chăm
sóc, giáo dục; bảo đảm điều trị, chữa bệnh cho người được giám hộ. Việc chăm sóc, giáo
dục, chữa bệnh cho người được giám hộ được thực hiện theo khả năng, phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh của người giám hộ.
* Quyền của người giám hộ: Người giám hộ có các quyền được quy định tại Điều 67
BLDS, ngoài ra, có thể có các quyền khác được quy định trong văn bản cử giám hộ (Điều
64 BLDS). Các quyền của người giám hộ được quy định nhằm thực hiện các mục đích
của việc giám hộ là chăm sóc, chữa bệnh và bảo vệ quyền lợi của người được giám hộ.
Vì vậy, người giám hộ có quyền sử dụng tài sản, định đoạt tài sản của người được giám
hộ cho những hoạt động cần thiết thường ngày của người được giám hộ; được thanh
toán các chi phí cần thiết cho việc quản lí tài sản; dùng tài sản của người được giám hộ
để bồi thường thiệt hại do các hành vi của người được giám hộ gây ra. Ngoài ra, họ còn
thực hiện các hành vi pháp lí thay mặt người được giám hộ trong việc tạo lập, thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của người được giám hộ.
* Người giám hộ có thể bị thay đổi nếu người giám hộ không còn đủ các điều kiện để
làm người giám hộ; người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị toà án tuyên bố mất tích, tổ
chức làm giám hộ chấm dứt hoạt động; người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ
giám hộ; người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.
Trong trường hợp thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người được pháp luật
quy định là người giám hộ đương nhiên khác tuần tự thay thế; nếu không có người giám
hộ đương nhiên thì việc cử người giám hộ được thực hiện theo quy định như giám hộ
được cử.
IV. NƠI CƯ TRÚ CỦA CÁ NHÂN
Quyền tự do đi lại và lựa chọn nơi cư trú trên lãnh thổ Việt Nam là một quyền quan
trọng của cá nhân được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận.
C. PHÁP NHÂN - CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
I. KHÁI NIỆM PHÁP NHÂN
1. Khái niệm
Ngoài cá nhân tham gia vào các quan hệ dân sự còn có các cơ quan, tổ chức và các
chủ thể khác. Để các tổ chức tham gia vào các quan hệ dân sự với tư cách là một chủ thể
riêng biệt trong các quan hệ xã hội nói chung, các quan hệ pháp luật nói riêng các tổ chức
này phải có các điều kiện do pháp luật quy định. Pháp luật dân sự đưa ra khái niệm pháp
nhân nhằm phân biệt với thể nhân (tự nhiên nhân) là những cá nhân tham gia vào quan hệ
pháp luật.
Từ thời La Mã cổ đại những phường hội, nhà thờ, xưởng thủ công đã hình thành và
ngày càng mở rộng. Ban đầu, những "tổ chức" này không có tài sản riêng của mình mà tài
sản do các thành viên góp lại như một hình thức sở hữu chung theo phần. Trong trường
hợp "tổ chức" bị tan rã (do nhiều nguyên nhân khác nhau) tài sản của tổ chức đó được
chia trả lại cho các thành viên theo phần mà họ đóng góp vào. Những tổ chức như vậy
không thể tham gia như một chủ thể độc lập trong các quan hệ pháp luật. Trong khi đó,
người ta nhận thấy có những trường hợp tài sản của tổ chức không của riêng ai như: Nhà
hát, nhà thờ, một con tàu mà của tổ chức đó nói chung. Những tài sản này không của
riêng từng người, từng nhóm người mà là của một tổ chức tồn tại độc lập, không phụ
thuộc vào sự thay đổi các thành viên trong các tổ chức đó. Những giao dịch của tổ chức
21
thông qua người đại diện nhưng dưới danh nghĩa của tổ chức chứ không phải của cá
nhân. Tuy nhiên, khái niệm pháp nhân trong thời cổ đại chưa hình thành.
Trong chế độ phong kiến việc phân chia lao động tiếp tục phát triển và hình thành
ngày càng nhiều những tổ chức như vậy. Đã bắt đầu xuất hiện những công ti khai thác
thuộc địa trên lãnh thổ của các nước thuộc châu Á, Phi, Mĩ - La tinh.
Sản xuất hàng hóa chế ngự trong thời kì tư bản chủ nghĩa. Trong điều kiện của chủ
nghĩa tư bản, vấn đề củng cố địa vị các tổ chức kinh tế bằng phương tiện pháp lí để các tổ
chức này tham gia vào các quan hệ dân sự và thương mại là nhu cầu cấp thiết với các loại
hình tổ chức khác nhau và cũng là phương tiện cạnh tranh giữa các nhà tư bản với nhau
các dấu hiệu của pháp nhân có tính chất chung và bao quát các pháp nhân ở mọi dạng, thể
loại. Điều 84 BLDS mô tả các dấu hiệu (điều kiện) của một tổ chức có tư cách pháp nhân
là:
22
- Được thành lập một cách hợp pháp;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
- Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Qua các văn bản pháp luật đã ban hành và tính chất chủ thể trong các quan hệ dân sự,
kinh tế có thể đưa ra khái niệm pháp nhân như sau:
Pháp nhân là một tổ chức thống nhất, độc lập, hợp pháp có tài sản riêng và chịu
trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật
một cách độc lập.
2. Các điều kiện của pháp nhân
Các điều kiện của pháp nhân là các dấu hiệu để công nhận một tổ chức có tư cách là
chủ thể của quan hệ dân sự. Các điều kiện của pháp nhân được xác định tại Điều 84 BLDS.
a. Được thành lập một cách hợp pháp
Một tổ chức được coi là hợp pháp nếu có mục đích, nhiệm vụ hợp pháp và được thành
lập hợp pháp theo trình tự và thủ tục do luật định. Tổ chức hợp pháp được Nhà nước công
nhận dưới các dạng: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập,
đăng kí hoặc công nhận. Nhà nước bằng các quy định về thẩm quyền ra quyết định thành
lập, trình tự, thủ tục thành lập, điều kiện thành lập các tổ chức chi phối đến các tổ chức
tồn tại trong xã hội. Việc công nhận sự tồn tại một tổ chức phụ thuộc vào hoạt động của
tổ chức đó có phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị hay không. Một khi sự tồn tại của
một tổ chức (không chỉ là tổ chức chính trị) có nguy cơ đến tồn tại của nền tảng xã hội,
ảnh hưởng đến lợi ích của giai cấp thống trị thì Nhà nước không cho phép nó tồn tại. Bởi
vậy, chỉ những tổ chức hợp pháp được Nhà nước công nhận sự tồn tại mới có thể trở
thành chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật. Trong thực tiễn mỗi pháp nhân được
thành lập theo một trình tự riêng phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của pháp nhân
không chỉ là tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân (như đối với các công ti, các hợp tác xã
dù nguồn vốn hình thành có thể khác nhau ) mà có thể được Nhà nước giao cho tổ chức
được quyền quản lí của pháp nhân đó. Tài sản của pháp nhân độc lập với tài sản của cá
nhân - thành viên của pháp nhân, độc lập với cơ quan cấp trên của pháp nhân và các tổ
chức khác. Tài sản độc lập của pháp nhân là tài sản thuộc quyền của pháp nhân đó, do
pháp nhân chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong phạm vi nhiệm vụ và phù hợp với mục
đích của pháp nhân. Tài sản của pháp nhân thể hiện dưới dạng vốn, các tư liệu sản xuất
và các loại tài sản khác phù hợp với từng loại pháp nhân. Tài sản của pháp nhân được
hình thành trên những cơ sở khác nhau dưới dạng được Nhà nước giao để thực hiện chức
năng (các pháp nhân là lực lượng vũ trang) được giao theo pháp luật về doanh nghiệp nhà
nước; được chuyển giao quyền sở hữu cho các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội; từ
nguồn vốn đóng góp của các thành viên; từ hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp
Tài sản của pháp nhân có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc thuộc hình thức sở hữu hỗn
hợp hoặc các hình thức sở hữu khác nhưng các pháp nhân thực hiện các quyền chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt như một chủ sở hữu trong khuôn khổ điều lệ hoặc quyết định
thành lập pháp nhân ghi nhận.
Trên cơ sở có tài sản riêng, pháp nhân phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của
mình. Pháp nhân tham gia vào các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân như một chủ
thể độc lập, và phải chịu trách nhiệm về những hành vi được coi là "hành vi của pháp
nhân". Cơ quan cấp trên không chịu trách nhiệm thay hoặc trách nhiệm bổ sung cho pháp
nhân. Pháp nhân không chịu trách nhiệm thay cho cơ quan quản lí cấp trên của pháp nhân
hoặc cho thành viên của pháp nhân. Các thành viên của pháp nhân không phải dùng tài
sản riêng của mình để thực hiện các nghĩa vụ của pháp nhân.
Trách nhiệm của pháp nhân thuộc dạng trách nhiệm "hữu hạn" trong phạm vi tài sản
riêng của pháp nhân. Độc lập về tài sản và chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của pháp
nhân là tiền đề vật chất để một tổ chức tham gia vào quan hệ dân sự như là một chủ thể
độc lập.
d. Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập, có thể là
nguyên đơn, bị đơn trước toà án
Với tư cách là một chủ thể độc lập, pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật với
nhà nước, các hoạt động khác trong lĩnh vực quản lí điều hành xã hội vì lợi ích công cộng
không nhằm mục đích kinh doanh (cơ quan hành chính các cấp; trường học, bệnh viện,
các cơ quan an ninh, quốc phòng ). Các pháp nhân này hoạt động bằng nguồn kinh phí
của Nhà nước cấp và tự chịu trách nhiệm trong phạm vi kinh phí đó. Trong trường hợp cơ
quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân thực hiện các hoạt động có thu theo quy định
của pháp luật thì phải chịu trách nhiệm dân sự liên quan đến hoạt động có thu bằng tài
sản có được từ hoạt động này
b. Các pháp nhân là các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-
xã hội-nghề nghiệp
Các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội, chính trị-xã hội- nghề nghiệp được thành lập để
hoạt động phục vụ lợi ích chung của xã hội, được quy định bởi điều lệ của các tổ chức
này. Khi tham gia vào các quan hệ dân sự, các tổ chức này tự chịu trách nhiệm bằng tài
sản của mình, trừ trường hợp pháp luật quy định các tài sản không được sử dụng để chịu
25