điểm khảo sát là Vườn quốc gia Tràm Chim để để tìm hiểu sâu hơn về đa dạng sinh học - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km
2
, Việt Nam là
một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, 2002- Chiến lược quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của
Việt Nam 2002-2010). Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu của Việt Nam đã góp
phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa sinh học,
Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện,
Nam Trung Quốc và Inđo-Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở
thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới,
với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế
giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002-Báo cáo quốc gia về các khu
bảo tồn và Phát triển kinh tế).
Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự
nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài
người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Theo ước tính giá trị của tài
nguyên đa dạng sinh học toàn cầu cung cấp cho con người là 33.000 tỷ đô la mỗi
năm (Constan Za et al-1997). Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên đa dạng sinh
học trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho
đất nước khoảng 2 tỷ đô la (Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam-
1995).
Vì thế để tìm hiểu sâu hơn về đa dạng sinh học thì lớp ĐHKHMT11 chúng tôi
chọn địa điểm khảo sát là Vườn quốc gia Tràm Chim.
PHẦN I:TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM
I. Giới thiệu chung
Vị trí: miền Nam Việt Nam
Tọa độ: 10°40′ – 10°47′ vĩ bắc, 105°26′ - 105°36′ Đông
Diện tích: 7.313 ha
Thành lập 1985
1. Vị trí địa lý

lý hệ sinh thái của vùng vì lợi ích quốc gia và đóng góp vào việc bảo vệ môi
trường sinh thái chung của vùng Đông Nam Á.
- Ngày 2/2/2012 Tràm Chim được công nhận thành khu Ramsar thứ 4 của Việt
Nam là khu 2000 trên thế giới
3. Điều kiện tự nhiên
3.1Địa hình
Nhìn chung là thấp trũng, nơi cao nhất là 2,3 m, nơi thấp nhất là 0,4 m (so với mực
nước biển Tây Nam Bộ).
- Những vùng đất trũng chiếm 152 ha
- Những vùng gò cao chiếm 194 ha
- Vùng phẳng chiếm 5858 ha
3.2Khí hậu thủy văn
- Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27
o
C, nhiệt độ thấp hơn khoảng
1-2
o
C vào cuối mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 2) và tăng lên khoảng 1- 2
o
C vào
các tháng cuối mùa khô, đầu mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 6). Nhiệt độ cao nhất
là 37
o
C vào tháng 4 và thấp nhất là khoảng 16
o
C.
- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình hàng năm duy trì trong khoảng 82-83%. Độ ẩm cao
nhất có thể lên đến 100% và thấp nhất là 35-40%.
- Chế độ gió: Từ tháng 5 đến tháng 11, hướng gió thịnh hành ở vùng này là
hướng Tây- Nam, tốc độ gió trung bình là 3m/s mang theo nhiều hơi nước và gây

2-3
) hình thành những vạt đất phù sa có tầng
sinh phèn (sulfidic) (sulfic Tropaquents, sufnic Tropaquepts, sunfic Hydraquents)
và đất phù sa có tầng phèn (sulfuric) chứa các khoáng jarosite.
- Đất phèn hoạt động (Sulfaquepts), hình thành từ nền trầm tích đầm lầy biển
(bmQiv
2-3
) với diện tích khoảng 355 ha, phân bố nhiều nhất tại khu A5. Độ chua
của đất: pH chỉ khoảng từ 2,0 – 3,2.
II. Đa dạng sinh học
1. Đa dạng hệ sinh thái thực vật ở vườn quốc gia Tràm Chim
Với các yếu tố tự nhiên: trầm tích, địa mạo, và đặc tính đất khá đa dạng, từ đất
xám, phát triển trên nền trầm tích cổ Pleistocen, đến những nhóm đất phù sa mới
và đất phèn phát triển trên trầm tích trẻ Holocen đã góp phần làm đa dạng các
quần xã thực vật tự nhiên. Kết quả khảo sát từ 2005–2006 ghi nhận được ở Vườn
Quốc gia Tràm Chim - huyện Tam Nông - tỉnh Đồng Tháp có 130 loài thực vật,
phân bố đơn thuần cũng như xen kẻ với nhau tạo thành 6 quần xã thực vật đặc
trưng: Sen-súng, lúa ma, mồm mốc, cỏ ống, năng, tràm.
1.1Quần xã sen – súng:
Hội đoàn sen – súng (Nelumbium nelumbo – Nymphaea spp.) chủ yếu trên các
vùng đầm lầy ngập nước quanh năm, dọc theo khu trũng thấp của dòng sông cổ,
chiếm diện tích khoảng 158 ha.
Những loài chim thường gặp: le hôi (Tachybaptus raficollis), le khoang cổ
(Nettapus coromandelianus), vịt trời (Anas poecilorhyncha), trích cổ, trích ré, gà
lôi nước (Hydrophasianus chirurgus), gà nước vằn (Rallus striatus), cuốc ngực
nâu (Porzana fusca), mòng két (Anas crecca), bói cá (Ceryle rudis)
 Sen:
Đặc điểm:
Họ Sen (Nelumbonaceae) là một họ thực vật có hoa chỉ có một chi duy nhất là
Nelumbo và có hai loài là sen hồng (Nelumbo nucifera) và sen trắng (Nelumbo

trắng (Nymphaea lotus = Nymphaea pubescens)
1.2 Quần xã Tràm
Rừng tràm (Melaleuca leucadendra L.) là thảm thực vật thân gỗ có diện tích
lớn nhất, diện tích khoảng 1.826 ha. Do tác động con người, hầu hết những cánh
rừng tràm nguyên sinh đã biến mất và hiện nay chỉ còn lại là những cánh rừng
tràm trồng, thuộc loài Melaleuca cajuputi (họ Myrtaceae), nhưng do được bảo tồn
nhiều năm nên có những cụm tràm phân bố theo kiểu tự nhiên. Hai kiểu phân bố
được ghi nhận: tập trung (khoảng 1.826 ha) và tràm phân tán.
Tràm phân tán có sự hiện diện thảm cỏ xen kẽ gồm các loài Năng ống (Eleocharis
dulcis), Cỏ Mồm (Ischaemum rugosum và I. indicum), hoàng đầu Ấn (Xyris
indica), Nhĩ Cán Vàng (Utricularia aurea), Cỏ Ống (Panicum repens), Súng
(Nymphaea lotus), Cú Muỗi (Caprimulgusmaeruru), chèo Bẻo (Dicrurus
macrocercus), Hút Mật (Aethopiga siparaja), Vành Khuyên (Zosterops
palpebrosa), Chim Sẻ (Carpodacus erythrinus), Én (Apus affinis), Rẻ Quạt
(Rhipidura albicollis), Chích Chòe (Lucustella lanceolata)
Những loài chim thường gặp: Cò Trắng (Egretta garzetta), Cò Bợ (Ardeola
bacclus), Cò Lửa (Ixobrychus sinensis), Cò Lép, Vạc (Nycticorax nycticorax),
Diệc Lửa (Ardea purpurea), Diệc Xám (Ardea cinerea), Điêng Điểng (Anhinga
ảnh chụp tại
đài quan sát
melanogaster), cồng cộc (Pharacrocoraxniger), Tu Hú, Cú Ngói (Streptopelia
Tranquebarica), Cú Cườm (Caprimulgusmaerurus), Cú (Tyto Capensis).
Đặc điểm:
- Tràm (Melaleuca leucadendra L.) là cây gỗ lâu năm, cao tới 2–30 m, lớp vỏ cây
dễ tróc
- Lá của chúng là thường xanh, mọc so le, hình trứng hay mũi mác, dài 1-25 cm
và rộng 0,5-7 cm, mép lá nhẵn, màu xanh lục sẫm hay xanh xám.
- Cây ra hoa hàng năm từ tháng 1 đến tháng 5, nở rộ từ tháng 3 đến tháng 4, hoa
mọc thành cụm dày dặc dọc theo thân, mỗi hoa với các cánh hoa nhỏ và một chùm
nhị mọc dày dặc; màu hoa từ trắng tới hồng, đỏ, vàng nhạt hay ánh lục. Hoa tràm

kỳ ngập nước ngọt không dài, mức độ ngập ít nhưng đất ẩm gần như quanh năm,
phát triển tốt trên loại đất khá mầu mỡ và sâu như các bãi phù sa bồi ven sông, loài
cỏ này có khả năng chịu mặn nên cũng thường tạo nên các đám cỏ rộng ở các bãi
đất cát ẩm ven biển hay phía sau các vùng rừng sát nam Việt Nam, trổ hoa vào
tháng 12 - 2 dương lịch.
1.4 Quần xã năng
Đồng cỏ Năng chiếm diện tích khoảng 2.968 ha, tạo thành một trong những
thảm cỏ rộng lớn; bao gồm đồng cỏ Năng kim (Eleocharis atropurpurea) - đây là
bãi ăn của loài chim Sếu- khoảng 235 ha, Năng ống (Eleocharis dulcis), 1.277 ha,
và hợp với các loài khác tạo thành các quần xã thực vật: Năng Kim – Năng ống,
vài nơi xuất hiện của hoàng đầu Ấn (Xyris indica); Năng Kim - Cỏ Ống (E.
atropurpurea – P. repens); Năng ống - Cỏ Ống (E. dulcis – P.repens), khoảng 937
ha; Năng ống - Cỏ Ống – Lúa Ma (E. dulcis - P. repens – O.rufipogon), 443 ha;
Năng ống - Cỏ Ống - Cỏ Chỉ (E. dulcis - P. repens–C.dactylon),khoảng72ha.
Những nơi có địa hình thấp và ngập nước quanh năm thì xen lẫn trong quần xã
Năng là những loài thực vật thủy sinh như Nhĩ Cán Vàng (Utricularia aurea),
Súng Ma (Nymphaea indicum), Rong Đuôi Chồn (Ceratophyllum demersum).
Những loài chim thường gặp: Sếu (Grus antigone), Cò Trắng (Egretta
garzetta), Cò Bợ (Ardeola bacclus), Trích Cồ, Trích Đất, Vịt Trời (Anas
poecilorhyncha), Le Khoang Cổ (Nettapus coromandelianus), Diệc Lửa (Ardea
purpurea), Diệc Xám (Ardea cinerea), Cò Lửa (Ixobrychus sinensis), Cò Lép.
Đặc điểm:
Chi Cỏ năng (danh pháp khoa học: Eleocharis) là một chi thực vật, bao gồm
khoảng 200-250 loài trong họ Cói (Cyperaceae). Chúng được gọi chung là (cỏ/củ)
năn(g).
Nói chung, cỏ năng là các loài cỏ dại có thân đặc, thường sống thủy sinh. Chúng có
các lá bị suy giảm xung quanh phần gốc của thân; những cái trông giống như lá trên thực
tế là thân nhưng chúng thực hiện phần lớn các chức năng quang hợp cho cây. Một số loài
có thân luôn luôn mọc ngầm dưới nước. Các loài này có xu hướng sử dụng cơ chế cố
định cacbon C3. Các hoa mọc thành các bông con tụ tập dày. Phần lớn các loài mọc lên

cây tàn lụi. Trong thời gian cây cho củ thì Sếu đầu đỏ bắt đầu về vì củ năng kim là
thức ăn chủ yếu của sếu.
- Khi cây tàn lụi thì sếu cũng rời khỏi nơi đây. Vì vậy muốn duy trì số lượng sếu về
VQG hàng năm thì cần có những biện pháp phát triển bền vững cây năng kim này.
1.5 Quần xã Cỏ Ống
Đồng Cỏ Ống (Panicum repens); Cỏ Ống phân bố trên một diện rộng, chiếm
diện tích khoảng 958,4 ha, ở dạng đơn thuần với mật độ lên đến 98% hoặc cùng
xuất hiện với các loài thực vật thân thảo khác: Cỏ Ống - Cỏ Xã (Panicum repens -
Cymbopogon citratus), khoảng 23 ha, chủ yếu trên đất giồng cổ; Cỏ Ống – Lúa
Ma (Panicum repens – Oryza rufipogon), khoảng 268 ha; Cỏ Ống - Cỏ Chỉ
(Panicum repens – Cynodon dactylon), khoảng 50 ha; Cỏ Ống – mai dương
(Panicum repens – Mimosa pigra), khoảng 86 ha, đây là khu quần xã Cỏ Ống bị
mai dương (Mimosa pigra) xâm hại.
Những loài chim thường gặp: Công Đất (Houbaropsis bengalensis), Chiền
Chiện (Prinia flaviventris), Sơn Ca (Alauda gulgula), Sẻ Bụi (Saxicola caprata),
Trảu Đầu Hung (Merops superciliosus), Cú (Tyto capensis), Trích, Cò (Ardeola
bacclus), Giang Sen (Mycteria leucocephala), Già Đãy (Leptoptilos dubius),
Chích Đầm Lầy (Locustella certhiola).
Đặc điểm:
- Hình dáng: Cỏ đa niên, căn hành, mọc bò giống củ gừng, vàng dợt, có vảy, đầu
nhọn như cựa gà lúc còn non, thân bọng, dài 1,2m, bò và mang rễ gốc, thẳng đứng
ở trên, tròn, khía rãnh mang các lông dài 5 - 7cm.
- Lá: Lá đơn mọc cách, hình mũi mác hẹp, đầu nhọn tròn hay hình kim ở đáy.
Cứng, thẳng không lông, trừ rìa lông ở bẹ và chân lá; màu xanh mốc ở mặt trên,
xanh đậm ở mặt dưới.
- Hoa: Hoa hợp thành chùm tụ tán thẳng đứng ở ngọn, hẹp, phân nhánh không
đều, cao 7 - 20cm, gié hoa xanh rồi trắng, cao 3mm.
- Nơi sống: Cỏ ống phân bố rộng rãi ở khắp các vùng nhiệt đới, là loại cây ưa cát
(Arenophile) và đầm lầy, thườøng gặp từ các vùng ven biển đến núi cao 1100%m,
đây là loại cây có khả năng chịu mặn giỏi, chịu được phèn và có khả năng chịu

lúc này lóng lúa lẹp kép, còn khi lũ nhỏ hay nước lên chậm lóng lúa ngắn và co lại
có hình tròn.
- Lúa ma không phải là cây được sử dụng trực tiếp bởi con người, nhưng nó là
thức ăn cho gia súc và các loài chim. Vì vậy, nên chăng chúng ta đốt để tránh hiện
tượng cháy hay nên khai thác sinh khối sinh học để tăng nguồn lợi về chăn nuôi và
sự đa dạng loài hoặc đốt thì đốt những bộ phận nào và vào thời điểm nào? Thân,
lá, hoa, quả hay chỉ những phần gốc để cải thiện bề mặt đất? Bởi vì hạt là thức ăn
của chim nếu không có hạt thì cũng sẽ không có chim hiện diện.
2. Đa dạng hệ sinh thái động vật ở vườn quốc gia Tràm Chim
Đây là nơi cư trú của trên 100 loài động vật có xương sống, 40 loài cá và 147 loài
chim nước. Trong đó, có 13 loài chim quý hiếm của thế giới. Đặc biệt là Sếu đầu
đỏ (Grus Antigone) hay Sếu cổ trụi được Hội Bảo Vệ Hạc Quốc Tế (ICF) cùng
nhiều tổ chức quốc tế khác bảo vệ.
Vườn Quốc Gia Tràm Chim còn có 16 loài chim quí hiếm sinh sống và được bảo
vệ như : Sếu đầu đỏ, Già đẫy lớn, Già đẫy Java,Cò quắm đầu đen, Cò Thìa, Đại
bàng đen, Te vàng, Choi Choi lưng đen, Ngang cánh trắng, Điêng Điểng, Cò
Trắng Trung Quốc, Diệc Sumatra, Bồ Nông Chân xám, Giang Sen, Nhạn ốc và
Công Đất. Trong số các loài chim quí hiếm có 42% loài sử dụng đầm lầy nước
ngọt, 10% sử dụng đồng cỏ, 48% còn lại sử dụng rừng ngập nước, các con kênh,
cây, bụi rậm và sử dụng tổng hợp.
Tại Vườn Quốc Gia Tràm Chim, quần thể chim nước phần lớn di cư, trú đông
trong suốt mùa đông. Đặc biệt là quần thể của loài Sếu cổ trụi thường xuyên di trú
đến kiếm ăn trong vườn vào mùa khô. Cuối tháng 4/2009 đã có trên 80 con về
Vườn Quốc Gia Tràm Chim,. Các loài chim đang thích nghi với sinh cảnh ở đây.
Hầu hết các loài chim đều thích nghi với sinh cảnh cây Lúa Ma (kể cả Sếu đầu
đỏ), do cây Lúa Ma đa dạng sinh học rất cao và rất nhạy cảm với các loài chim.
Mỗi loài chim quí đều có hàng trăm con, số lượng nhiều nhất vẫn là cò. Vườn
Quốc Gia Tràm Chim thường xuyên được bảo vệ nghiêm ngặt, gìn giữ các loài
chim quí này.
Hiện nay, có thêm 16 loài chim quí khác đang được bảo tồn. Ngoài Sếu đầu đỏ,

 Đốt cỏ chủ động vào mùa khô ( đốt bỏ từ 500 – 800 ha vào mùa khô
hằng năm )
 Xử phạt các hành vi vi phạm vào rừng.
 Trang bị dụng cụ máy móc, thiết bị chữa cháy.
IV. Những khó khăn và thách thức
Bên cạnh sự hấp dẫn độc đáo của VQG Tràm Chim về cảnh quan tự nhiên và
đa dạng sinh học thì hiện nay, Vườn quốc gia đang gặp phải những thách thức
lớn đến từ nhiều phía:
1. Ảnh hưởng do khai thác.
Đa số nguời dân sống xung quanh VQG Tràm Chim là những nông dân nghèo,
mưu sinh chủ yếu bằng việc khai thác nguồn lợi từ Vườn quốc gia. Chế độ bảo vệ
nghiêm ngặt trong nhiều năm qua đã dẫn tới xung đột gay gắt giữa Vườn quốc gia
và cộng đồng cư dân. Mặt dù hằng năm lãnh đạo của vườn đã xem xét và cho phép
một ít người dân được phép khai thác hợp lý ở vườn nhưng người dân vẫn thiếu ý
thức làm ảnh hưởng tới sự đa dạng sinh học ở vườn, Vườn quốc gia cũng đã
không tránh được sự khai thác qúa mức của con người, dẫn đến sự suy kiệt tài
nguyên như cá, củi, cỏ, Người dân "đột nhập" vào vuờn cũng thường xảy ra. Chỉ
cần đi thuyền vào hái hoa sen, ngó sen, và hoa súng. Họ còn dùng xung điện khai
thác thủy sản, sử dụng hóa chất để bẫy chuột, cua ốc
2. Ảnh hưởng của nguồn nước.
Do sự phát triển hệ thống kênh đào rộng khắp và những thay đổi của sông
Mêkông, dẫn đến chế độ thủy văn toàn vùng Đồng Tháp Mười đã thay đổi, làm
thu hẹp diện tích đồng cỏ năng, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của sếu đầu đỏ, dẫn
đến mật độ cá thể của loài chim này bị giảm hàng năm. Việc quản lý mực nước
trong vườn hiện nay rất khó khăn; bởi lẽ: nếu giữ mực nước thấp quá thì dễ dẫn
đến cháy rừng; còn nếu giữ mực nước cao liên tục, rừng tràm khó cháy nhưng cây
cỏ năng bị ngập nước sẽ không có củ để dẫn dụ đàn sếu.
Ngoài ra, việc đào ao nuôi tôm, cá và trồng lúa của nguời dân ở xung quanh
VQG cũng có thể ảnh huởng đến nguồn nuớc của vùng do nuớc rò rĩ từ bên ngòai
vào trong vườn, đồng thời cũng ảnh hưởng đến sinh hoạt của lòai chim nơi đây.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status