Du lịch sinh thái – lý luận & thực tiễn ở vườn quốc gia Tràm Chim - Pdf 16

A.PHẦN MỞ ĐẦU
Phát triển nhanh và bền vững làm cho “du lịch thật sự trở thành một ngành
kinh tế mũi nhọn” (trích văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX) là mục tiêu trong
chiến lược phát triển du lịch Việt Nam ta trong 10 năm tới . Để đạt được mục
tiêu đó , ta không thể không nhắc tới một loại hình du lịch hiện nay đã và đang
được chú trọng phát triển. Đó chính là du lịch sinh thái , một hiện tượng và một
xu thế phát triển đang ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người. Du
lịch sinh thái là loại hình du lịch thiên nhiên có trách nhiệm hỗ trợ cho các mục
tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hoá bản địa, phát triển cộng
đồng đồng thời đem lại những nguồn lợi kinh tế to lớn góp phần tích cực vào sự
phát triển du lịch cũng như sự phát triển của nền kinh tế -xã hội.
Với nguồn tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan phong phú cộng thêm nền văn
hoá đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc, Việt Nam ta có tiềm năng rất lớn về du lịch
nói chung và du lịch sinh thái nói riêng.Hiện nay,nhiều tài nguyên du lịch tự
nhiên như các bãi biển , các vườn quốc gia , các khu bảo tồn thiên nhiên,… đã
và đang được khai thác, sử dụng để phục vụ phát triển du lịch, trong đó có du
lịch sinh thái.Tuy nhiên, cũng giống như ở nhiều nước khác, du lịch sinh thái ở
Việt Nam vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ với nhiều vấn đề về lý luận và thực
tiễn đang trong giai đoạn phát triển nên nó vẫn còn là một khái niệm thường
chưa được hiểu và vận dụng một cách đúng đắn. Điều đó gây tác động tiêu cực
đến môi trường và người dân địa phương,làm thất vọng du khách.Chính vì tầm
quan trọng và sự mới mẻ của du lịch sinh thái ,em đã chọn đề tài: “Du lịch sinh
thái – lý luận và thực tiễn ở vườn quốc gia Tràm Chim” làm đề án cho môn
học kinh tế du lịch nhằm tìm hiểu rõ hơn về du lịch sinh thái, nhấn mạnh được
những ưu thế riêng biệt của loại hình du lịch này,một loại hình du lịch đã và
đang được chú trọng phát triển.
Em xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Hạnh đă giúp đỡ em hoàn thành đề án
cho môn học này.
1
B.NỘI DUNG
I. Định nghĩa, đặc điểm và các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái:

khái niệm của TIES về du lịch sinh thái.
Ở Việt Nam, mặc dù có nhiều nghiên cứu, nhiều hội thảo được tổ chức để
thảo luận xung quanh vấn đề trên song cho đến trước Hội thảo quốc gia về
“Xây dựng khung chiến lược cho phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” do
Tổng cục du lịch phối hợp với Tổ chúc bảo tồn thiên nhiênthế giới và Uỷ ban
kinh tế xã hội Châu Á-Thái Bình Dương tổ chúc từ mùng 7 đến mùng
9/9/1999, thì khái niệm trên còn chưa được thống nhất . Tuy nhiên tại Hội
thảo, các nhà khoa học, quản lý, kinh doanh... lần đầu tiên đã thống nhất được
khái niệm về du lịchở Việt Nam, theo đó: “Du lịch sinh thái là loại hình du
lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có
đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực
của cộng đồng địa phương”. Việc đưa ra được khái niệm DLST được xem là
một thành công quan trọng, đặt nền móng cho du lịch sinh thái Việt Nam phát
triển đúng hướng, khai thác có hiệu quả những tiềm năng du lịch to lớn của
đất nước.
Du lịch sinh thái là một phần của du lịch bền vững,cũng như du lịch thiên
nhiên. Du lịch sinh thái là một hình thức của du lịch thiên nhiên,có mối liên
quan mạnh mẽ với du lịch văn hoá và du lịch mạo hiểm. Vì du lịch sinh thái là
một phần lớn của du lịch thiên nhiên,do đó hai khái niệm này đôi khi bị nhầm
lẫn. Tuy vậy,không phải du lịch thiên nhiên nào cũng là du lịch sinh thái. Du
lịch thiên nhiên chỉ đơn thuần là đến các khu vục thiên nhiên, và động cơ chủ
yếu của du khách khi tới những nơi này là để thưởng ngoạn và chiêm ngưỡng
thiên nhiên. Du lịch thiên nhiên có thể bền vững hoặc không bền vững,và
không luôn luôn liên quan tới bảo tồn môi trường hoặc cuộc sống phồn vinh
của cộng đồng địa phương.
3
2. Các đặc điểm của hoạt động du lịch sinh thái:
Mặc dù du lịch sinh thái vẫn còn những điểm chưa được thống nhất về mặt
khái niệm, song những đặc điểm cơ bản nhất của định nghĩa về du lịch sinh
thái cũng đã được Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) tóm tắt lại như sau :

phủ và phi chính phủ, các tổ chúc tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch.
-Tính đa mục tiêu: biểu hiện ở lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh
quan lịch sử văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và
người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng giao lưu văn hoá, kinh tế
và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội.
-Tính liên vùng: biểu hiện thông qua các tuyến du lịch, với một quần thể
các điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia với
nhau.
-Tính mùa vụ: biểu hiện thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với
cường độ cao trong năm. Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch
nghỉ biển, thể thao theo mùa… (theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình du
lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí…(theo tính chất công việc của những
người hưởng thụ sản phẩm).
-Tính chi phí: biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch là để hưởng thụ các sản
phẩm du lịch chứ không phải mục đích kiếm tiền.
-Tính xã hội hoá: biểu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong xã
hội tham gia vào hoạt động du lịch.
Bên cạch các đặc trưng của ngành du lịch nói chung, du lịch sinh thái cũng
có những đặc trưng riêng, đó là:
-Tính giáo dục cao về môi trường: du lịch sinh thái hướng cho con người
tiếp cận gần với những nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và rất nhạy cảm
về mặt môi trường. Để khắc phục tính gây áp lực lớn đối với môi trường do
hoạt động du lịch gây lên, du lịch sinh thái đã được xem như là chiếc chìa
5
khoá nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi
trường.
-Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên và duy trì tính đa dạng sinh học:
bên cạnh việc có tác dụng giáo dục con người có ý thức bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên và môi trường, hoạt động du lịch sinh thái còn góp phần thúc đẩy
các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững.

- Điều kiện thứ ba : để hạn chế tác động động tiêu cực của hoạt động du
lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, du lịch sinh thái phải được tổ chức
có sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về ''sức chứa''. Khái niệm ''sức chứa''
được hiểu từ năm khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học, xã hội và tổ chức.
• Về góc độ vật lý: sức chứa ở đây được hiểu là số lượng khách du lịch
tối đa mà khu vực có thể tiếp nhận.
• Về khía cạnh sinh học: sức chứa ở đây là lượng khách tối đa mà nếu
lớn hơn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường làm xuất hiện
các tác động sinh thái do hoạt động của bản thân du khách và do tiện
nghi mà họ sử dụng gây ra.
• Về khía cạnh tâm lý, sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà
nếu vượt quá du khách cảm thấy hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự
có mặt của các du khách khác hay nói một cách khác mức độ thoả mãn
của du khách bị giảm xuống dưới mức bình thường do tình trạng quá
tải.
• Về khía cạnh xã hội, sức chứa văn hoá xã hội là giới hạn mà tại đó bắt
đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động khác du lịch đến
đời sống văn hoá - xã hội, kinh tế - xã hội của khu vực.
• Về khía cạnh tổ chức, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu
du lịch có khả năng phục vụ.
2. Những nguyên tắc chính trong phát triển du lịch sinh thái:
7
- Giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết của du khách về môi
trường tự nhiên, qua đó tạo ý thức tham gia của khách du lịch vào các nỗ lực
bảo tồn.
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái ,
tạo sự khác biệt rõ ràng giữa du lịch sinh thái với các loại hình du lịch dựa vào
tự nhiên khác.Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được
những hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc
điểm sinh thái khu vực và văn hoá bản địa. Với những hiểu biết đó , thái độ cư

công ty thì ngược lại du lịch sinh thái sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ
hoạt động của mình đóng góp cải thiện môi trường, nâng cao mức sống của
cộng đồng địa phương.
Ngoài ra , du lịch sinh thái luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia
của cộng đồng địa phương vào hoạt động của mình. Cộng đồng người dân địa
phương có thể tham gia các hoạt động dịch vụ du lịch sinh thái như làm hướng
dẫn viên, đảm nhiệm chỗ nghỉ cho khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm,
hàng lưu niệm ... Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc giảm sức ép của
cộng động sống trong và ở lân cận các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên
lên môi trường và sinh học.Vì lúc đó cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ
thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi ích của
việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển du lịch sinh thái .
Sức ép của cộng đồng đối với môi trường vốn đã tồn tại từ bao đời nay sẽ
giảm đi và chính cộng đồng địa phương sẽ là những người chủ thực sự , người
bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và văn hoá bản địa nơi diễn ra hoạt
động du lịch sinh thái.
III. Phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Tràm Chim:
1. Đôi nét về vườn quốc gia Tràm Chim:
9
Bản đồ thảm thực vật VQG Tràm Chim – 2006

Tràm Chim là địa danh đã có từ lâu chỉ về một vùng đất trũng thấp trên địa
bàn các xã Phú Thọ, Phú Đức, Phú Hiệp, Tân Công Sính, Phú Thành và thị
trấn Tràm Chim thuộc huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp.Nơi đây có nhiều
rừng tràm tự nhiên và cũng là nơi tập trung sinh sống của một số lượng lớn
chim nước, trong đó có loài Sếu đầu đỏ (một loài chim biết bay lớn nhất). Sếu
đầu đỏ ở nơi đây chiếm tới 60% số lượng Sếu đầu đỏ toàn cầu. Đến Tràm
Chim, bất chợt một thoáng như mơ như thực, du khách sẽ bắt gặp ẩn hiện
trước cảnh bao la của đất trời Đồng Tháp mênh mông đầy nước những cánh
Hạc chấp chới nhẹ nhàng như những áng mây bềnh bồng, rồi thả cánh xuống

Về địa hình:
• Nói chung là thấp trũng, nơi cao nhất là 2,3 m, nơi thấp nhất là 0,4 m
(so với mực nước biển Tây Nam Bộ).
• Những vùng đất trũng chiếm 152 ha .
• Những vùng gò cao chiếm 194 ha .
• Vùng phẳng chiếm 5858 ha.
Về khí hậu - thủy văn:
11
• Nhiệt độ :Nhiệt độ ở đây luôn cao và tương đối ít biến động, nhiệt độ
trung bình hàng năm khoảng 27độ C, nhiệt độ thấp hơn khoảng 1-2 độ
C vào cuối mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 2) và tăng lên khoảng 1-2
độ C vào các tháng cuối mùa khô, đầu mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng
6). Nhiệt độ cao nhất là 37 độ C vào tháng tư và thấp nhất là khoảng 16
độ C.
• Độ ẩm : Độ ẩm trung bình hàng năm duy trì trong khoảng 82 - 83%. Độ
ẩm cao nhất có thể lên đến 100% và thấp nhất là 35 - 40%.
• Chế độ gió : Từ tháng 5 đến tháng 11, hướng gió thịnh hành ở vùng này
là hướng Tây – Nam, tốc độ gió trung bình là 3 m/s mang theo nhiều
hơi nước và gây mưa. Từ tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông – Bắc, tốc
độ gió trung bình khoảng 2 m/s. Bão hầu như không ảnh hưởng đến
Tràm Chim và vì thế, gió với tốc độ lớn trong cơn mưa chưa từng xảy
ra.
• Lượng mưa : Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt, trung bình khoảng
1.650 mm/năm. Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, hơn 90%
lượng mưa tập trung vào khoảng thời gian này. Trong khi đó, tháng 1,
tháng 2, tháng 3 lại là những tháng khô hạn nhất, thời tiết hầu như
không có mưa. Số ngày mưa trung bình đo được tại vườn quốc gia
Tràm Chim từ 110-160 ngày/năm.
• Chế độ nước : Vừơn quốc gia Tràm Chim chịu ảnh hưởng thủy văn của
vùng châu thổ sông Mêkông, nhận nguồn nước trực tiếp từ sông

diện các thảm cỏ xen kẽ nhau ,gồm các loài: năng ống, cỏ mồm,
hoàng đầu ấn, Nhỉ cán vàng, cỏ ống, súng, Cú Muỗi, Chèo Bẻo, Húp
Mật, Vành Khuyên, Chim Sẻ, Én , Rẻ Quạt, Chích chòe .
Tràm trên đất phèn ở VQG Tràm Chim
Đồng cỏ năng: chiếm diện tích khoảng 2.968 ha, tạo thành một
trong những thảm cỏ rộng lớn; bao gồm đồng cỏ năng kim - đây là
bãi ăn của loài chim Sếu, khoảng 235 ha; năng ống với 1.277 ha, và
hợp với các loài khác tạo thành các quần xã thực vật: năng kim –
năng ống. Ở vài nơi có sự xuất hiện của hoàng đầu ấn; năng kim - cỏ
ống; năng ống - cỏ ống, khoảng 937 ha; năng ống - cỏ ống – lúa ma,
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status